Bản Tin Dự Báo, Cảnh Báo Tài Nguyên Nước Lưu Vực Sông Đồng Nai Tháng 7 Năm 2023

Lưu vực sông Đồng Nai là một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam, bao gồm 10 tỉnh Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Bình Phước, Tây Ninh, Đắk Nông, Long An, Bình Dương, Lâm Đồng, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng diện tích lưu vực là 36.350km2. Mùa mưa từ tháng V đến tháng X, mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau.

– Đối với tài nguyên nước mặt: Hiện nay trên lưu vực sông Đồng Nai có 39 trạm thủy văn, 02 trạm tài nguyên nước. Lượng mưa hàng năm trên lưu vực sông khoảng 1.950mm và biến đổi từ nơi thấp là 1.200 – 1.600mm (vùng hạ lưu, lưu vực sông Vàm Cỏ…), lên nơi cao là 2.600 – 2.800mm (trung lưu sông Đồng Nai, một phần thượng lưu sông Bé, thượng lưu sông La Ngà …). Vùng ven biển mưa biến đổi từ 700 – 800mm (Phan Rang-Phan Rí) đến 1.800 – 2.000mm (thượng lưu các sông Cái, Quao, Kabét, Dinh…).

– Đối với tài nguyên nước dưới đất: Lưu vực sông Đồng Nai hiện nay có 155 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia xây dựng và đưa vào vận hành. Lưu vực sông bao gồm 7 tầng chứa nước chính chia thành hai khu vực Đông Bắc và Tây Nam của lưu vực: Khu vực phía Tây Nam gồm 5 tầng là tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21); khu vực phía Đông Bắc gồm 2 tầng: lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp). Theo dự án “Biên hội – thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước: tầng chứa nước qp3 là 1.754.982m3/ngày, tầng chứa nước qp2-3 là 3.176.253m3/ngày, tầng chứa nước qp1 là 1.594.607m3/ngày, tầng chứa nước n22 là 2.459.938m3/ngày, tầng chứa nước n21 là 1.506.949m3/ngày, tầng chứa nước Q là 126.797 m3/ngày, tầng chứa nước β(n2-qp) là 5.550.068 m3/ngày.

1.Tài nguyên nước mặt

1.1 Thông báo tình hình tài nguyên nước mặt tại trạm Đại Ninh

Tổng lượng nước: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2023 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 88034cm, tăng 6cm so với tháng trước, không thay đổi so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 15cm so với giá trị tháng 6 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 88086cm (ngày 6/6/2023), giá trị mực nước nhỏ nhất là 87999cm (ngày 15/6/2023).

Chất lượng nước: Kết quả phân tích chất lượng nước sông và kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông Đa Nhim có thể sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Cảnh báo tài nguyên nước mặt: – Mực nước lớn nhất tháng 6 năm 2023 tại trạm Đại Ninh tăng 86cm so với mực nước dâng bình thường của Hồ Đại Ninh. Chất lượng nước sông Đa Nhim có thể sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

1.2 Thông báo tình hình tài nguyên nước mặt tại trạm Cát Tiên

Tổng lượng nước: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2023 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12706cm, tăng 60cm so với tháng trước, giảm 151cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 74cm so với giá trị tháng 6 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 12841cm (ngày 23/6/2023), giá trị mực nước nhỏ nhất là 12555cm (ngày 2/6/2023).

Chất lượng nước: Kết quả phân tích chất lượng nước sông và kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông Đồng Nai có thể dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.

  1. Thông báo tài nguyên nước dưới đất

Khu vực phía Đông Bắc lưu vực sông Đồng Nai

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 2/3 công trình mực nước dâng, 1/3 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,72m tại TT.Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK118T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,06m tại xã Tân Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK117T).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào bazan Pliocen-Pleistocen β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 14/16 công trình mực nước dâng, 1/16 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/16 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 4,79m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (C10a) và giá trị hạ thấp nhất là 0,08m tại P.Nghĩa Tân, TX.Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (LK92T).

Khu vực phía Tây Nam lưu vực sông Đồng Nai

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 4/7 công trình mực nước dâng, 2/7 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/7 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,44m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP.Hồ Chí Minh (Q09902B) và giá trị hạ thấp nhất là 0,07m tại xã Đồng Dù, huyện Củ Chi, TP.Hồ Chí Minh (Q804020).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 9/13 công trình mực nước dâng, 3/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/13 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,09m tại xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (Q22002Z) và giá trị hạ thấp nhất là 0,13m tại xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP.Hồ Chí Minh (Q00202B).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 6/15 công trình mực nước dâng, 6/15 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/15 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,18m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020) và giá trị hạ thấp nhất là 0,19m tại xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (Q039340M1).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích Pliocen giữa (n22): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 10/17 công trình mực nước dâng, 5/17 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 2/17 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,64m tại xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q714040) và giá trị hạ thấp nhất là 0,38m tại xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước (Q223040).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trềm tích Pliocene dưới (n21): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 5/12 công trình mực nước dâng, 5/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 2/12 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,34m tại TT Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An (Q02704Z) và giá trị hạ thấp nhất là 0,18m tại xã Hòa Khánh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (Q612060).

Sơ đồ diễn biến mực nước tầng n21

2.3 Cảnh báo mực nước dưới đất

Theo Nghị định 167/2018/NĐ-CP về Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất, trong lưu vực sông Đồng Nai trong tháng 5 có 7 công trình có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.

  1. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Trong tháng 6 năm 2023, tổng lượng nước tại trạm Đại Ninh và Cát Tiên tăng so với tháng trước, đề nghị các cơ quan, ngành sử dụng nguồn nước mặt có kế hoạch, phương án tích trữ nguồn nước phù hợp để phục vụ việc khai thác, sử dụng trong tháng tới.

Chất lượng nguồn nước mặt tại trạm Đại Ninh và Cát Tiên đã tăng so với tháng trước, tại trạm Đại Ninh có thể sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt, tại trạm Cát Tiên sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần biện pháp xử lý phù hợp, đề nghị tiếp tục theo dõi và có phương án phù hợp để cải thiện chất lượng nguồn nước được tốt hơn hướng tới mục đích sử dụng cho cấp nước sinh hoạt..

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai; Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh; huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An; TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tại các tầng chứa nước trên lưu vực sông Đồng Nai trong mùa khô năm 2023 đa số nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Mn, As và NH4 vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, đề nghị các cơ quan đưa ra cảnh báo cho người dân và tiếp tục theo dõi thêm.

Xem chi tiết tại đây: