Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung: 10 năm nhìn lại

Với lịch sử gần 40 năm hình thành và phát triển, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung đã đóng góp một phần công sức của mình vào quá trình xây dựng và phát triển của đất nước. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới quý vị và các bạn những thành tựu mà Liên đoàn đạt được trong giai đoạn 10 năm vừa qua (2002 – 2012)

Trong giai đoạn (2002-2012) Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung đã thực hiện 10 đề án hoàn thành, chất lượng báo cáo được đánh giá xếp loại khá, cụ thể như sau:

1. Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

– Các nhiệm vụ điều tra thành lập bản đồ ĐCTV, bản đồ ĐCCT, gồm: Lập bản đồ địa chất thuỷ văn, địa chất công trình tỉ lệ 1/50.000 vùng Duy Xuyên – Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với diện tích 1700 km2, vùng Đức Trọng – Di Linh, tỉnh Lâm Đồng với diện tích 1462 km2, vùng Sông Cầu- Tuy An, tỉnh Phú Yên với diện tích 1180 km2. Kết quả điều tra của các đề án đã làm sáng tỏ đặc điểm ĐCTV, đã xác định được các tầng chứa nước trung bình đến giàu, các tầng chứa nước yếu và không chứa nước, các vùng nước bị nhiễm mặn, nhiễm bẩn. Đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng của vùng Đức Trọng – Di Linh đạt 1.721.594 m3/ng, vùng Duy Xuyên – Tam Kỳ đạt 673.633 m3/ng và vùng Sông Cầu – Tuy An đạt 379.972 m3/ng; Làm sáng tỏ điều kiện ĐCCT, các quá trình địa chất động lực công trình, chỉ ra những vùng thuận lợi và không thuận lợi cho quy hoạch xây dựng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.

– Báo cáo kết quả Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên (pha III) đã thi công 4.237,5m/59 lỗ khoan, đạt lưu lượng khai thác và lắp máy bơm là 37 lỗ khoan với trữ lượng 8.193m3/ng, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho 140.000 dân theo tiêu chuẩn 60 lít/ngày/người. Kết quả điều tra đã phát hiện và khẳng định thêm nhiều đối tượng có khả năng chứa nước tương đối giàu đến giàu như trầm tích Neogen hệ tầng Kon Tum hoặc trầm tích Jura hệ tầng Bản Đôn.

– Dự án điều tra, đánh giá nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên, đã tiến hành thi công 117 lỗ khoan trong đó có 104 lỗ khoan đạt yêu cầu lưu lượng khai thác mà mục tiêu đã đề ra (đạt 88,9%), với tổng trữ lượng khai thác tại các lỗ khoan đạt 17.905 m3/ng, cung cấp cho khoảng 304.500 người dân.

– Các đề án Điều tra nguồn nước dưới đất vùng ven biển Mộ Đức – Quảng Ngãi với diện tích 225 km2, và vùng Buôn Đôn – Đắk Lắk với diện tích 486 km2. Kết quả điều tra đã làm sáng tỏ cấu trúc địa chất của các vùng về đặc điểm của địa tầng, xác định các tầng chứa nước khe nứt, lỗ hổng, đánh giá tiềm năng nước dưới đất, khoanh định các vùng đất đá có mức độ chứa nước khác nhau. Trữ lượng khai thác tiềm năng vùng Buôn Đôn- Đăk Lăk đạt 635.797m3/ng, vùng Mộ Đức- Quảng Ngãi đạt 143.041 m3/ng.

– Kết quả điều tra tai biến địa chất Tây Nguyên: Đã thành lập được bản đồ tai biến địa chất tỉ lệ 1/500.000 cho toàn vùng Tây nguyên và bản đồ tai biến địa chất tỉ lệ 1/50.000 các khu vực ĐăK Glei, Kom Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột và Thị trấn Gia Nghĩa. Trên các bản đồ đã thể hiện các điểm, các vùng đã và đang xảy ra TBĐC và phân vùng dự báo các loại tai biến; xác định các nguyên nhân tác động hình thành các loại tai biến địa chất. Vùng Tây Nguyên có nhiều công trình quan trọng của Quốc gia, do đó với việc đề xuất các biện pháp phòng tránh dựa trên những nhận định về tai biến địa chất đúng đắn, các tài liệu định lượng có cơ sở tin cậy đã giúp các cơ quan hữu quan và chính quyền địa phương lập ra được các quy hoạch hợp lí.

