Nước và An ninh lương thực: Vấn đề toàn cầu và Việt Nam

vv44”Tôi thấy mối liên quan giữa khủng hoảng nước và tương lai nghèo đói toàn cầu, nhưng tôi chưa thấy mối quan tâm chung nào về điều này. Cuối cùng, sau 25 năm cắt giảm đầu tư cho phát triển nông nghiệp, chúng ta nghe nói đến an ninh lương thực; chúng ta thấy cần thiết phải tăng đầu tư cho nông nghiệp. Nhưng tôi không thấy ai nói tới bảo đảm nước cho lương thực”. Đó là những gì mà ông Jeff Rikes, giám đốc Bill và Melinda Gates Foundation đã ghi trong sổ ghi chép của mình tại Hội nghị về Nước cho Lương thực.
Rõ ràng rằng nước đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp để tạo ra lương thực cho con người. Thiếu nước sẽ dẫn đến giảm năng suất cây trồng, gây ra thiếu hụt lương thực và mất an ninh lương thực.
Đôi nét về nghèo đói và an ninh lương thực trên Thế giới
Tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO) khuyến cáo, trong tương lai sản xuất lương thực sẽ cần phải tăng 75% mới có thể cung cấp đủ lương thực cho 9 tỷ người vào năm 2050. Theo số liệu do Liên hợp quốc công bố ngày 16-10-2010 trên thế giới có khoảng 1 tỉ người thiếu ăn. Còn theo các báo cáo của FAO, khu vực có số người đói nhiều nhất là châu Á – Thái Bình dương với 578 triệu người. Tỷ lệ người đói cao nhất ở khu vực tiểu vùng Sa-ha-ra châu Phi, chiếm 30% trong năm 2010 (239 triệu). Trong số 925 triệu người bị đói trên toàn cầu có tới  2/3 tập trung ở 7 quốc gia là Băng-la-đét, Trung Quốc, Công-gô, Ê-thi-ô-pi-a, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a và Pa-ki-xtan.
Cũng theo đánh giá của FAO, giá lương thực leo thang là thủ phạm gây nên nhiều cuộc khủng hoảng chính trị trên thế giới. FAO cảnh báo rằng, sự tăng đột biến giá cả có thể là một mối đe dọa chính trị đối với an ninh lương thực cho người nghèo ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Theo cảnh báo đầu tháng 1-2011, đã bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng lương thực trên quy mô toàn cầu giống như năm 2008. Hiện nay có khoảng 80 quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Những khu vực bị đe dọa nhiều nhất là Bắc và Trung Phi, tiếp đó là châu Á như: Ap-ga-ni-xtan, Mông Cổ, Triều Tiên.
Nước và tác động của nó đến an ninh lương thực
Trong tổng số khối lượng nước được khai thác sử dụng trên toàn thế giới hiện nay là 3.800 tỷ m3, thì việc tưới tiêu nước trong nông nghiệp sử dụng 70% (2.700 tỷ m3). Gần 95% lượng nước tại các nước đang phát triển được sử dụng để tưới tiêu cho đất nông nghiệp. Tuy nhiên cho đến nay, nguồn nước ngầm đã giảm mạnh và cạn kiệt ở 20 nước với dân số chiếm tới 50% dân số thế giới. Nạn khan hiếm nước cho nông nghiệp ở 3 nước sản xuất ngũ cốc hàng đầu thế giới là Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ đặc biệt đáng lo ngại. Cùng với đó nhu cầu lương thực dự kiến tăng gấp đôi cùng với tác động của biến đổi khí hậu đối với phân bố nước hiện có về mặt địa lý sẽ làm tăng đáng kể nhu cầu về nước và khủng hoảng nước tiềm tàng.
Liên Hợp Quốc khẳng định châu Á có thể đối mặt với tình trạng thiếu lương thực triền miên nếu không tiến hành một cuộc cách mạng triệt để trong thói quen sử dụng nước. Châu Á sở hữu tới 70% diện tích đất được tưới tiêu của thế giới. Hàng trăm triệu nông dân phải tự chịu trách nhiệm về việc đưa nước vào đồng ruộng của họ. Phần lớn nông dân chỉ sử dụng những thiết bị bơm nước lạc hậu và không hiệu quả. Tuy nhiên, họ lại có thể lấy một lượng nước không hạn chế vào ruộng khiến các nguồn nước nhanh chóng cạn kiệt. Nếu thói quen này vẫn tiếp diễn, khủng hoảng lương thực sẽ bùng phát trên khắp châu Á. Nếu cứ sử dụng nước như hiện nay, khu vực Nam Á sẽ cần thêm 57% nước để tưới tiêu đồng ruộng, trong khi các nước Đông Á cần thêm 70%. Trong bối cảnh cả đất và nước ngày càng trở nên quý giá như hiện nay, một kịch bản như thế chẳng bền vững chút nào. Và khi người dân đói, xã hội sẽ trở nên bất ổn.
