Tìm hiểu về chỉ số bền vững lưu vực sông

Việc đề xuất được bộ chỉ số tài nguyên nước mặt đánh giá khả năng nguồn nước là một trong những yếu tố quan trọng phục vụ quy hoạch tài nguyên nước. Hiện nay một số nước trên thế giới đã và đang sử dụng các chỉ số đánh giá tài nguyên nước phù hợp với điều kiện phát triển và yêu cầu phát triển cụ thể của từng nước để đánh giá khả năng nguồn nước của các lưu vực sông.

Chương trình “Đánh giá tài nguyên nước và tiềm năng nước sử dụng nước trên thế giới” (Assessment of water resources and water availability in the world) thuộc chương trình “Đánh giá toàn diện tài nguyên nước ngọt trên thế giới” (Comprehensive assessment of the fresh water resources in the world) do giáo sư I.A.Shiklomanov, Viện Thủy văn Liên bang Nga thực hiện năm 1997. Dựa trên số liệu của 2400 trạm quan trắc Khí tượng Thủy văn toàn thế giới với thời gian quan trắc từ 5 đến 178 năm, tác giả đã đưa ra đánh giá về tổng lượng nước trên trái đất, hệ số biến động cũng như tiềm năng nguồn nước sẵn có trên các lục địa. Công trình cũng đưa ra các dạng phân bố dòng chảy trong năm, xu thế biến đổi của tổng lượng tài nguyên nước theo chu kỳ nhiều năm của một số lưu vực điển hình.

Tại Mỹ, việc đánh giá xác định tiềm năng nguồn nước không chỉ ở các công trình nghiên cứu mà được cụ thể hóa bằng các đạo luật. Cơ quan điều tra địa chất Mỹ (USGS) thuộc Bộ Nội vụ đã liên tiếp đánh giá tài nguyên nước theo các khía cạnh lượng nước, chất lượng nước thông qua chương trình “Tóm tắt về nguồn nước Quốc gia” (National water summary).

Tại Thụy Điển, công trình “Đánh giá nước quốc tế trên phạm vi toàn cầu” (Global international water assessment) do UNEP, GEP và Trường đại học Kalmar thực hiện. Mục tiêu là thực hiện việc đánh giá toàn diện có tính chiến lược phục vụ các cơ quan hỗ trợ môi trường toàn cầu GEP và các cơ quan liên quan xác định thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hồi phục và giảm nhẹ thiệt hại đối với vật thể nước liên quốc gia nhằm đạt được những lợi ích về môi trường toàn cầu.

Từ những năm 1960 tổ chức khí tượng thế giới WMO đã có các chương trình liên quốc gia về đánh giá và dự báo tài nguyên nước nhằm có những kế hoạch quản lý tổng hợp và phân bổ nguồn nước giữa các lưu vực sông một cách hợp lý.

Tính bền vững của lưu vực sông phản ánh tình trạng của lưu vực sông đó bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, đời sống của con người cũng như tình hình quản lý lưu vực sông nhằm đảm bảo nhu cầu hiện tại, đồng thời không làm tổn hao đến nhu cầu của thế hệ tương lai. Hiện nay, việc khai thác bừa bãi tài nguyên nước (TNN) lưu vực sông đang làm suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, xã hội trong lưu vực. Do đó, cần quản lý bền vững lưu vực sông, tức là quản lý tài nguyên nước phải lấy lưu vực sông – nơi hình thành tài nguyên nước làm đơn vị quản lý.

Nghiên cứu do hai nhà khoa học Chaver và Alipaz (2006) đưa ra chỉ số bền vững lưu vực sông WSI, và được UNESCO công nhận sử dụng rộng rãi cho tới nay. Chỉ số này bao gồm các chỉ thị về Thủy văn – Hydrology (H), Môi trường- Environment (E), Đời sống – Life (L) và Chính sách – Policy (P) trong lưu vực ; môi chỉ thị lại có các tham số (chỉ thị phụ) về Sức ép (Pressure), Hiện trạng (State) và Ứng phó ( Response). Tham số Sức ép phản ánh sức ép của các hoạt động của con người đến lưu vực sông; tham số Hiện trạng phản ảnh tình trạng của lưu vực sông trong năm nền của giai đoạn tính toán (năm cơ sở để so sánh) như là số lượng và chất lượng của tài nguyên thiên nhiên; tham số Phản ứng xem xét mức phát triển, cải thiện các vấn đề của xã hội đối với sinh thái trong lưu vực. Cơ cấu Sức ép – Hiện trạng – Ứng phó phản ánh tổng hợp các quan hệ Nhân – Quả và do đó đưa ra sự đánh giá lưu vực sông toàn diện hơn so với một chỉ số chỉ xét đến hiện trạng Giá trị WSI biến đổi trong phạm vi (0-1). Nếu cho trọng số của các chi thị bằng nhau thì WSI được tính bằng giá trị trung bình số học của 4 chỉ thị nêu trên theo công thức dưới đây:

sp85

WSI (giá trị từ 0-1) được tính là trung bình của 4 chỉ số bao gồm chỉ số thủy văn H (giá trị từ 0-1), chỉ số môi trường E (0-1), chỉ số cuộc sống (con người) L (0-1), và chỉ số về chính sách P (0-1). Mỗi 1 đại lượng được cho điểm theo thang 0, 0.25, 0.50, 0.75, hoặc 1.0. Tất cả các chỉ số đều có phần trăm như nhau, mặc dù cho các đại lượng có thể sẽ khác nhau giữa các lưu vực, và nên được chọn bởi sự đồng ý giữa các bên có liên quan. Đại lượng về áp lực WSI (bảng 2), và đại lượng trạng thái (bảng 2), các cấp độ, thang điểm đều được định nghĩa rõ ràng và hệ thống kĩ càng để thuận tiện cho người sử dụng có thể đánh giá điểm cho từng đại lượng 1 cách chinh xác nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình lại dựa vào lượng thông tin sẵn có về lưu vực, việc này có thể sẽ không thực sự thuận tiện ở nhiều nơi. Việc áp dụng quy trình đánh giá này ở cấp độ toàn cầu cũng không thực sự có ý nghĩa nhiều

sp86

sp87