Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Srê Pốk được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về dự báo tổng lượng nước nội sinh, cảnh báo nguồn nước tại các vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Lưu vực sông Srê Pốk là một trong những lưu vực sông lớn thuộc 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng với tổng diện tích lưu vực là 18.230 km2. Trên lưu vực sông Srê Pốk có 10 vị trí dự báo tổng lượng nước nội sinh tại 10 tiểu vùng dự báo
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 5 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên là 48700cm, tăng 35cm so với tháng trước, giảm 01cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 20cm so với tháng 5 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 48750cm (ngày 10/5/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 48665cm (ngày 04/5/2026).
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế dâng hạ không đáng kể, có 2/2 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể.
Sơ đồ diễn biến mực nước 5 tầng q
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 5/10 công trình mực nước hạ, 3/10 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 2/10 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 3,47m tại xã Ea Khăl, tỉnh Đắk Lắk (LK29T) và giá trị dâng cao nhất là 0,53m tại xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng (LK43T).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 12/24 công trình mực nước hạ, 9/24 công trình mực nước dâng và 3/24 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 2,58m tại xã Ia Hrú, tỉnh Gia Lai (LK170T) và giá trị dâng cao nhất là 2,77m tại xã Đắk Mil, tỉnh Lâm Đồng (LK41T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK52T thuộc xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 5 dâng hạ không đáng kể so với tháng 4.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 3/6 công trình mực nước hạ, 2/6 công trình mực nước dâng và 1/6 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,46m tại xã Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (LK25T) và giá trị dâng cao nhất là 0,3m tại xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk (LK28T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK53T thuộc xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 5 hạ 0,09m so với tháng 4.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK68T thuộc xã Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 5 dâng hạ không đáng kể so với tháng 4.
3. Dự báo nguồn nước mặt
Theo số liệu dự báo mưa từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy trong tháng 6 năm 2026, khu vực Cao nguyên Trung Bộ phổ biến thấp hơn 10 – 25%, trong khi nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn 0,5 – 1ºC so với TBNN cùng thời kỳ.
Dựa theo nhận định trên kết hợp với số liệu mưa dự báo từ vệ tinh, dự báo tổng lượng tài nguyên nước nội sinh từ mưa trên các vùng quy hoạch thuộc LVS Srê Pốk trong tháng 6 năm 2026 dao động trong khoảng 519,2 – 631,8 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Thượng Ea Krông Nô có tổng lượng dự báo dao động trong khoảng 99,2 – 117,8 triệu m3, thấp nhất tại vùng Hạ Ea H’leo có tổng lượng dự báo dao động trong khoảng 23,1 – 28,8 triệu m3.
4. Dự báo nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 6 so với mực nước quan trắc tháng 5 có xu thế dâng, có 2/2 công trình mực nước dâng. Mực nước dâng từ 0,05m đến 0,5m tập trung ở xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk và xã Quảng Phú, tỉnh Lâm Đồng.
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 6 so với mực nước quan trắc tháng 5 có xu thế dâng, có 7/10 công trình mực nước dâng, 3/10 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Ea Khăl, tỉnh Đắk Lắk; xã Đức Lập, xã Cư Jút của tỉnh Lâm Đồng và mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Cuôr Đăng, tỉnh Đắk Lắk.
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 6 so với mực nước quan trắc tháng 5 có xu thế dâng, có 20/24 công trình mực nước dâng, 4/24 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 4,0m đến 6,0m tập trung ở xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk và mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Chư Pưh, xã Chư Sê của tỉnh Gia Lai; phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk .
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Dự báo diễn biến mực nước trung bình tháng 6 tại công trình LK52T có xu thế dâng từ 0,05m đến 0,2m so với mực nước quan trắc tháng 5.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 6 so với mực nước quan trắc tháng 5 có xu thế dâng, có 5/6 công trình mực nước dâng, 1/6 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Ea Phê, xã Buôn Đôn, xã Ea Súp của tỉnh Đắk Lắk.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Dự báo diễn biến mực nước trung bình tháng 6 tại công trình LK53T có xu thế dâng từ 0,05m đến 0,2m so với mực nước quan trắc tháng 5.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Dự báo diễn biến mực nước trung bình tháng 6 tại công trình LK68T có xu thế dâng từ 0,5m đến 1m so với mực nước quan trắc tháng 5.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt:
Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trong tháng 5 năm 2026 khoảng 58,8 triệu m3, tăng khoảng 10,5 triệu m3 so với tháng trước. Theo QCVN 08:2023/BTNMT, tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trên sông Ea Krông Nô có các thông số TSS và Tổng Nitơ có giá trị chất lượng nước nước thuộc cột B, COD và BOD5 thuộc cột C. Cần có biện pháp xử lý kịp thời để cải thiện chất lượng nguồn nước, đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng nước.
Tổng lượng tài nguyên nước nội sinh từ mưa trên các vùng quy hoạch thuộc LVS Srê Pốk trong tháng 6 năm 2026 vào khoảng 519,2 – 631,8 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Thượng Ea Krông Nô có tổng lượng dự báo dao động trong khoảng 99,2 – 117,8 triệu m3, thấp nhất tại vùng Hạ Ea H'leo có tổng lượng dự báo dao động trong khoảng 23,1 – 28,8 triệu m3. Kết quả tính toán cân bằng nguồn nước trên lưu vực sông Srê Pốk cho thấy, trong tháng 6 năm 2026, lưu vực không xảy ra tình trạng thiếu nước, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước.
Trước tình hình nắng nóng gay gắt kéo dài trong năm 2026 tại khu vực Cao Nguyên Trung Bộ, chính quyền địa phương, người dân và các bên liên quan cần có kế hoạch sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hài hòa và hợp lý để giảm thiểu nguy cơ cạn kiệt nguồn nước.
Đối với tài nguyên nước dưới đất:
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng.
Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong GTGH bản theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, β(qp), j1-2, ar-s, g. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Mangan, Fluoride.