Sau 12 năm thi hành, nhiều quy định của Luật Tài nguyên nước năm 1998 đến nay không còn phù hợp với thực tiễn, nhiều vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện. Khắc phục những bất cập, Luật Tài nguyên nước (TNN) sửa đổi được xem là sẽ mở đường cho các hoạt động hướng đến mục tiêu kinh tế hóa. Bên cạnh đó, Luật TNN sửa đổi sẽ bổ sung thêm những quy định mới cho phù hợp với thực tiễn của cuộc sống và tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Dự thảo Luật TNN sửa đổi đang được xây dựng nhằm bảo vệ tài nguyên nước có hiệu quả, sử dụng nguồn nước hợp lý, tiết kiệm, phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra được tốt hơn cũng như tăng cường quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trong tình hình mới. Theo đó, một trong các nhóm vấn đề mới sửa đổi lần này là kinh tế hóa lĩnh vực tài nguyên nước đã thể hiện được “cái hồn” chủ trương kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Dự thảo cũng đã có những quy định mới nhằm tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế, sử dụng các loại thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác phục vụ quản lý và bảo vệ có hiệu quả tài nguyên nước.
Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước ông Hoàng Văn Bảy cho biết “ Dự thảo lần 2 Luật TNN sửa đổi có 104 điều thể hiện trong 11 chương. Trong đó có 66 điều được bổ sung mới toàn bộ về nội dung và 38 điều được sửa đổi, bổ sung so với Luật TNN năm 1998. Theo đó, việc sửa đổi lần này tập trung vào 4 chủ trương lớn là: Khuyến khích ưu đãi các tổ chức, cá nhân nghiên cứu và áp dụng khoa học, công nghệ, đầu tư công trình khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất thông qua việc miễn, giảm thuế tài nguyên, hỗ trợ vốn để nghiên cứu và xây dựng công trình; xã hội hoá các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước; Khuyến khích và huy động sự đóng góp tài chính của mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư trong bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống tác hại do nước gây ra; Ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho điều tra cơ bản về tài nguyên nước, xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo, dự báo về về tài nguyên nước, hệ thống thông tin dữ liệu”.
Bên cạnh đó, Luật TNN sửa đổi cũng đưa ra các quy định về xây dựng và thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, kế hoạch phòng chống ô nhiễm khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, kế hoạch điều hoà, phân bổ nguồn nước. Ngoài ra, cần phải kinh tế hoá lĩnh vực tài nguyên nước bởi tuy là nguồn tài nguyên quý giá, thiết yếu đối với đời sống của con người và các hoạt động kinh tế – xã hội, nhưng đến nay các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước về loại tài nguyên này còn rất hạn chế.
Với 17 vấn đề lớn đã được tập trung sửa đổi và được đưa ra trong Dự thảo Luật TNN sửa đổi lần này được coi là sẽ tác động trực tiếp đến các hoạt động sử dụng nước, đó là các vấn đề sở hữu TNN (đã đề cập đến sở hữu toàn dân và sở hữu của các tổ chức cá nhân); đối tượng quản lý TNN được mở rộng đến việc quản lý lòng sông, bờ sông cũng như việc thiết lập các công cụ kinh tế trong quản lý TNN. Sự phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý TNN và tài nguyên thiên nhiên khác, xã hội hoá TNN và quyền sở hữu về nước, khai thác sử dụng TNN, cấp nước và sử dụng nước thải, điều hoà sử dụng, phân bổ TNN cũng như vai trò của cộng đồng và tổ chức dân sự trong sử dụng nước ven sông, đối tượng thủy sinh, chế tài bảo đảm thi hành Luật đã quy định cụ thể các hành vi nghiêm cấm, các hành lang bảo vệ sông hồ, lưu vực sông… cũng đều được quy định chi tiết và cụ thể trong Dự thảo Luật TNN sửa đổi lần này./.
Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước ông Hoàng Văn Bảy cho biết “ Dự thảo lần 2 Luật TNN sửa đổi có 104 điều thể hiện trong 11 chương. Trong đó có 66 điều được bổ sung mới toàn bộ về nội dung và 38 điều được sửa đổi, bổ sung so với Luật TNN năm 1998. Theo đó, việc sửa đổi lần này tập trung vào 4 chủ trương lớn là: Khuyến khích ưu đãi các tổ chức, cá nhân nghiên cứu và áp dụng khoa học, công nghệ, đầu tư công trình khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất thông qua việc miễn, giảm thuế tài nguyên, hỗ trợ vốn để nghiên cứu và xây dựng công trình; xã hội hoá các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước; Khuyến khích và huy động sự đóng góp tài chính của mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư trong bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống tác hại do nước gây ra; Ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho điều tra cơ bản về tài nguyên nước, xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo, dự báo về về tài nguyên nước, hệ thống thông tin dữ liệu”.
Bên cạnh đó, Luật TNN sửa đổi cũng đưa ra các quy định về xây dựng và thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, kế hoạch phòng chống ô nhiễm khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, kế hoạch điều hoà, phân bổ nguồn nước. Ngoài ra, cần phải kinh tế hoá lĩnh vực tài nguyên nước bởi tuy là nguồn tài nguyên quý giá, thiết yếu đối với đời sống của con người và các hoạt động kinh tế – xã hội, nhưng đến nay các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước về loại tài nguyên này còn rất hạn chế.
Với 17 vấn đề lớn đã được tập trung sửa đổi và được đưa ra trong Dự thảo Luật TNN sửa đổi lần này được coi là sẽ tác động trực tiếp đến các hoạt động sử dụng nước, đó là các vấn đề sở hữu TNN (đã đề cập đến sở hữu toàn dân và sở hữu của các tổ chức cá nhân); đối tượng quản lý TNN được mở rộng đến việc quản lý lòng sông, bờ sông cũng như việc thiết lập các công cụ kinh tế trong quản lý TNN. Sự phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý TNN và tài nguyên thiên nhiên khác, xã hội hoá TNN và quyền sở hữu về nước, khai thác sử dụng TNN, cấp nước và sử dụng nước thải, điều hoà sử dụng, phân bổ TNN cũng như vai trò của cộng đồng và tổ chức dân sự trong sử dụng nước ven sông, đối tượng thủy sinh, chế tài bảo đảm thi hành Luật đã quy định cụ thể các hành vi nghiêm cấm, các hành lang bảo vệ sông hồ, lưu vực sông… cũng đều được quy định chi tiết và cụ thể trong Dự thảo Luật TNN sửa đổi lần này./.
(Theo Minh Kỳ – Báo Kinh tế VN 16/4)