Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên tỉnh Gia Lai được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Gia Lai là một tỉnh nằm trên 4 lưu vực sông Sê San, Srê Pốk, Ba và Kôn – Hà Thanh có diện tích tự nhiên là 21.576,53km2. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 6 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ. Thông báo mực nước dưới đất tháng 6 và chất lượng nước mùa khô năm 2026; dự báo mực nước dưới đất tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 65 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 6 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ là 20789cm, tăng 18cm so với tháng trước, giảm 48cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 25cm so với tháng 6 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20853cm (ngày 05/6/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20746cm (ngày 23/6/2026).
Bảng 1. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 06 năm 2026
|
Trạm |
Yếu tố |
TBNN |
TB tháng trước |
Tháng 04 |
Tăng/giảm (-) % |
|
|
So với TBNN |
So với tháng trước |
|||||
|
YaYun Hạ |
Mực nước (cm) |
20814 |
20771 |
20789 |
-0,12 |
0,09 |
|
Lưu lượng nước (m3/s) |
21,8 |
9,0 |
13,6 |
-37,6 |
51,3 |
|
|
Tổng lượng nước (triệu m3) |
58,3 |
24,0 |
30,5 |
-47,7 |
26,9 |
|
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5. Giá trị hạ thấp nhất là 0,19m tại phường An Bình (LK15T) và giá trị dâng cao nhất là 0,73m tại xã Phú Thiện (LK151T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,01m tại xã Phú Thiện (CB1-IV) và sâu nhất là -13,25m tại xã Ia Rsai (LK36aT).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5. Giá trị hạ thấp nhất là 0,33m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,88m tại xã Tuy Phước Đông (QT10-BĐ) và sâu nhất là -2,89m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ).
Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tầng qh
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5. Giá trị hạ thấp nhất là 0,34m tại xã Đề Gi (QT1-BĐ) và giá trị dâng cao nhất là 0,29m tại phường An Nhơn (QT6a-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,41m tại xã Tuy Phước Đông (QT4-BĐ) và sâu nhất là -13,49m tại phường Quy Nhơn Đông (QT3-BĐ).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5. Giá trị hạ thấp nhất là 1,66m tại phường An Phú (CB1-I) và giá trị dâng cao nhất là 0,41m tại xã Biển Hồ (LK160T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,78m tại xã Biển Hồ (LK159T) và sâu nhất là -24,29m tại phường Thống Nhất (C3b).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5. Giá trị hạ thấp nhất là 1,9m tại xã Ia Krêl (LK164T) và giá trị dâng cao nhất là 0,97m tại xã Chư Păh (C2o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,58m tại xã Chư Prông (LK144T) và sâu nhất là -29,39m tại xã Đức Cơ (LK165T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế dâng so với tháng 5. Giá trị dâng cao nhất là 0,57m tại xã Phú Thiện (C7b) và giá trị hạ thấp nhất là 0,61m tại xã Ia Ly (LK62T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,22m tại xã Ia Ly (LK59T) và sâu nhất là -20,25m tại xã Ia Ly (LK62T).
Tầng chứa nước khe nứt trong đá biến chất Arkei (ar): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế dâng so với tháng 5. Giá trị mực nước dâng là 0,24m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,56m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ) và sâu nhất là -4,97m tại xã Bình An (QT7b-BĐ).
3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất
Theo Khoản 18 Điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại có 2 công trình có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo (xem bảng sau). Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.
Bảng 2. Cảnh báo độ sâu mực nước trung bình tháng 6
4. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trong tháng 6 năm 2026 khoảng 30,5 triệu m3, tăng khoảng 6,5 triệu m3 so với tháng trước. Theo QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số chất lượng nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun thuộc cột A. Cần có biện pháp để duy trì chất lượng nguồn nước hiện tại được tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu khai thác, sử dụng nước.
Đối với tài nguyên nước đưới đất: Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại khu vực xã Chư Păh, xã Đức Cơ.
Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, β(qp), β(n2-qp), n. Các thông số vượt bao gồm pH, Tổng Coliform, Nitrate, Amoni, Permanganat, Tổng chất rắn hòa tan, Độ cứng, Chloride, Mangan và Sắt.