Bản Tin Dự Báo, Cảnh Báo Tài Nguyên Nước Lưu Vực Sông Hồng – Thái Bình Tháng 6 Năm 2023

Lưu vực sông Hồng – Thái Bình là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 25 tỉnh, thành phố với tổng diện tích là 88.860 km2.

– Đối với tài nguyên nước mặt: lưu vực sông Hồng – Thái Bình có lượng mưa trung bình nhiều năm dao động từ khoảng 1000mm đến 1300mm, riêng khu vực thượng nguồn sông Đà, lượng mưa năm khá hơn, từ 1300mm đến 1500mm. Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình là khoảng 131,4 tỷ m3, trong đó lượng nước sản sinh từ địa phận nước ngoài chảy vào Việt nam là 48,3 tỷ m3, lượng nước sản sinh trong lãnh thổ Việt Nam là 83,1 tỷ m3. Mùa mưa hàng năm thường xuất hiện bắt đầu từ Tháng 6 đến tháng 10, lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 90% tổng lượng dòng chảy năm. Mùa cạn từ tháng 11 đến Tháng 6 năm sau, lượng dòng chảy mùa cạn chiếm khoảng 10 % tổng lượng dòng chảy năm.

– Đối với tài nguyên nước dưới đất: lưu vực Sông Hồng – Thái Bình hiện nay có 156 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia xây dựng và đưa vào vận hành. Lưu vực sông bao gồm 3 tầng chứa nước chính là tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp) và tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogene và Trias (n & t). Theo báo cáo thuộc dự án “Biên hội – thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước: tầng chứa nước Holocen (qh) là 4.155.827 m3/ngày, tầng chứa nước Pleistocen (qp) là 13.108.361 m3/ngày

  1. Tài nguyên nước mặt:

Có thể thấy tổng lượng nước nội sinh trong tháng 6 có xu thế tăng mạnh gấp 3 lần so với tháng trước, đạt trung bình 7,1 tỷ m3 tuy nhiên nếu so với TBNN cùng thời kỳ thì giảm 20%.

Dự báo trong tháng 6 trên sông Đà có tổng lượng nước dao động từ  2.054,83 –       2.408,68 triệu m3; sông Thao từ 258,83 – 304,29 triệu m3; sông Lô – Gâm từ 1.899,34 – 2.283,17 triệu m3; sông Cầu – Thương từ 638,30 – 763,53 m3; Đồng bằng sông Hồng từ 1.675,69 – 1.916,98 triệu m3.

Đa số các vùng dự báo cho có kết quả lượng nước nội sinh  đủ cho các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt tuy nhiên vẫn cần xem xét việc xây dựng các chính sách trong khai thác, sử dụng TNN hiệu quả giữa các ngành sử dụng nước nhằm phục vụ phát triển bền vững (Kinh tế – Xã Hội – Môi trường) với đặc thù là các lưu vực sông có nhiều hệ thống hồ chứa bậc thang lớn ở miền Bắc. Tương ứng là việc cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thông qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Việc xác định thứ tự ưu tiên và tỷ lệ phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước sẽ được quy định tại Điều 21, Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.

  1. Tài nguyên nước dưới đất:

Trong tháng 5 mực nước dưới đất trung bình so với tháng trước có xu thế dâng tại các lớp chứa nước qh2 và qh1; xu thế hạ tại các lớp chứa nước qp2, qp1 và tầng chứa nước n và t. Chất lượng nước trong các tầng chứa nước trong lưu vực khá tốt. Tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Mangan, Asen, Chì và Amôni  vượt quá GTGH so với QCVN 09-MT:2023/BTNMT.

Dự báo mực nước dưới đất tháng 6 so với mực nước thực đo tháng 5 có xu thế dâng tại các lớp chứa nước qh2 và qh1; xu thế hạ tại các lớp chứa nước qp2, qp1 và tầng chứa nước n và t

Trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình thời điểm hiện tại có 5 công trình có độ sâu mực nước trung bình tháng vượt 50% so với mực nước hạ thấp cho phép. Nước trong lưu vực sông thuộc loại nước nhạt đến mặn, một số nơi có hàm lượng Mn, As, Pb và NH4 vượt GTGH.

  1. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Kết thúc tháng 5 là đầu mùa mưa, bước vào tháng 6 bắt đầu lượng mưa lớn và dẫn tới các hiện tượng lũ lớn xảy ra nên tổng lượng nước nội sinh dự báo trong tháng 6 có xu thế tăng mạnh gấp 3 lần so với tháng trước, đạt trung bình 7,1 tỷ m3 tuy giá trị TBNN cùng thời kỳ có lượng nước nội sinh giảm khoảng 20%. Mức tăng cao nhất tại lưu vực Cầu Thương 396%; Lưu vực Lô – Gâm 391%; Lưu vực đồng bằng sông Hồng 309%; Lưu vực sông Đà 275%; Lưu vực sông Thao 61%.

Đa số các vùng dự báo cho có kết quả lượng nước nội sinh  đủ cho các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt tuy nhiên vẫn cần xem xét việc xây dựng các chính sách trong khai thác, sử dụng TNN hiệu quả giữa các ngành sử dụng nước nhằm phục vụ phát triển bền vững (Kinh tế – Xã Hội – Môi trường) với đặc thù là các lưu vực sông có nhiều hệ thống hồ chứa bậc thang lớn ở miền Bắc. Tương ứng là việc cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thông qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Việc xác định thứ tự ưu tiên và tỷ lệ phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước sẽ được quy định tại Điều 21, Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực quận Hà Đông, Từ Liêm, Cầu Giấy – TP Hà Nội; huyện Trực Ninh – tỉnh Nam Định.

Trong mùa mưa năm 2022, nhìn chung mực nước và chất lượng nước trong các tầng chứa nước trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình đều tốt. Tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Mangan, Asen và Amôni  vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, đề nghị các cơ quan đưa ra cảnh báo cho người dân và tiếp tục theo dõi thêm.

Xem chi tiết tại đây: