Nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm asen trong nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tới sức khỏe của người dân vùng đồng bằng sông Hồng

Asen (thạch tín) là nguyên tố tự nhiên có trong không khí, đất, thức ăn, nước uống và có thể xâm nhập vào cơ thể người theo đường hô hấp, đường da và chủ yếu qua đường ăn uống. Trên thế giới và ở Châu Á, đã có nhiều đề tài nghiên cứu cho thấy: nhiễm độc asen cấp tính do ăn uống phải liều lượng lớn asen sẽ bị phù phổi cấp, suy hô hấp, gan to và nếu được cứu chữa kịp thời bệnh nhân có thể sống sót, nhưng để lại di chứng nặng nề về não, suy tủy, suy thận, thiếu máu, tổn thương dây thần kinh ngoại biên.
Nhiễm độc asen mãn tính do sử dụng nguồn nước bị nhiễm asen sẽ gây các bệnh về máu, tim mạch, xơ gan, nhiễm độc thai nghén và ung thư. Ở Việt Nam, có một số đề tài đã nghiên cứu ô nhiễm asen trong nước ngầm, kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm tương đối phổ biến, nhất là ở vùng đồng bằng thuộc lưu vực sông Hồng và sông Mê Kông. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu đánh giá tổng thể và xác định đúng các biểu hiện bệnh cũng như mức độ tổn hại tới sức khỏe cộng đồng do ô nhiễm asen trong nguồn nước gây ra. Đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm asen trong nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tới sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng dân cư vùng đồng bằng sông Hồng và biện pháp khắc phục”, do PGS. TS. Nguyễn Khắc Hải, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, làm Chủ nhiệm. Đây là đề tài đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đánh giá tổng thể và xác định đúng các biểu hiện bệnh cũng như mức độ tổn hại tới sức khỏe cộng đồng do ô nhiễm asen trong nguồn nước gây ra. Đề tài này thuộc chương trình “Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng’’ được tiến hành với mục tiêu: đánh giá tình trạng bệnh nhiễm độc asen và một số bệnh lý liên quan của cộng đồng dân cư sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm asen để ăn uống và sinh hoạt, xây dựng các giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu mức độ ô nhiễm asen trong nguồn nước và nguy cơ gây bệnh, đề xuất mô hình áp dụng có tính khả thi cho các vùng có nguy cơ cao. Đề tài đã điều tra tình hình sử dụng nước của 3.000 hộ dân tại các tỉnh, thành phố của đồng bằng sông Hồng: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà nội, Hưng Yên,, Hà Nam, Thái bình, Nam Định. Kết quả cho thấy: 77,6% nước giếng khoan được xét nghiệm có nồng độ asen vượt trên 50 µg/L, trong đó 49,7% giếng nước nhiễm asen ở mức trầm trọng >100µg/L. Mặc dầu người dân đã sử dụng bể lọc cát tự xây để lọc nước, song hiệu quả lọc loại asen chưa cao. Nồng độ asen sau lọc còn cao >50 µg/L. Qua khảo sát, nghiên cứu 4.700 đối tượng (nam và nữ) đã sử dụng nước giếng khoan trên 3 năm để ăn, uống và tắm giặt thì thấy tỷ lệ mắc bệnh do asen gây nên như sau: suy nhược thần kinh (64,7%), rối lọan cảm giác (19%), rối lọan vận mạch (32,8%), dày sừng (3,6%), biến đổi sắc tố da (4,6%), bệnh u bướu (4,1%0, lượng asen trong nước tiểu, trong tóc và các biến đổi về máu ở nhóm sử dụng nước ô nhiêm asen cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Đặc biệt các độc hại này thể hiện rõ ở trẻ nhỏ. Phụ nữ ở tuổi sinh đẻ sử dụng nguồn nước ô nhiễm asen có biểu hiện bệnh lý về thai sản như: sảy thai, sinh con thiếu tháng, thiéu cân. Đã phát hiện được 60 trường hợp nhiễm độc asen mãn tính, chiếm tỷ lệ 1,62% trong tổng số người sử dụng nước ô nhiễm asen, phân bố nhiều nhất ở Hà Nội (7,25%), Vĩnh Phúc (4,98%), Nam Định (4,57%). Qua nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và tại hiện trường, đề tài đã lựa chọn được bộ lọc As-F100 cải tiến có tốc độ lọc 40L/giờ, nước đầu ra có nồng độ As


(Theo agroviet.gov.vn)