Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tháng tỉnh An Giang được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.
An Giang là một tỉnh thuộc lưu vực sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng 9.888,9km2. Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nội dung chính của bản tin bao gồm: Thông báo mực nước dưới đất tháng 04 năm 2026, chất lượng nước mùa mưa năm 2025 và dự báo mực nước dưới đất tháng 4, tháng 5 năm 2026 tại các tầng chứa nước. Đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 47 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành. Trong bản tin này, tài nguyên nước dưới đất trong tỉnh được dự báo cho 6 tầng chứa nước chính.
1. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 so với tháng 3 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,25m tại xã Kiên Lương, tỉnh An Giang (Q104010). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,9m tại xã Châu Thành, tỉnh An Giang (Q40101T) và sâu nhất là -4,97m tại xã Cần Đăng, tỉnh An Giang (Q204010).
Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 04 tầng qh
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 so với tháng 3 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,33m tại xã Hòa Điền, tỉnh An Giang (Q10401Z) và giá trị dâng cao nhất là 0,08m tại xã Tân Hiệp, tỉnh An Giang (Q625020). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,61m tại xã Hòa Điền, tỉnh An Giang (Q10401Z) và sâu nhất là -10,31m tại xã Vĩnh Hòa Hưng, tỉnh An Giang (Q627020).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 so với tháng 3 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,31m tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang (Q203040M1). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,11m tại xã Phú An, tỉnh An Giang (Q611030) và sâu nhất là -10,94m tại xã Châu Thành, tỉnh An Giang (Q40102Z).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 so với tháng 3 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,27m tại xã Châu Thành, tỉnh An Giang (Q401030). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,23m tại xã Phú An, tỉnh An Giang (Q611040) và sâu nhất là -11,71m tại xã Vĩnh Hòa Hưng, tỉnh An Giang (Q627040).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 so với tháng 3 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,19m tại xã Phú An, tỉnh An Giang (Q611050). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,38m tại xã Phú An, tỉnh An Giang (Q611050) và sâu nhất là -12,54m tại xã Vĩnh Hòa Hưng, tỉnh An Giang (Q627050).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n21): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 so với tháng 3 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,06m tại xã Châu Thành, tỉnh An Giang (Q40104Z). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -7,82m tại xã Tân Hiệp, tỉnh An Giang (Q625060) và sâu nhất là -11,21m tại xã Long Kiến, tỉnh An Giang (Q619060).
2. Cảnh báo nguồn nước dưới đất
Theo khoản 18 Điều 1 Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại có công trình Q003010 (TCN qh - Phường Vĩnh Tế) độ sâu mực nước trung bình tháng 4 là -1,80m đạt 51,30% so với mực nước hạ thấp cho phép (-3,5 m). Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.
Trong tỉnh hiện tại có 1 công trình có độ sâu mực nước vượt quá 50% ngưỡng giới hạn cho phép (GHCP).
3. Đề xuất, kiến nghị
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực Phường Vĩnh Tế.
Đa số các chỉ tiêu chất lượng nước trong tỉnh nằm trong giới hạn cho phép, đáp ứng các chỉ tiêu cơ bản theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên, một số công trình có thông số vượt ngưỡng giới hạn cho phép, tập trung ở các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3), Pleistocene giữa-trên (qp2-3), Pleistocene dưới (qp1) và tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22), Pliocene dưới (n21). Các thông số vượt ngưỡng chủ yếu bao gồm hàm lượng TDS, Mangan, Pb, F- và Amoni