– Kết qua Điều tra tai biến địa chất ven biển Nam Trung Bộ (từ Khánh Hòa đến Bình Thuận) đã thành lập các bản đồ tai biến địa chất tỉ lệ 1/200.000 toàn vùng, bản đồ tai biến địa chất tie lệ 1/50.000 các vùng trọng điểm thị xã, thị trấn; khoanh định được 15 dạng tai biến địa chất và các dị thường về môi trường địa chất đã xảy ra, có nguy cơ xảy ra hoặc tồn tại trong vùng ven biển Nam Trung Bộ. Đã nêu được các đặc điểm địa chất thủy văn cũng như hiện trạng, nguyên nhân xâm nhập mặn và ô nhiễm môi trường nước của vùng nghiên cứu. Qua đó đã đề xuất các biện pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai nhằm ngăn chặn kịp thời tác động của các dạng tai biến địa chất đến đời sông dân sinh.

– Kết quả Quan trắc quốc gia động thái nước dưới đất vùng Tây Nguyên: đã xác định mối quan hệ thủy lực về điều kiện hình thành nước dưới đất và những vấn đề ảnh hưởng đến động thái nước dưới đất, làm sáng tỏ quy luật của chúng theo không gian, thời gian. Định kì hàng quý đã tính toán dự báo, cảnh báo mực nước dưới đất thông báo đến 5 tỉnh Tây Nguyên giúp cho các địa phương bảo vệ và khai thác tài nguyên nước hợp lí, bền vững, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.

– Đã triển khai thực hiện 2 đề tài khoa học cấp Bộ: đề tài “Nghiên cứu triển khai ứng dụng các phần mềm mô hình ĐCTV để đánh giá nguy cơ ô nhiễm môi trường”, kết quả đã ứng dụng phần mềm MODFLOW trong xây dựng mô hình dòng ngầm và đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Đề tài “Nghiên cứu áp dụng phương pháp ảnh điện (TOMOGRAPHY) trong tìm kiếm nguồn nước dưới đất và điều tra ĐCCT, ĐCMT, ứng dụng trên vùng bazan” Kết quả ứng dụng phần mền RES2DINV cho phép tạo ra các mặt cắt dạng ảnh, có tính trực quan cao, giúp cho việc luận giải bản chất địa chất của các đới dị thường nhanh chóng, chính xác. Thực tế đề tài được ứng dụng vào sản xuất và được kiểm chứng qua kết quả khoan điều tra nguồn NDĐ đạt hiệu quả cao.

– Kết quả thực hiện đề án Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất thuộc khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ, Liên đoàn được giao và hoàn thành với khối lượng là 32 LK/2.750m. Kết quả của công tác đã hoàn thành toàn diện khối lượng, hầu hết các lỗ khoan đều đạt lưu lượng khai thác, đáp ứng tốt cho việc lắp đặt máy bơm khai thác, phục vụ nhu cầu cấp nước của nhân dân địa phương.

Kết quả điều tra tài nguyên nước trên địa bàn miền Trung đã góp phần quan trọng, là cơ sở khoa học giúp các địa phương quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lí, bền vững.

2. Thu nhập và đời sống

Năm năm qua tổng giá trị sản xuất 2 phần kế hoạch đạt trên 287 tỉ 664 triệu, trong đó giá trị của sản xuất dịch vụ tài nguyên nước và sản xuất khác đạt 155 tỉ 849 triệu đồng chiếm tỉ trọng là 54,17% . Thu nhập bình quân từ 2 triệu/người/tháng năm 2002 đã tăng lên 6.917.155 đ/người/tháng năm 2011. Sản xuất dịch vụ ngoài ý nghĩa kinh tế là ổn định nâng cao thu nhập cho cán bộ CNV còn mang ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc giúp giải quyết khó khăn về nước sinh hoạt cho các đồn biên phòng dọc tuyến biên giới Việt Nam – Cam Puchia; cung cấp nước cho các đơn vị doanh trại quân đội, bệnh viện, trường học, … được địa phương đánh giá cao.

3. Khen thưởng

Trong 10 năm qua Liên đoàn luôn là đơn vị được cấp trên công nhận là tập thể lao động xuất sắc, trong đó có nhiều phần thưởng cao quý: Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2008; được tặng Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ năm 2010; Cờ thi đua của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010; Cờ thi đua của Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà năm 2011 và nhiều bằng khen của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho tập thể và các cá nhân.

 vv118

vv119

 

 

 

(CWRPI)