Đánh giá tài nguyên nước dưới đất vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ

Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ phần thuộc lãnh thổ Việt Nam gồm hai tỉnh, thành phố có tuyến vành đai kinh tế đi qua là Quảng Ninh và Hải Phòng, có diện tích tự nhiên 7.418,8 km2, dân số gần 2,9 triệu người, chiếm 2,24% diện tích tự nhiên và 3,44% dân số cả nước.

Phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ thành khu vực kinh tế năng động, có sức thúc đẩy cả vùng Bắc Bộ và trở thành động lực trong hợp tác phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật với Trung Quốc và các nước ASEAN, đồng thời kết nối với các khu vực ven biển khác trong cả nước tạo thành một vành đai kinh tế ven biển phát triển nhanh, thúc đẩy và gắn kết với các vùng khác trong nội địa cùng phát triển.

Để phát triển kinh tế cho khu vực vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ một trong các yếu tố quan trọng chính là làm sáng rõ đặc điểm tài nguyên nước và đánh giá được tiềm năng, trữ lượng và chất lượng tài nguyên nước. Qua kết quả điều tra sơ bộ đã chia ra được 02 tầng chứa nước lỗ hổng, 04 tầng chứa nước khe nứt và 1 thành tạo địa chất rất nghèo nước. Trong đó có 01 tầng xếp vào loại có mức độ chứa nước trung bình nhưng không liên tục là tầng chứa nước Pleistocen (qp). Còn 4 tầng nghèo nước là tầng chứa nước Holocen (qh), hệ tầng Hà Cối (j1-2), hệ tầng Mẫu Sơn (t3), hệ tầng Nà Khuất (t22), hệ tầng Tiên Yên (t21). Ngoài ra, quá trình điều tra tổng quan còn xác định ranh giới giữa các tầng chứa nước, các đứt gãy kiến tạo.Kết quả đánh giá trữ lượng nước tiềm năng nước dưới đất của các tầng chứa nước trong khu vực là 284.046 m3/ngày. Trong đó tầng chứa nước qh và tầng chứa nước t2 có trữ lượng lớn nhất: tầng qh là 88.821 m3/ngày; tầng t2 là 113.466 m3/ngày. Tầng chứa nước t2 có chiều dày lớn lên tới 50m, phân bố thành dải theo phương Đông bắc – Tây Nam từ xã Quảng Sơn huyện Hải Hà đến xã Bắc Sơn thành phố Móng Cái. Mức độ chứa nước của tầng thuộc loại từ nghèo đến trung bình, là tầng chứa nước có triển vọng