Các biện pháp quản lý nước thúc đẩy sự khan hiếm nước ở hạ lưu

Các biện pháp can thiệp quy mô lớn nhằm quản lý, điều tiết các nguồn nước như thủy lợi, đập nước và hồ chứa, cũng như thu hồi nước là rất cần thiết cho sự phát triển của con người. Nhưng các các biện pháp can thiệp này dường như chỉ giải quyết các vấn đề khan hiếm nước cục bộ ở cấp địa phương, trong khi làm trầm trọng thêm sự khan hiếm nước ở vùng hạ lưu. Trong một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nature Communications, các nhà nghiên cứu đã đánh giá tác động của các biện pháp quản lý nước của con người lên sự khan hiếm nước ở quy mô toàn cầu.

Ted Veldkamp, ​​nhà nghiên cứu tại Vrije Universiteit Amsterdam, người đứng đầu dự án nghiên cứu, nói: “Thông thường việc lấy nước ra khỏi dòng sông sẽ khiến cho nguồn nước cho cư dân sinh sống ở hạ nguồn ít đi. Nhưng thực tế không chỉ đơn giản như vậy. Sự thay đổi lượng mưa và nước dự trữ theo mùa gây khó khăn cho các chuyên gia làm mô hình trong việc ước tính lượng nước sẵn có và các tác động ngoại cảnh. Những tác động của biến đổi khí hậu vì vậy cũng khó được tách biệt hoàn toàn mà đôi khi bị ảnh hưởng bởi tác nhân khác như hoạt động của con người.

Đây là nghiên cứu đầu tiên cung cấp các kết quả tính toán tổng thể về tác động của nước ở cấp khu vực và địa phương đến việc đến các thay đổi theo mùa và các tác động khác nhau, bao gồm rút nước, điều tiết hồ chứa, thay đổi sử dụng đất và tưới tiêu. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát sự phát triển của nguồn nước sẵn có, nhu cầu và sự khan hiếm trên toàn cầu từ năm 1971 đến năm 2010. Họ cũng nhấn mạnh đến tác động riêng biệt của biến đổi khí hậu và các can thiệp của con người.

Cách tiếp cận có hệ thống này cho phép các nhà nghiên cứu đưa ra một ước tính thực tế hơn các cách tiếp cận trước đó và cũng cho thấy sự khan hiếm nước lớn hơn các ước tính trước đó.

Từ năm 1971 đến năm 2010, nghiên cứu cho thấy, những tác động của con người nhằm quản lý nguồn nước đã làm thay đổi mạnh các điểm nóng khan hiếm nước, với những tác động đến khoảng một phần ba dân số toàn cầu. Trung bình, xấp xỉ 20% dân số toàn cầu đã có sự gia tăng đáng kể về lượng nước có thể sử dụng do các can thiệp của con người, như xây dựng đập, hồ chứa nước. Cùng lúc đó, có thêm khoảng 23% nữa đổi mặt với sự suy giảm đáng kể về lượng nước, trong đó 9% tình trạng khan hiếm nước là trầm trọng them.

“Thông điệp quan trọng từ nghiên cứu này là mọi người cần phải suy nghĩ về các mối liên kết thượng lưu-hạ lưu: những tác động đó gồm những gì, mức độ như thế nào khi áp dụng các biện pháp quản lý, điều tiết nguồn nước? Bạn cần có cái nhìn tổng quát về tất cả những hậu quả, không chỉ là những tác động của địa phương” Veldkamp nói.

Khi thay đổi khí hậu và tang trưởng dân số tiếp tục gây áp lực gay gắt lên nguồn nước, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các nhà hoạch định chính sách và quản lý nước cần phải có một cái nhìn tổng thể với khu vực rộng lớn trước khi đưa các quyết định của địa phương. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các lưu vực sông xuyên biên giới, nơi phát triển chính sách ở một quốc gia có thể có những hậu quả đối với các quốc gia khác ở hạ nguồn