Tài nguyên nước ở Việt nam và bài học về an ninh lương thực
Việt Nam có 2.378 con sông trong đó có 9 hệ thống có diện tích lưu vực lớn hơn 10.000 km2 và 15 lưu vực có diện tích lớn hơn 2.500 km2. Diện tích của các lưu vực sông chiếm 80% diện tích của cả nước. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.960mm với tổng lượng dòng chảy hàng năm của tất cả các con sông vào khoảng từ 840-850 tỷ m3 trong đó khoảng 300 tỷ m3 (chiếm 40%) trong lãnh thổ và khoảng 500-510 tỷ m3 là nước từ ngoài lãnh thổ. Sông Mê kông có  tổng lượng dòng chảy chiếm 59% tổng dòng chảy cả nước, tiếp theo là sông Hồng chiếm 14.9%.
Theo GS.TS Ngô Đình Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Viện Tài nguyên Nước & Môi trường Đông Á, lượng nước mặt bình quân tính theo đầu người ở Việt Nam năm 2010 chỉ còn 3.850 m3/năm. Con số này đã đưa Việt Nam (VN) vào nhóm quốc gia thiếu nước với ngưỡng từ 4.000 m3/người/năm trở xuống (ngưỡng do Hội Tài nguyên Nước Quốc tế (IWRA) quy định). Theo PGS.TS Bùi Công Quang, Trường Đại học Thủy lợi, với dân số và mức độ phát triển hiện tại, theo tiêu chuẩn trên, lưu vực sông Đồng Nai và các lưu vực sông ở Đông Nam Bộ đang đối mặt nguy cơ thiếu nước không thường xuyên và cục bộ, trong khi các sông Hồng, Mã và sông Côn đang tiệm cận mức độ thiếu nước này. Theo tiêu chuẩn quốc tế về “căng thẳng do khai thác nguồn nước”, vào mùa khô mấy năm gần đây, sáu trong số 16 lưu vực sông cả nước ta được xếp loại là “căng thẳng trung bình”, bốn lưu vực khác được xếp loại “căng thẳng mức độ cao” trong đó có sông Mã (Thanh Hóa), sông Hương (Thừa Thiên Huế) và sông Đồng Nai (Đông Nam Bộ). Trên hầu hết các lưu vực sông ở Đông Nam Bộ, hơn 75% lượng nước mùa khô bị khai thác. Tại lưu vực sông Mã, tỷ lệ nước khai thác lên đến gần 80%. “Các tỷ lệ trên cho thấy các hoạt động khai thác nước quá mức đã và sẽ tạo nên mức độ rất không bền vững cho các lưu vực”, PGS.TS Bùi Công Quang nhận định.
Về vấn đề an ninh lương thực, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khoảng 130 triệu người vào năm 2035 phải cần tới 36 triệu tấn thóc. Và để đạt được sản lượng này, Việt Nam cần phải duy trì tối thiểu 3 triệu héc ta đất chuyên trồng lúa hai vụ để có 6 triệu héc ta đất gieo trồng. Tuy nhiên, có thể thấy trong hai thập niên vừa qua, quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp diễn ra mạnh mẽ đã khiến đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể. Theo thống kê, diện tích đất canh tác lúa của cả nước đến cuối năm 2007 chỉ còn 4,1 triệu héc ta, giảm 362.000 héc ta so với năm 2005. Dự báo, từ nay đến năm 2025, nước ta có thể phải lấy 10-15% diện tích đất nông nghiệp và các loại đất khác để phát triển công nghiệp. Theo đó, diện tích lúa đến năm 2010 còn khoảng 4 triệu héc ta, năm 2015 khoảng 3,8 triệu héc ta, đến năm 2020 chỉ còn khoảng 3,6 triệu héc ta và giữ ổn định sau năm 2020 là 3,5 triệu héc ta, trong đó diện tích chuyên trồng lúa nước là 3,1 triệu héc ta. Bài học từ Philippines cho thấy, để đổi lấy các khu công nghiệp, nước này đã mất rất nhiều cánh đồng lúa phì nhiêu và mỗi năm phải nhập 1,5 triệu tấn lương thực. Hơn nữa,Việt Nam sẽ là một trong năm nước bị ảnh hưởng nặng nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu.  Với kịch bản nước biển dâng 1 mét, đồng bằng sông Hồng sẽ mất 5.000 ki lô mét vuông đất, ĐBSCL bị ngập 15.000-20.000 km2. Tổng sản lượng lương thực nước ta theo đó có thể giảm khoảng 5 triệu tấn.
