Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước mặt năm trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng được biên soạn hàng năm để cung cấp các thông tin về dự báo tổng lượng nước nội sinh tại các vùng dự báo nhằm phục vụ các mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định pháp luật.
Lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với tổng diện tích lưu vực là 10.847 km2. Nội dung chính của Bản tin năm bao gồm dự báo tổng lượng nước nội sinh và cảnh báo nguy cơ thiếu nước trên lưu vực sông trong phạm vi 14 vùng dự báo: Lưu vực sông Rẻ Rào, lưu vực sông Bắc Vọng, dòng chính sông Hiến, lưu vực sông Minh Khai, dòng chính Bằng Giang đoạn 1, dòng chính Bằng Giang đoạn 2, dòng chính Bằng Giang đoạn 3, lưu vực sông Bắc Khê, lưu vực sông Bắc Giang, lưu vực sông Mo Pia, dòng chính sông Kỳ Cùng đoạn 1, dòng chính sông Kỳ Cùng đoạn 2, dòng chính sông Kỳ Cùng đoạn 3 và dòng chính sông Kỳ Cùng đoạn 4.
1. Dự báo nguồn nước mặt
Lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng hiện nay thuộc 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với tổng diện tích là 10.847 km2. Lưu vực sông được chia thành 14 vùng dự báo.
Căn cứ theo số liệu dự báo mưa từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia kết hợp với dữ liệu vệ tinh. Chúng tôi đã tiến hành tính toán, dự báo tổng lượng nước nội sinh đến 14 vùng thuộc lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng đạt kết quả 7,2 tỷ m3.
Dự báo tổng lượng nước nội sinh tại các vùng dự báo
2. Nhận định xu thế diễn biến nguồn nước
Năm 2026 trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng tổng lượng nước mặt dự báo xấp xỉ 7,3 tỷ m3, thấp hơn 9,7% so với trung bình nhiều năm. Cụ thể tại các vùng dự báo như sau:
Vùng Lưu vực sông Rẻ Rào: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 59,2% so với năm trước và thấp hơn khoảng 30,7% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Bắc Vọng: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 59,2% so với năm trước và thấp hơn khoảng 17% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Hiến: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 60,4% so với năm trước và thấp hơn khoảng 37,4% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Minh Khai: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 55,1% so với năm trước và thấp hơn khoảng 36,6% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Bằng Giang đoạn 1: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 55,9% so với năm trước và thấp hơn khoảng 12,2% so với TBNN. Vùng Lưu vực sông Bằng Giang đoạn 2: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 54,5% so với năm trước và thấp hơn khoảng 13,4% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Bằng Giang đoạn 3: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 60,6% so với năm trước và thấp hơn khoảng 28,3% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Bắc Khê: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 51,5% so với năm trước và cao hơn khoảng 8,1% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Bắc Giang: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 54,7% so với năm trước và cao hơn khoảng 3,1% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Mo Pia: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 29,7% so với năm trước và thấp hơn khoảng 7,3% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Kỳ Cùng đoạn 1: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 53% so với năm trước và cao hơn khoảng 2,1% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Kỳ Cùng đoạn 2: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 43,3% so với năm trước và cao hơn khoảng 1,7% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Kỳ Cùng đoạn 3: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 7,3% so với năm trước và cao hơn khoảng 21,1% so với TBNN.
Vùng Lưu vực sông Kỳ Cùng đoạn 4: Trong năm 2026 có xu thế thấp hơn khoảng 48,6% so với năm trước và cao hơn khoảng 11,4% so với TBNN.
3. Cảnh báo nguy cơ thiếu nước
Theo kết quả dự báo năm 2026, trên lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng ở trạng thái bình thường, không xảy ra hiện tượng thiếu nước tại các tiểu vùng.
4. Đề xuất, kiến nghị
Trong năm 2026 tổng lượng nước mặt nội sinh dự báo trên phạm vi các tiểu lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng có xu hướng giảm với kết quả dự báo báo 7,2 tỷ m3, thấp hơn 9,7% so với trung bình nhiều năm. Căn cứ trên nhu cầu tháng trong năm của các tiểu vùng và đối chiếu kết quả dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng có thể thấy rằng, trong năm 2026 toàn bộ các tiểu lưu vực không bị thiếu nước. Tại các tiểu lưu vực này, việc xác định tỷ lệ phân bổ nguồn nước cho các đối tượng sử dụng nước trong phải tuân thủ theo Điều 21, Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.