Đập thủy điện và những hệ lụy

Để làm sáng tỏ những tác động tiêu cực của việc ngăn đập thủy điện, thời gian qua, các nhà khoa học thuộc Viện TN&MT biển Việt Nam đã tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng về môi trường sinh thái từ đập thủy điện Hòa Bình, con đập thủy điện lớn nhất của cả nước như “tiếng chuông” cảnh tỉnh việc phát triển ồ ạt công trình thủy điện thời gian qua.

Xói lở vùng hạ du tăng gấp 2 lần

Nhà máy thủy điện Hòa Bình được xây dựng tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, trên Sông Đà, khởi công năm 1979, kết thúc năm 1994 với dung tích hồ Hòa Bình đến 9 tỷ mét khối nước. Bằng công nghệ ảnh vệ tinh Landsat TM, SPOT 4 và AVNIR 2 kết hợp hệ thống đo đạc, quan trắc mực nước ở các cửa sông, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, sau khi đắp đập, tác động của hồ chứa Hòa Bình đã làm giảm đi khoảng 50% lượng bùn cát hàng năm đưa ra 3 cửa sông chính là Nam Triệu, Cửa Cấm và Lạch Tray thuộc vùng cửa sông hình phễu Bạch Đằng và 6 cửa sông Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý,Ba Lạt, Ninh Cơ và Cửa Đáy thuộc vùng cửa sông châu thổ Sông Hồng. Sự thiếu hụt phù sa từ lục địa đưa ra các vùng cửa sông đã làm chậm quá trình bồi tụ các bãi triều cao, thấp và địa hình ở độ sâu 2m, 5m,10m và 15m. Trước đắp đập, ở các dạng địa hình kể trên của vùng cửa sông ven bờ Bắc Bộ, tốc độ bồi tụ trung bình 30m/năm và sau khi đắp đập Hòa Bình giảm đi chỉ còn trung bình 15m/năm.

Do thiếu hụt lượng phù sa bồi đắp cộng với việc thay đổi dòng chảy,sau đắp đập Hòa Bình, xói lở vùng cửa sông đã tăng cao hơn gấp 2 lần khi chưa đắp đập trên các dạng địa hình như ở bãi triều cao, bãi triều thấp, các bậc địa hình có độ sâu 2m, 5m, 10m và 15m.

Với tư liệu ảnh viễn thám thu thập được trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng các hồ chứa thượng nguồn có ảnh hưởng sâu sắc đến biến động đường bờ châu thổ Sông Hồng. Sự phân bố của đường bờ biển trước và sau khi đắp đập chứa được xác định trên cơ sở giải đoán ảnh vệ tinh cho thấy số lượng đoạn bờ bị xói lở do tác động gián tiếp sau đắp đập tăng nhanh hơn so với số lượng đoạn bờ bồi tụ. Điều này có thể được giải thích là do vật liệu trầm tích đưa từ sông ra vùng cửa sông ven biển đã bị giữa lại một phần trên hồ chứa, gây thiếu hụt và mất cân bằng phân bố vật liệu trầm tích ở vùng ven bờ dẫn đến giảm qui mô, tốc độ bồi tụ đường bờ và diện tích bãi triều thấp đồng thời lại làm tăng bồi xói cục bộ.

Suy giảm tới 44% “quỹ dinh dưỡng”

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định các đập chứa thượng nguồn đã làm giảm quỹ dinh dưỡng các dạng khác nhau của N (nitơ) và P (phốt pho) trên các vùng cửa sông ven bờ Bắc Bộ, trung bình giảm khoảng 32 – 44% so với trước khi đắp các đập chứa thượng nguồn. Nguyên nhân chính của sự giảm quỹ dinh dưỡng trên các vùng cửa sông là do các dòng dinh dưỡng từ lục địa đưa ra biển bị giữ lại tại các hồ chứa thượng nguồn. Khi đắp các đập chứa đã làm thay đổi rất lớn các dòng dinh dưỡng từ lục địa đổ qua 09 cửa sông: Đá Bạch, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý, Ba Lạt, Ninh Cơ và Cửa Đáy ra các vùng cửa sông ven bờ Bắc Bộ. Mức độ giảm các dòng dinh dưỡng khoáng và tổng số của N, P theo mùa và có ảnh hưởng lớn tới môi trường sinh thái tự nhiên vùng cửa sông ven biển.

Các dạng tồn tại của dinh dưỡng khoáng có hàm tương quan rất chặt chẽ với hàm lượng bùn cát lơ lửng trong nước từ lục địa đưa ra biển. Khi đắp các đập chứa thượng nguồn, tuy tổng lượng nước ít thay đổi nhưng tổng lượng bùn cát giảm đi rất lớn, khoảng 50% so với trước đắp đập . Vì vậy, các dòng dinh dưỡng từ lục địa đưa ra các vùng cửa sông giảm rất lớn, dẫn đến giảm quỹ dinh dưỡng trên các vùng cửa sông ven bờ Bắc Bộ. Sự suy giảm hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước đã làm giảm đi nguồn lợi thủy sản vùng hạ du cũng như làm thay đổi môi trường sống của không ít loài sống trong môi trường nước lợ cửa sông. Nhiều loài thủy sản quý, nổi tiếng xưa kia của sông Hồng, Sông Đà nay đã gần như tuyệt chủng.

Chưa kể đến một lượng lớn rừng đầu nguồn bị phá hủy để làm thủy điện, những số liệu quan trọng trên cho thấy thủy điện không phải nguồn năng lượng xanh, sạch như người ta lầm tưởng mà nó đang trực tiếp hoặc gián tiếp để lại những hệ lụy đáng lo ngại tới môi trường tự nhiên và hệ sinh thái. Điều này càng khẳng định sự đúng đắn của chúng ta khi cho tạm dừng hàng loạt các dự án thủy điện vừa và nhỏ trong cả nước. Trong tương lai, việc hạn chế và đi tới chấm dứt xây mới những đập thủy điện là điều cần phải tính tới khi Việt Nam đang hướng đến phát triển năng lượng xanh, bền vững .

(Theo Monre.gov.vn)