Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về tổng lượng nước nội sinh tại các tiểu vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định pháp luật.
Lưu vực sông Hồng – Thái Bình là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 15 tỉnh, thành phố với tổng diện tích là 88.860 km2. Mùa mưa trên lưu vực diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm:
- Dự báo tổng lượng nước nội sinh, tổng lượng nước có thể khai thác sử dụng và cảnh báo nguy cơ thiếu nước trong tháng 2 trên phạm vi 05 vùng dự báo: sông Đà, sông Thao, sông Lô - Gâm, sông Cầu - Thương, đồng bằng sông Hồng.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Tổng lượng mưa năm của lưu vực dao động bình quân từ 1.000 – 1.300mm; Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên lưu vực sông khoảng 131,4 tỷ m3, trong đó lượng nước ngoại sinh từ địa phận nước ngoài chảy vào Việt Nam khoảng 48,3 tỷ m3, lượng nước nội sinh trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 83,1 tỷ m3, cơ cấu tỉ lệ dòng chảy theo mùa lần lượt là dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 90% và mùa cạn chiếm 10% tổng lượng dòng chảy năm.
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trên (qh2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế hạ, có 26/40 công trình mực nước hạ, 11/40 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/40 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,82m tại phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội (Q.67) và giá trị dâng cao nhất là 0,11m tại xã Đồng Thịnh, tỉnh Ninh Bình (Q.108).
Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 1 lớp qh2
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen dưới (qh1): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế hạ, có 15/24 công trình mực nước hạ, 6/24 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/24 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,73m tại xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên (Q.119) và giá trị dâng cao nhất là 0,29m tại phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình (Q.84a).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế hạ, có 10/14 công trình mực nước hạ, 3/14 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/14 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,38m tại xã Đông Anh, thành phố Hà Nội (Q.34a) và giá trị dâng là 0,1m tại xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên (Q.159a).
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen dưới (qp1): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế hạ, có 45/63 công trình mực nước hạ, 11/63 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 7/63 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,83m tại xã Sơn Đông, tỉnh Phú Thọ (Q.1aM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,13m tại xã phụ Dực, tỉnh Hưng Yên (Q.159b).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen: Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế hạ, có 8/10 công trình mực nước hạ, 2/10 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,55m tại phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội (Q.214).
Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên Trias giữa - trên (t2-3): Theo kết quả quan trắc tại phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Q.116b), mực nước trung bình tháng 1/2026 hạ 0,24m so với tháng 12/2025.
Tầng chứa nước karst trong trầm tích Trias giữa (t2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế hạ, có 2/2 công trình mực nước hạ. Giá trị hạ thấp nhất là0,18m tại xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội (Q.177b).
Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat Carbon - Pecmi (c-p): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 1/2026 so với tháng 12/2025 có xu thế không rõ ràng, có 1/2 công trình mực nước hạ, 1/2 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,11m tại phường Nhị Chiểu, thành phố Hải Phòng (Q.143a).
Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích biến chất Ordovic trên - Silur (o3-s): Theo kết quả quan trắc tại phường Kiến An, TP Hải Phòng (Q.164b) mực nước trung bình tháng 1/2026 hạ 0,11m so với tháng 12/2025.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt:
Trên toàn lưu vực Hồng – Thái Bình, trong tháng 02 năm 2026 có tổng lượng nước mặt dự báo đạt trung bình khoảng 1510,61 triệu m3, trên lưu vực không xảy ra hiện tượng thiếu nước.
Việc phân bổ hài hòa nguồn nước cho các đối tượng sử dụng nước sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh. Mặt khác, vẫn cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thôg qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Đối với tài nguyên nước dưới đất:
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực phường Tây Tựu, phường Cầu Giấy - TP Hà Nội; xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình.
Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước Holocen (qh), Pleistocen (qp). Các thông số vượt chủ yếu bao gồm độ mặn, Mangan, Arsenic, Chì và Amoni