Những nguy cơ gây suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước dưới đất

Ngoài đặc tính địa chất vùng chứa nước dưới đất, hiện nay các nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm chất lượng nước dưới đất của nước ta là do thẩm thấu và rò rỉ nước bề mặt đã bị ô nhiễm, do thay đổi mục đích sử dụng đất và khai thác nước bất hợp lý. Ngoài ra còn do hiện tượng biến đổi khí hậu làm nước biển dâng cao dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước ngọt ven biển. 
Theo nhận xét của PGS.TS. Lê Kế Sơn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường: Nước dưới đất là một hợp phần quan trọng của tài nguyên nước, là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp. Hiện trữ lượng nước dưới đất của nước ta cung cấp từ 35 – 50% tổng lượng nước cấp sinh hoạt cho các đô thị trên toàn quốc. 
Nguồn nước dưới đất của Việt Nam khá phong phú nhờ mưa nhiều và phân bố rộng rãi khắp nơi, tập trung vào một số tầng chứa nước chính. Trong đó 80% lượng nước dưới đất được khai thác từ các trầm tích thời kỳ Đệ Tứ, tập trung ở các đồng bằng lớn trong cả nước. Tiếp đến là các thành tạo đá cacbonnat phân bố ở Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và một số vùng khác; các lớp phong hóa tạo bazan trẻ tập trung ở vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ… 
Hiện tổng trữ lượng khai thác nước dưới đất trên toàn quốc đạt gần 20 triệu m3, tổng công suất của hơn 300 nhà máy khai thác nguồn nước này vào khoảng 1,47 triệu m3/ngày. Nhưng trên thực tế các nhà máy chỉ khai thác được 60 – 70% so với công suất thiết kế. Vấn đề đáng báo động là nguồn nước dưới đất của Việt Nam đã và đang đối mặt với vấn đề xâm nhập mặn trên diện rộng, ô nhiễm vi sinh và ô nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng, do khoan nước dưới đất thiếu quy hoạch và không có kế hoạch bảo vệ nguồn nước. 
Tại các vùng biển từ Bắc đến Nam, hiện tượng xâm nhập mặn khá phổ biến. Nguyên nhân chính yếu là do chế độ khai thác không hợp lý, lượng nước dưới đất khai thác vượt khả năng cung cấp làm cho nước mặn xâm nhập vào phá hỏng tầng chứa nước ngọt. Vùng ven rìa và phía Nam đồng bằng Bắc Bộ cũng như toàn dải đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nơi độ mặn của nước dưới đất không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng cho ăn uống. 
Mặt khác, hoạt động phát triển các ngành cũng thải ra một lượng lớn các chất ô nhiễm theo nước mặt ngấm vào các tầng nước, gây ô nhiễm các tầng chứa nước ngầm. Nhiều nơi đã phát hiện dấu hiệu ô nhiễm Coliform vượt quy chuẩn cho phép từ hàng trăm đến hàng nghìn lần.
Trong nước dưới đất ở nhiều khu vực cũng đã thấy dấu hiệu ô nhiễm phốt phát (P-PO4), mức   độ ô nhiễm có xu hướng tăng theo thời gian. Tại Hà Nội, số giếng khoan có hàm lượng P-PO4 cao hơn mức cho phép (0,4mg/l) chiếm tới 71%. Còn tại khu vực Hà Giang – Tuyên Quang, hàm lượng sắt ở một số nơi cao vượt mức cho phép Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) thường trên 1mg/l, có nơi đạt đến trên 15-20mg/l, tập trung chủ yếu quanh các mỏ khai thác sunphua. 
Ngoài ra việc khai thác nước quá mức ở tầng holoxen cũng làm cho hàm lượng asen trong nước dưới đất tăng lên rõ rệt, vượt mức giới hạn cho phép 10mg/l. Đặc biệt, vùng ô nhiễm asen phân bố gần như trùng với diện tích phân bố của vùng có hàm lượng amoni cao. Hiện tượng này thường thấy ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. 

(Theo Monre.gov.vn)