Trước tình hình Việt nam sẽ sớm phải đương đầu với các khó khăn về nước cũng như là bị thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp và có thể dẫn đến mất an ninh về lương thực, ngành nông nghiệp Việt Nam đã tập trung nhiều nguồn lực khác nhau, cả trong nước và các hỗ trợ quốc tế, để cải tạo và nâng cấp các hệ thống thủy lợi trên toàn quốc, đặc biệt là các vùng sản xuất lương thực lớn nhằm đảm bảo sự dụng nước cho tưới tiêu tiết kiệm và hiệu quả. Hơn nữa, ngành cũng đã cố gắng tiếp thu và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trên lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng vật nuôi, tăng nhanh sản lượng lương thực, giảm tổn thất khi thu hoạch, bảo quản sản phẩm, chế biến gạo với chất lượng cao. Tính đến nay, Việt Nam không chỉ tự cân đối đủ lương thực mà còn dư thừa để xuất khẩu khoảng 5 triệu tấn gạo mỗi năm. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tiến tới đứng hàng thứ hai trên Thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Năm 2010, Việt Nam đạt 6,9 triệu tấn, giữ vị trí thứ hai sau Thái Lan với tổng sản lượng gạo xuất khẩu đạt 9,03 triệu tấn.
Mặc dù đã là nước xuất khẩu gạo, an ninh lương thực vẫn được coi là mục tiêu hàng đầu ở Việt Nam.  Chính phủ Việt nam đã ban hành nghị quyết về An Ninh Lương Thực Quốc Gia vào ngày 23-12-2009. Nghị quyết khẳng định: “Đến năm 2020, bảo vệ đất lúa 3,8 triệu héc ta để có sản lượng 41-43 triệu tấn, tăng diện tích trồng ngô lên 1,3 triệu héc ta, sản lượng 7,5 triệu tấn; diện tích cây ăn quả 1,2 triệu héc ta, sản lượng 12 triệu tấn; rau các loại 1,2 triệu héc ta, sản lượng 20 triệu tấn; sản lượng thịt hơi 8 triệu tấn, sữa tươi 1 triệu tấn, trứng gia cầm 14 tỉ quả, 2,4 triệu tấn thủy sản khai thác và 4 triệu tấn thủy sản nuôi trồng”. Hơn nữa các bộ ngành trong chính phủ đã được phân công trách nhiệm rõ ràng để triển khai các hoạt động đảm bảo an ninh lương quốc gia như sau:
1- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên – Môi trường phối hợp lập quy hoạch chi tiết quỹ đất lúa trình Thủ tướng phê duyệt vào quý 2-2010.
2- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng nghị định về chính sách quản lý đất lúa trình Chính phủ quý 2-2010.
3- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các bộ ngành liên quan triển khai chương trình đào tạo nghề cho nông dân.
4- Bộ Tài chính xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ lúa gạo trong trường hợp giá lúa xuống thấp dưới giá thành trình Chính phủ quý 1-2010.
5- Bộ Tài chính đề xuất lượng lúa gạo dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông đề phòng thiên tai và bình ổn thị trường, đồng thời xây dựng đề án bảo hiểm nông nghiệp trình Chính phủ quý 1-2010.
6- Bộ Công Thương xây dựng cơ chế điều hành xuất khẩu gạo.


Tác giả bài viết: Th.S. Phạm Thị Thanh Hoa (Viện KH Thủy lợi) và Th.S Nguyễn Đức Vinh (ĐSQ Thụy Điển)