Bảo vệ cấp bách nguồn nước mặt tại Đồng Nai

Đồng Nai là tỉnh có nguồn nước mặt ở các sông suối khá phong phú với trữ lượng nước mặt khoảng 26 tỷ m3. Một số sông, hồ trên địa bàn tỉnh như sông Đồng Nai, sông La ngà, sông Thị Vải, sông Ray và   hồ Trị An…có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và cả khu vực vùng kinh tế trọng điểm phái Nam Bộ. Vì vậy, tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắng trong việc lập quy hoạch bão vệ nguồn nước mặt và nước ngầm có các con sông suối quan trong chảy qua địa bàn tỉnh. Nhưng việc quản lý và bảo vệ nguồn nước quý giá này hiện cũng   gặp phải không ít khó khăn và thách thức, do đang bị tác động của nhiều nguồn ô nhiễm gây ra.

 
Bài I: Chưa ngăn chặn được tận gốc ô nhiễm
Theo số liệu điều tra của Sở Tài nguyên và Môi trường, về nguồn tài nguyên nước mặt ở Đồng Nai hiện có mật độ sông suối khoảng 0,5 km2, song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía Bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng Tây Nam. Tổng lượng nước khá dồi dào với 16,82x 10.000.000.000 m3/ năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%. Chất lượng nguồn nước tương đối tốt và đang khai thác khoảng 12.5560.000 m3 ngày, phục vụ nông nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp… Theo công bố của Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên, thời gian qua tuy mức độ có giảm nhưng tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Đồng Nai hiện là đáng báo động, trung bình mỗi tháng có gần 30 tấn chất thải gây ô nhiễm như dầu mỡ, chất thải hữu cơ, kim loại nặng đổ ra sông Đồng Nai.
TS. Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường cho biết: Hiện Đồng Nai đang phải đối mặt bốn nguy cơ đe dọa nguồn nước ngầm và nước mặt, đó là nước thải ở các khu công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn; chất thải từ chăn nuôi, trồng trọt; khoan giếng quá nhiều và nhiễm mặn do biến đổi khí hậu nước biển dâng cao.
Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh: Hiện tổng lượng   nước thải công nghiệp trên địa bàn phát sinh khoảng 122.260 m3/ngày. Trong đó tổng lượng nước thải của 26 KCN vào khoảng 74.776 m3/ngày; tổng lượng nước thải của 110 doanh nghiệp do Bộ TN&MT và UBND tỉnh phê duyệt đánh giá tác động môi trường ở ngoài KCN khoảng 47.484 m3/ngày.Đến tháng 9/2012, trên địa bàn tỉnh đã có 26/31 KCN đi vào hoạt động, trong đó, có 24/26 KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT ), đạt tỷ lệ 92.3%. Với tổng lượng nước thải phát sinh là 74.776 m3/ngày, đêm. Trong đó, lượng nước thải được đấu nối   qua hệ thống XLNTTT là 45.772 m3, đạt 63 % , đối với 27 % lượng nước thải còn lại phần lớn do các doanh nghiệp được cấp phép   xã thải tự xử lý sau đó thải trực tiếp ra môi trường là 26.951 m3/ngày đêm…
Ngoài ra lượng nước thải sinh hoạt khoảng 190.000 m3/ngày, trong đó thành phố Biên Hòa có lượng nước thải phát sinh khoảng 80.000 m3/ngày. Hầu hết các đô thị trên địa bàn chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình chủ yếu được xử lý qua bể tự hoại và thoát ra hệ thống thoát nước chung rồi đỗ ra sông, suối.  Về nước thải y tế phát sinh cũng đáng lo ngại, mỗi ngày có khoảng 5.066 m3 nước thải y tế. Mặc dù các bệnh viện, trung tâm y tế và phòng khám đa khoa khu vực đều có hệ thống xử lý nước thải y tế, với tổng công suất thiết kế là 5.466 m3/ngày. Nhưng đa số hệ thống xử lý nước thải ở các đơn vị đã xuống cấp, quy mô giường bệnh lại tăng hàng năm và tình trạng quá tải ở các bệnh viện dẫn đến quá tải hệ thống xử lý nước thải.
Chất lượng nước mặt ở đa số các sông, suối, hồ trong tỉnh như sông Đồng Nai, các hồ Trị An, Đa Tôn, Suối Tre, Cầu Mới, Núi Le, Gia Ui… nhìn chung đạt quy chuẩn môi trường về chất lượng nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Một số sông, hồ trước đây ô nhiễm nặng nay đã phục hồi như sông Thị Vải, hồ Sông Mây. Song vẫn còn một số khu vực có biểu hiện nguồn nước bị ô nhiễm như khu vực gần chân cầu La Ngà thuộc hồ Trị An, sông Cái, sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa; tại một số suối, kênh rạch thoát nước trong đô thị, nhất là trong thành phố Biên Hòa (như suối Linh, suối Săn Máu, suối Siệp và suối Bà Lúa). Những nguồn nước này thường bị ô nhiễm hữu cơ, vi khuẩn gây bệnh, chất lượng nước chưa được cải thiện nhiều trong thời gian qua, nhất là các kênh rạch thoát nước nội ô.
Theo kết quả quan trắc nguồn nước mặt của một sô sông, suối trên địa bàn của Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật môi trường Đồng Nai mới đây cho thấy, ô nhiễm trên một số sông lớn có giảm so với năm 2011, tuy vậy ở một số đoạn sông, suối tình trạng ô nhiễm vẫn còn cao. Cụ thể trên sông Đồng Nai, khu vực cầu Đồng Nai và khu vực cống thải Tân Mai (TP. Biên Hòa) ô nhiễm tương đối cao. Đặc biệt, vị trí gần cống thải Tân Mai, hàm lượng vi khuẩn gây bệnh E.Coli vượt quy chuẩn cho phép từ 30 đến 86 lần, hàm lượng vi khuẩn gây bệnh coliform vượt quy chuẩn cho phép từ 3 đến 9,2 lần. Khu vực gần cầu Đồng Nai, hàm lượng vi khuẩn gây bệnh E.Coli vượt quy chuẩn cho phép từ 76 đến 150 lần, hàm lượng vi khuẩn gây bệnh Coliform vượt quy chuẩn cho phép từ 3 đến 9,2 lần. Tại khu vực sông Thị Vải, tốc độ xâm nhập mặn có xu thế ăn sâu vào đất liền.
(Theo Monre.gov.vn)