Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tháng tỉnh Đồng Nai được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.
TP.Đồng Nai thuộc lưu vực sông Đồng Nai có diện tích tự nhiên khoảng 12.737,2km2. Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Nội dung chính của bản tin bao gồm:
Thông báo mực nước dưới đất tháng 7, chất lượng nước mùa khô năm 2026 và dự báo mực nước dưới đất tháng 8 năm 2026 tại các tầng chứa nước. Đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 15 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất, do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành. Trong bản tin này, tài nguyên nước dưới đất trong thành phố được dự báo cho 6 tầng chứa nước.
1. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi thành phố, theo kết quả quan trắc tại công trình Q014020 thuộc xã Đại Phước, TP. Đồng Nai mực nước trung bình tháng 7 dâng hạ không đáng kể 0,01m so với tháng 6.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,18m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039030M1).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,28m tại xã Đại Phước, TP. Đồng Nai (Q014340) và sâu nhất là -14,41m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039030M1).
Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 06 tầng qp2-3
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Giá trị dâng cao nhất là 0,34m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040020) và giá trị hạ thấp nhất là 0,16m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039340M1).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,89m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040020) và sâu nhất là -14,79m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039340M1).
Trong phạm vi thành phố, theo kết quả quan trắc lưu lượng điểm lộ tại công trình Q038030 thuộc xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai lưu lượng trung bình tháng 7 là: 6,36l/s tăng 0,19l/s so với tháng 6 có lưu lượng trung bình là 6,17l/s.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Giá trị dâng cao nhất là 0,41m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040040M1).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,41m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040040M1) và sâu nhất là -7,57m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q714040).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan (B/n-q): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Giá trị dâng cao nhất là 3,3m tại Phường Xuân Lập, TP. Đồng Nai (Q71207ZM1).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,31m tại xã Bàu Hàm, TP. Đồng Nai (Q01007D) và sâu nhất là -19,42m tại xã Dầu Giây, TP. Đồng Nai (QNoll).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trước Kainozoi (ps-ms): Trong phạm vi Thành phố, theo kết quả quan trắc tại công trình Q223060 thuộc xã Bù Đăng, TP. Đồng Nai mực nước trung bình tháng 7 dâng 0,28m so với tháng 6.
2. Cảnh báo nguồn nước dưới đất
Theo khoản 18 Điều 1 Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nướchạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại có 3 công trình có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo (xem bảng sau). Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.
Trong tỉnh hiện tại có 3 công trình có độ sâu mực nước vượt quá 50% ngưỡng giới hạn cho phép (GHCP).
Bảng 3. Cảnh báo mực nước trung bình tháng 7
|
STT |
SHLK |
TCN |
Vị trí |
Độ sâu mực nước (m) |
Ngưỡng GHCP (m) |
% ngưỡng GHCP |
|
1 |
Q223040 |
n22 |
xã Bù Đăng |
-4,00 |
-6,5 |
61,50 |
|
2 |
Q039340M1 |
qp1 |
xã Nhơn Trạch |
-14,79 |
-26,2 |
56,44 |
|
3 |
Q039030M1 |
qp23 |
xã Nhơn Trạch |
-14,41 |
-10 |
144,08 |
3. Đề xuất, kiến nghị
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực xã Bù Đăng, xã Nhơn Trạch.
Nhìn chung chất lượng nước tại các tầng chứa nước trên địa bàn thành phố trong mùa khô năm 2026 đa số tốt, tuy nhiên có một số công trình có hàm lượng Coliform, NH4+, Mn vượt GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT.