Bản tin dự báo, cảnh báo nguồn nước dưới đất năm thành phố Hồ Chí Minh được biên soạn 01 năm một lần vào đầu năm dự báo để cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.
TP. Hồ Chí Minh phần lớn thuộc lưu vực sông Đồng Nai có diện tích tự nhiên khoảng 6.772,6 km2. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
1. Hiện trạng mực nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 so với tháng 11 giá trị dâng cao nhất là 0,13m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808010). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,72m tại xã Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh (Q822010) và sâu nhất là -8,48m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808010).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 giá trị hạ thấp nhất là 0,48m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011020) và giá trị dâng cao nhất là 0,37m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808020). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,07m tại xã Nhuận Đức, TP. Hồ Chí Minh (Q09902B) và sâu nhất là -7,77m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808020).
Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 12 năm 2025 tầng qp3
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 giá trị hạ thấp nhất là 0,73m tại xã Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh (Q822030M1) và giá trị dâng cao nhất là 0,34m tại Phường Đông Hưng Thuận, TP. Hồ Chí Minh (Q019340). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,5m tại xã Bình Mỹ, TP. Hồ Chí Minh (Q00202B) và sâu nhất là -16,34m tại Phường Đông Hưng Thuận, TP. Hồ Chí Minh (Q019340).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 có xu thế dâng. Giá trị dâng cao nhất là 0,13m tại xã Bình Mỹ, TP. Hồ Chí Minh (Q00204A) và giá trị hạ thấp nhất là 0,21m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,52m tại xã Bình Mỹ, TP. Hồ Chí Minh (Q00204A) và sâu nhất là -13,7m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605040).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 1,02m tại xã Phước Hòa, TP. Hồ Chí Minh (Q22504Z) và giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,77m tại xã Tân An Hội, TP. Hồ Chí Minh (Q80404T) và sâu nhất là -18,5m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011040)
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n21): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 giá trị dâng cao nhất là 0,21m tại xã Tân An Hội, TP. Hồ Chí Minh (Q80404ZM1) và giá trị hạ thấp nhất là 0,11m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605060). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -8,32m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605060) và sâu nhất là -11,02m tại xã Tân An Hội, TP. Hồ Chí Minh (Q80404ZM1).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 so với tháng 11 giá trị hạ thấp nhất là 0,16m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605070). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -10,25m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605070) và sâu nhất là -19,92m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808050M1).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trước Kainozoi (ps-ms): Trong phạm vi tỉnh, theo kết quả quan trắc tại công trình Q225060 thuộc xã Phước Hòa, TP. Hồ Chí Minh mực nước trung bình tháng 12 hạ 0,85m so với tháng 11.
2. Dự báo nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,2 đến 0,5m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n21): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trước Kainozoi (ps-ms): Trong tháng 1 năm 2026 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.
3. Cảnh báo tài nguyên nước dưới đất
Theo khoản 2, Điều 24 của Nghị định số 131/2025/NĐ-CP về giới hạn mực nước khai thác nước dưới đất, trong thành phố thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo.
4. Đề xuất, kiến nghị
Hiện tại, trên phạm vi thành phố Hồ Chí Minh chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, tuy nhiên để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên địa bàn thành phố và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Nhìn chung chất lượng nước tại các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh trong mùa mưa năm 2025 đa số tốt, tuy nhiên có một số công trình có hàm lượng TDS, Mn và NH4 + vượt GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT