Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Và Cảnh Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Lưu Vực Sông Hồng – Thái Bình Tháng 8 Năm 2023

Lưu vực sông Hồng – Thái Bình là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 25 tỉnh, thành phố với tổng diện tích là 88.860 km2.

– Đối với tài nguyên nước mặt: lưu vực sông Hồng – Thái Bình có lượng mưa trung bình nhiều năm dao động từ khoảng 1000mm đến 1300mm, riêng khu vực thượng nguồn sông Đà, lượng mưa năm khá hơn, từ 1300mm đến 1500mm. Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình là khoảng 131,4 tỷ m3, trong đó lượng nước sản sinh từ địa phận nước ngoài chảy vào Việt nam là 48,3 tỷ m3, lượng nước sản sinh trong lãnh thổ Việt Nam là 83,1 tỷ m3. Mùa mưa hàng năm thường xuất hiện bắt đầu từ Tháng 7 đến tháng 10, lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 90% tổng lượng dòng chảy năm. Mùa cạn từ tháng 11 đến Tháng 7 năm sau, lượng dòng chảy mùa cạn chiếm khoảng 10 % tổng lượng dòng chảy năm.

– Đối với tài nguyên nước dưới đất: lưu vực Sông Hồng – Thái Bình hiện nay có 156 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia xây dựng và đưa vào vận hành. Lưu vực sông bao gồm 3 tầng chứa nước chính là tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp) và tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogene và Trias (n & t). Theo báo cáo thuộc dự án “Biên hội – thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước: tầng chứa nước Holocen (qh) là 4.155.827 m3/ngày, tầng chứa nước Pleistocen (qp) là 13.108.361 m3/ngày

  1. Tài nguyên nước mặt:

Tháng 8 sẽ xuất hiện lượng mưa lớn theo chu kỳ mùa thủy văn và là 1 trong các tháng có lượng mưa lớn nhất trong mùa lũ, dẫn tới các hiện tượng lũ lớn xảy ra tuy nhiên tổng lượng nước nội sinh dự báo trong tháng 8 của lưu vực sông Hồng – Thái Bình thấp hơn tháng 7 và chỉ đạt trung bình 14,0 tỷ m3 do lượng mưa tại khu vực thấp hơn TBNN từ khoảng 10 – 25% cùng thời kỳ do ảnh hưởng của hiệu ứng Elnino.

Dự báo trong tháng 7 trên sông Đà có tổng lượng nước dao động từ  5.933,67 – 6.498,09 triệu m3; sông Thao từ 903.60 – 949.39 triệu m3; sông Lô – Gâm từ 3.272,82 – 3.663,75 triệu m3; sông Cầu – Thương từ 1.314,19 – 1.564,09 m3; Đồng bằng sông Hồng từ 1.908,51 – 2.104,64 triệu m3.

Trong thời đoạn này các hồ chứa lớn bao gồm Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng phải vận hành theo hồ theo “Quyết định số 740/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng” để đảm bảo chống lũ an toàn và nâng cao hiệu ích phát điện ở: (1). Thời kỳ lũ chính vụ từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 21 tháng 8; (2). Thời kỳ lũ muộn từ ngày 22 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 theo yêu cầu với lưu lượng và mực nước tương ứng ở các hồ của từng thời đoạn vận hành. Bên cạnh đó là việc cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thông qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Đa số các vùng dự báo cho có kết quả lượng nước nội sinh đủ cho các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt tuy nhiên vẫn cần xem xét việc xây dựng các chính sách trong khai thác, sử dụng TNN hiệu quả giữa các ngành sử dụng nước nhằm phục vụ phát triển bền vững (Kinh tế – Xã Hội – Môi trường) với đặc thù là các lưu vực sông có nhiều hệ thống hồ chứa bậc thang lớn ở miền Bắc. Vì vậy việc phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong các trường hợp sẽ được quy định tại Điều 21 và Điều 23, Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.

  1. Tài nguyên nước dưới đất:

Nhìn chung mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng trước có xu thế dâng tại các lớp chứa nước qh2 và qh1, qp2, qp1 và tầng chứa nước n và t. Chất lượng nước trong các tầng chứa nước trong lưu vực khá tốt. Tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Mangan, Asen, Chì, Phenol, Ecoli và Amôni  vượt quá GTGH so với QCVN 09-MT:2023/BTNMT.

Dự báo mực nước dưới đất tháng 8 so với mực nước thực đo tháng 7 có xu thế dâng tại tất cả các lớp chứa nước và tầng chứa nước n và t

Trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình thời điểm hiện tại có 5 công trình có độ sâu mực nước trung bình tháng vượt 50% so với mực nước hạ thấp cho phép. Nước trong lưu vực sông thuộc loại nước nhạt đến mặn, một số nơi có hàm lượng Mangan, Asen, Phenol, Ecoli và amoni vượt GTGH.

  1. Đề xuất, kiến nghị

Đi vi tài nguyên nước mt: Tháng 8 sẽ có lượng mưa không lớn so với tháng 7 mà thay vào đó còn có xu thế giảm hơn so với TBNN và tổng lượng nước nội sinh dự báo trong tháng 8 đạt trung bình 14,0 tỷ m3 do thấp hơn giá trị TBNN cùng thời kỳ từ khoảng 10 – 25%. Mức tăng cao nhất tại lưu vực sông đồng bằng sông Hồng 46 %; Lưu vực sông Lô – Gâm 32%; Lưu vực sông Cầu – Thương 23%; Lưu vực sông Thao 15%; Lưu vực sông Đà 2%.

Trong thời đoạn này các hồ chứa lớn bao gồm Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng phải vận hành theo hồ theo “Quyết định số 740/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng” để đảm bảo chống lũ an toàn và nâng cao hiệu ích phát điện ở: (1). Thời kỳ lũ chính vụ từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 21 tháng 8; (2). Thời kỳ lũ muộn từ ngày 22 tháng 8 đến ngày 15 tháng 9 theo yêu cầu với lưu lượng và mực nước tương ứng ở các hồ của từng thời đoạn vận hành. Bên cạnh đó là việc cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thông qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Đa số các vùng dự báo cho có kết quả lượng nước nội sinh đủ cho các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt tuy nhiên vẫn cần xem xét việc xây dựng các chính sách trong khai thác, sử dụng TNN hiệu quả giữa các ngành sử dụng nước nhằm phục vụ phát triển bền vững (Kinh tế – Xã Hội – Môi trường) với đặc thù là các lưu vực sông có nhiều hệ thống hồ chứa bậc thang lớn ở miền Bắc. Vì vậy việc phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong các trường hợp sẽ được quy định tại Điều 21 và Điều 23, Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực quận Hà Đông, Từ Liêm, Cầu Giấy – TP Hà Nội; huyện Trực Ninh – tỉnh Nam Định.

Trong mùa khô năm 2023, nhìn chung mực nước và chất lượng nước trong các tầng chứa nước trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình đều tốt. Tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Mangan, Asen, Phenol, Ecoli và Amôni  vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, đề nghị các cơ quan đưa ra cảnh báo cho người dân và tiếp tục theo dõi thêm.

Xem chi tiết tại đây: