Nước về vùng khát

tt941Hạn hán liên tục xảy ra ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận khiến cho 332.280 người trong tổng số 1,73 triệu dân nơi đây, nhất là đồng bào ở các vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển luôn phải đối mặt với nạn thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Để tự cứu mình, bà con phải tăng cường khai thác nước dưới đất (NDĐ). Việc khoan đào tìm nước một cách tự phát và ào ạt đã khiến cho nguồn nước bị cạn kiệt, nhiễm bẩn, nhiễm mặn không sử dụng được. Nhiều nơi mực nước sâu, dao động mạnh theo mùa, các giếng đào thường xuyên bị cạn, có khi không gặp nước, phải khoan sâu rất tốn kém, trở thành gánh nặng của chính quyền 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Việc cấp nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt của bà con các dân tộc nơi đây trở nên vô cùng bức thiết. Và Liên đoàn Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước (QH &ĐT TNN) miền Trung thuộc Trung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước đã chính thức vào cuộc, thực hiện đề án “ Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận” do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định.   

           Gian nan tìm nguồn nước
      Ông Nguyễn Lưu, Liên đoàn Trưởng Liên đoàn QH & ĐT TNN miền Trung cho biết: Quá trình làm việc với Sở TN&MT các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, anh em đã nắm bắt các yêu cầu thực tế, tổng hợp, đánh giá tài liệu địa chất, địa chất thủy văn hiện có trong 85 vùng (Ninh Thuận 45 vùng, Bình Thuận 40 vùng) để điều tra, đánh giá nguồn NDĐ. Trên cơ sở khảo sát thực địa, họ đã tìm ra 21 vùng đặc biệt khan hiếm nước sinh hoạt (nhưng có tiền đề địa chất thủy văn tương đối thuận lợi) để ưu tiên làm trước nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho bà con trong giai đoạn năm 2007 – 2009. Các vùng còn lại sẽ tiếp tục điều tra, đánh giá trong các giai đoạn tiếp theo.
 Khó khăn lớn nhất mà anh em phải đối mặt là hầu hết các vùng mà tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận yêu cầu tìm kiếm nguồn nước dưới đất đều rất nan giải, nhất là vào mùa khô, nước mặt hầu như không có, nước dưới đất bị nhiễm mặn, hoặc bề dày tầng chứa nước thứ nhất trên mặt rất mỏng và nghèo nước. Anh em phải trèo đèo, lội suối, chịu đựng cái nắng lửa, mưa dầm và khí hậu khắc nghiệt của miền Trung để tìm nguồn nước trong đới nứt nẻ của đứt gãy kiến tạo đá cứng, áp dụng các phương pháp kết hợp: địa vật lí, địa mạo, thảm thực vật để xác định vị trí lỗ khoan. Tuy là vùng khan hiếm nước, nhưng khi xác định được vị trí lỗ khoan có triển vọng về nước lại gặp khó trong việc xin đất; bởi nhiều vị trí lỗ khoan nằm trên đất riêng của dân, nếu chính quyền địa phương không nhiệt tình ủng hộ, thuyết phục bà con, anh em không cố gắng thì dễ gì có thể thi công. Đường điện dẫn đến máy bơm tại lỗ khoan lại xa khu dân cư làm cho chi phí đội lên nhiều so với giá trị được duyệt. Anh em đã áp dụng giải pháp thi công hợp lý như khảo sát, căn cứ vào đặc điểm địa mạo, thảm thực vật và đo địa vật lý theo điểm, xác định các điểm có triển vọng ở mức độ khác nhau, sau đó ưu tiên điểm đặt vị trí khoan. Trong công tác khai dẫn, lắp máy bơm tại các lỗ khoan đạt lưu lượng cấp nước thì cân đối độ xa, gần của đường dẫn điện để bù trừ cho nhau, sao cho kinh phí không vượt dự toán mà vẫn đảm bảo chất lượng, hiệu quả các công trình khai thác nước.
    79.500 người dân vùng khát đã được dùng nước sạch
   Từ giữa năm 2007 đến tháng 10/2011, Liên đoàn đã thi công 19 vùng với 69 lỗ khoan (LK) so với 21 vùng điều tra gồm 80 lỗ khoan đã được phê duyệt tại tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Riêng 9 tháng năm 2011 đã thi công 4 vùng với 16 lỗ khoan. Trong số 69 lỗ khoan đã khoan ở 19 vùng điều tra, có 41 lỗ khoan đạt tổng lưu lượng nước 198,73 m3/giờ (tương đương 4769,45 m3/ngày) có thể cung cấp nước sạch cho 79.500 người dân nông thôn với mức trung bình 60 lít/ngày/người. Tại tỉnh Ninh Thuận, vùng Ma Nới huyện Ninh Sơn lưu lượng nước đạt 77,33 m3/giờ, vùng Phước Trung huyện Bắc Ái đạt 3,59 m3/giờ; vùng Hòa Sơn huyện Ninh Sơn đạt 8,64 m3/giờ; vùng Vĩnh Tân huyện Tuy Phong đạt 12,24 m3/giờ; vùng Phước Kháng huyện Bắc Ái đạt 4,86 m3/giờ; vùng Phước Vinh huyện Ninh Phước đạt 3,1 m3/giờ… Tại tỉnh Bình Thuận, vùng Sông Phan huyện Hàm Tân đạt 3,85 m3/giờ, vùng Tân Nghĩa đạt 17,39 m3/giờ; vùng Sông Bình huyện Bắc Bình đạt 10,98 m3/giờ; vùng Tân Hà huyện Đức Linh, đạt 5,14 m3/giờ; Vùng Mỹ Thạnh huyện Hàm Thuận Nam đạt 14,36 m3/giờ…    
Tại 41 lỗ khoan có trữ lượng và chất lượng cao về nước, anh em đã khai dẫn lắp đặt máy bơm ở 35 vị trí để khai thác nước phục vụ cho 79.500 người tại các vùng đặc biệt thiếu nước, góp phần thay đổi diện mạo và cuộc sống người dân ở nhiều miền sơn cước xa xôi thuộc tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận; xác định được trữ lượng tiềm năng của nước dưới đất trong các đới phá hủy kiến tạo của đá cứng, mở ra triển vọng cho công tác quy hoạch điều tra nguồn nước dưới đất tại vùng đất Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
 
 
(Theo Monre.gov.vn)