Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Dưới Đất Tỉnh Cà Mau Tháng 01 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất năm tỉnh Cà Mau được biên soạn 01 năm một lần vào đầu năm dự báo để cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.

Cà Mau là một tỉnh thuộc lưu vực sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng 7.942,4km2. Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nội dung chính của bản tin bao gồm: Thông báo mực nước dưới đất tháng 12 năm 2025, chất lượng nước mùa mưa năm 2025 và dự báo mực nước dưới đất tháng 01, tháng 02 năm 2026 tại các tầng chứa nước. Đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 42 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất, do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành. Trong bản tin này, tài nguyên nước dưới đất trong tỉnh được dự báo cho 7 tầng chứa nước.

1. Hiện trạng mực nước dưới đất  

          Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 so với tháng 11 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,05m tại xã Vĩnh Phước, tỉnh Cà Mau (Q632010). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,27m tại Phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau (Q17701T) và sâu nhất là -6,05m tại xã U Minh, tỉnh Cà Mau (Q631010).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocence trên (qp3): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 năm 2025 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,09m tại xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau (Q19901Z). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -5,97m tại Phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau (Q17701ZM1) và sâu nhất là -14,39m tại Phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau (Q597020M1).

 Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 so với tháng 11 năm 2025 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,24m tại xã Vĩnh Phước, tỉnh Cà Mau (Q632030) và giá trị dâng cao nhất là 0,17m tại xã Phú Mỹ, tỉnh Cà Mau (Q629030). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -8,84m tại xã U Minh, tỉnh Cà Mau (Q631030) và sâu nhất là -21,5m tại Phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau (Q188020).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 so với tháng 11 giá trị dâng cao nhất là 0,22m tại xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau (Q199030) và giá trị hạ thấp nhất là 0,23m tại xã Vĩnh Phước, tỉnh Cà Mau (Q632040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -8,78m tại xã U Minh, tỉnh Cà Mau (Q631040) và sâu nhất là -27,05m tại Phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau (Q188030M1).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 so với tháng 11 giá trị hạ thấp nhất là 0,24m tại Phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau (Q17704TM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,15m tại xã Phú Mỹ, tỉnh Cà Mau (Q629050). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -7,9m tại xã U Minh, tỉnh Cà Mau (Q631050) và sâu nhất là -26,13m tại Phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau (Q17704TM1).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n21): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 so với tháng 11 giá trị dâng cao nhất là 0,22m tại xã Trí Phải, tỉnh Cà Mau (Q608060) và giá trị hạ thấp nhất là 0,15m tại xã Vĩnh Phước, tỉnh Cà Mau (Q632060). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -10,52m tại xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau (Q19904ZM1) và sâu nhất là -24,55m tại Phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau (Q17704ZM1).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n13): TTrong phạm vi tỉnh, theo kết quả quan trắc tại công trình Q59704ZM1 thuộc Phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 dâng hạ không đáng kể 0,02m so với tháng 11.

2. Dự báo nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế dâng hạ không đáng kể.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế dâng hạ không đáng kể.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tíchPleistocene giữa-trên (qp2-3): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n21): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế hạ dao động khoảng 0,05 đến 0,2m.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n1 3): Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026 mực nước có xu thế dâng hạ không đáng kể.

3. Cảnh báo tài nguyên nước dưới đất

Theo khoản 2, Điều 24 của Nghị định số 131/2025/NĐ-CP về giới hạn mực nước khai thác, trong tỉnh thời điểm hiện tại có 12 công trình có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.

4. Đề xuất, kiến nghị

Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực Phường Giá Rai, Phường Tân Thành, Phường An Xuyên, xã Vĩnh Phước.

Trên địa bàn tỉnh thời điểm hiện tại có 12 công trình có độ sâu mực nước trung bình tháng vượt quá 50% giới hạn cho phép cần phải cảnh báo.

 Nhìn chung chất lượng nước tại các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh trong năm 2025 đa số tốt, tuy nhiên có một số công trình có hàm lượng TDS, Pb, F-, Mn và NH4+ vượt GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT.

Một số khu vực đáng chú ý gồm:

• Tầng qh (holocene): NH4+ vượt lớn nhất tại công trình Q597010 (xã Tân Thành) và chỉ tiêu Mn, Pb, TDS, F- vượt lớn nhất tại công trình Q631010 (xã U Minh).

• Tầng qp3 (Pleistocene trên): chỉ tiêu NH4+, TDS, Pb vượt lớn nhất tại công trình Q19901Z (xã Đất Mới) và chỉ tiêu Mn vượt lớn nhất tại công trình Q632020 (xã Vĩnh Phước).

• Tầng qp2-3 (Pleistocene giữa - trên): TDS vượt lớn nhất tại công trình Q177020M1 (Phường An Xuyên) và NH4+ vào mùa mưa vượt lớn nhất tại công trình Q631030 (xã U Minh), vào mùa khô vượt lớn nhất tại công trình Q199020 (xã Đất Mới).

• Tầng qp1 (Pleistocene dưới): TDS vượt lớn nhất tại công trình Q631040 (xã U Minh) và NH4+ vượt lớn nhất tại công trình Q597040 (Phường Tân Thành).

• Tầng n2 2 (Pliocene giữa): chỉ tiêu TDS, Mn vượt lớn nhất tại công trình Q631050 (xã U Minh) và chỉ tiêu NH4+ vượt lớn nhất vào mùa mưa tại công trình Q19904Z (xã Đất Mới), vượt lớn nhất vào mùa khô tại công trình Q629050 (xã Phú Mỹ).

• Tầng n2 1 (Pliocene dưới): chỉ tiêu TDS vượt lớn nhất tại công trình Q17704ZM1 (Phường An Xuyên) và NH4+ vượt lớn nhất tại công trình Q59704TM1 (Phường Tân Thành).

• Tầng n1 3 (Miocene trên): NH4+ vượt lớn nhất tại công trình Q59704ZM1 (Phường Tân Thành).

Đề nghị các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương:

• Rà soát, cập nhật thông tin chất lượng nước tại các khu vực trên;

           • Kịp thời ban hành cảnh báo và hướng dẫn người dân sử dụng nước an toàn.

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1780455556-0QAT9LFKwF.pdf