Thu02222018

Last update12:37:48 AM GMT

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng Bắc trung bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 9 và tháng 10 năm 2016. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tỉnh Thanh Hóa 

1. Tầng chứa nước Holocene (qh) 

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 8 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 7. Giá trị dâng cao nhất là 0,31m tại xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc (QT3-TH).

QT3

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 8 năm 2016 và so với cùng thời điểm 1 năm trước và 5 năm trước được thể hiện chi tiết trong bảng 1, 2 và hình 2,3.

Bảng 1. Mực nước TB tháng cực trị cùng thời điểm năm trước và 5 năm trước

Thời gian

Mực nước TB tháng sâu nhất

Mực nước TB tháng nông nhất

Giá trị (m)

Địa điểm

Giá trị (m)

Địa điểm

Tháng 8/2016

8,11

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,81

Xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc (QT3-TH)

1 năm trước (8/2015)

8,05

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,77

Xã Trung Chính, huyện Nông Cống (QT11-TH)

5 năm trước (8/2011)

6,70

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,76

Xã Trung Chính, huyện Nông Cống (QT11-TH)

Dự báo: Trong tháng 9 mực nuớc tại các công trình có xu thế dâng chiếm uu thế trừ một công trình hạ thấp nhẹ là QT2-TH tại xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa

Cảnh báo: không có cảnh báo.

2.  Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nuớc trung bình tháng 8 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 7. Giá trị dâng cao nhất là 0,30m tại xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân (QT5a-TH).

Dự báo: Trong tháng 9 mực nuớc tại các công trình có xu thế dâng chiếm uu thế trừ.

Cảnh báo: không có cảnh báo

 

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng đồng bằng Bắc bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 9 và tháng 10. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước 

I.1. Tầng chứa nước Holocene (qh) 

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 so với trung bình tháng 7: nhìn chung mực nước có xu thế dâng cao trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,47m. Do thời gian này là giữa mùa mưa nên trong tháng 8 đã có tới 35/41 công trình quan trắc có mực dâng cao, phân bố hầu hết trên đồng bằng5 công trình có mực nước biến động không đáng kể. Chỉ có 1/41 công trình quan trắc mực nước hạ thấp nằm ở tỉnh Hà Nam. Giá trị mực nước dâng cao nhất là 1,58m tại Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc (Q.10M1) và hạ thấp nhất là 0,14m tại xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, Tỉnh Hà Nam (Q.87).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,36m trên mặt đất tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1) và sâu nhất là 10,14m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

QT2

Dự báo mực nuớc tháng 9: mực nuớc có xu thế dâng cao so với tháng 8

I.2. Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nuớc duới dất tháng 8 so với giá trị trung bình tháng 7: nhìn chung mực nuớc có xu thế dâng cao trên toàn dồng bằng với giá trị trung bình là 0,43m. Do thời gian này là thời kỳ mùa mua nên tầng chứa nuớc này có 53/64 côngtrình quan trắc có mực nuớc dâng cao thuộc các vùng ven sông lớn phía bắc, tây bắcdồng bằng và 6/64 công trình mực nuớc biến dộng không dáng kể. Vùng phía nam Hà

Nội, và ven biển thuộc tỉnh Thái Bình có 5/64 công trình quan trắc có mực nuớc hạthấp. Giá trị mực nuớc hạ thấp nhất là 2,42m tại phuờng Phú Lãm, quận Hà Ðông, TPHà Nội (Q.69a) và dâng cao nhất là 1,97m tại P. Ðồng Tâm, TP. Vinh Yên, tỉnh VinhPhúc (Q.5).

Mực nuớc trung bình tháng nông nhất là 0,53m tại phuờng Lê Hồng Phong, TP.Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là 28,69m tại phuờng Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).


Dự báo mực nuớc tháng 9: mực nuớc có xu thế dâng cao. Tuy nhiên tại các

vùng khai thác nuớc tập trung, lớn nhu trung tâm Hà Nội và TP. Vinh Yên, mực nuớc một có xu thế hạ thấp


Thông báo tài nguyên nước mặt 08/2016 vùng Duyên hải Nam trung bộ và Tây nguyên

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2204/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 6 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được bố trí như sau:

Trạm Ya Yun Hạ (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 1.150 km2; được quan trắc từ tháng 1 năm 2012.

Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011;

Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034’ vĩ độ Bắc, 107021’ kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 2 năm 2012.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 

Tài nguyên nước sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh

Chế độ nước sông Yên Thuận biến đổi theo mùa; mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8, mùa lũ từ tháng 9 đến hết tháng 12.

Theo liệt số liệu quan trắc (từ năm 2012 - 2016) cho thấy trong mùa cạn, vị trí tuyến quan trắc bị ảnh hưởng bởi nước dềnh của hồ Phú Ninh, do đó không thông báo kết quả quan trắc H, Q và ; chỉ thông báo kết quả quan trắc chất lượng nước sông Yên Thuận.

Kết quả quan trắc chất lượng nước tháng 8 năm 2016 được tổng hợp, đánh giá như sau:

QT1

Theo kết quả quan trắc chất lượng nước tại trạm Phú Ninh trong tháng 8 năm 2016 cho thấy các chỉ tiêu đều nằm trong giá trị giới hạn cho phép (theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT).

Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy: trong tháng 8 năm 2016, chất lượng nước sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Hiện trạng trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt khu vực Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt duợc xây dựng theo Quyết dịnh số 2204/QÐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên vàMôi truờng về việc phê duyệt dự án dầu tu xây dựng công trình “Xây dựng mới 6 trạmquan trắc tài nguyên nuớc mặt khu vực Tây Nguyên giai doạn 2007-2010”.  Các yếu tốquan trắc chủ yếu là nhiệt dộ nuớc, mực nuớc, luu luợng, hàm luợng chất lo lửng vàchất luợng nuớc.

Các trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt duợc bố trí nhu sau:

- Trạm Ya Yun Hạ (tọa dộ dịa lý: 13o42’ vi dộ Bắc, 108o10’ kinh dộ Ðông)nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chu Sê tỉnh Gia Lai;thuộc luu vực sông Ba, diện tích luu vực khống chế là 1.150 km2; duợc quan trắc từ tháng 1 nam 2012.

- Trạm Ðức Xuyên (tọa dộ dịa lý: 12º10’ vi dộ Bắc 108º07’ kinh dộ Ðông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Ðắk Lắk; thuộc luu vực sông Srê Pốk, diện tích luu vực khống chế là 980 km; duợc quantrắc từ tháng 4 nam 2011;

- Trạm Ðại Ninh (tọa dộ dịa lý: 110 43’ vi dộ Bắc, 108022’ kinh dộ Ðông)duợc xây dựng ở bờ phải sông Ða Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Ðức Trọng tỉnh Lâm Ðồng; thuộc luu vực sông Ðồng Nai, diện tích luu vực khống chế l1.380 km2; duợc quan trắc từ tháng 7 nam 2011;

- Trạm Cát Tiên (tọa dộ dịa lý: 11034’ vi dộ Bắc, 107021’ kinh dộ Ðông) nằm trên bờ trái sông Ðồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Ðồng; thuộc luu vực sông Ðồng Nai, diện tích luu vực khống chế là 1.980 km; duợc quan trắc từ tháng 2 nam 2012

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng Nam Bộ

Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và năm 2016 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 9 và 10 năm 2016. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước

I.1. Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3) 

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 so với giá trị trung bình tháng 7 mực nước có xu thế dâng, có 30/41 công trình mực nước dâng và 11/41 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 2,13m tại phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q011020).

Trong tháng 8: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 10,58m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902A). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,65m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302F).

QT6

Diễn biến mực nước dưới đất mực nước tháng 8 so với cùng thời điểm 1 năm trước, 5 năm trước và 10 năm trước được thể hiện chi tiết trong bảng 1, 2 và các hình 2, 3, 4. Mực nước suy giảm lớn nhất so với cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước lần lượt là 1,07m; 4,36m và 4,66m tại huyện Bình Chánh, Quận 12 - TP Hồ Chí Minh và huyện Trà Cú - tỉnh Trà Vinh

Kết quả chi tiết quý độc giả quan tâm có thể tải file Tại đây 

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).

Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 9, 10 năm 2016. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước

I.1. Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q) 

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 so với giá trị trung bình tháng 7: mực nước có xu thế hạ chiếm ưu thế, có 15/31 công trình có mực nước hạ, 12/31 công trình có mực nước dâng và 4/31 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,27m tại Tân Văn-Lâm Hà-Lâm Đồng (LK115T) và giá trị dâng cao nhất là 1,36m tại TT.Phú Thiện-Phú Thiện-Gia Lai (LK153T) (xem hình 1).

Trong tháng 8: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 9,71m tại Ninh Gia-Đức Trọng-Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,78m tại Tân Văn-Lâm Hà-Lâm Đồng (LK117T).

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước được ghi chi tiết trong bảng 1, 2 và các hình 2, 3 và 4. Mực nước suy giảm lớn nhất so với cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước lần lượt là 3,47m; 4,79m và 4,59m tại Phú Thiện-Gia Lai

QT5

Kết quả chi tiết quý độc giả quan tâm có thể tải file Tại đây


Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 7 năm 2016 vùng Bắc Bộ

- Tầng chứa nước Holocene (qh): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với trung bình tháng 6: nhìn chung mực nước có xu thế dâng cao trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,10m. Do thời gian này là giữa mùa mưa nên trong tháng 7 đã có tới 24/41công trình quan trắc có mực dâng cao phân bố chủ yếu phía bắc đồng bằng hoặc dọc các con sông lớn và 10 công trình có mực nước biến động không đáng kể. Khu vực có mực nước còn hạ thấp với 7/41 công trình quan trắc phân bố ở phía nam đồng bằng tới vùng ven biển. Giá trị mực nước dâng cao nhất là 0,86m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67) và hạ thấp nhất là 0,20m tại xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội (Q.33). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,12m trên mặt đất tại phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội (Q.65) và sâu nhất là 10,34m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

Dự báo mực nước tháng 8: mực nước có xu thế dâng cao so với tháng 7 trừ một điểm ở Hà Nội.

- Tầng chứa nước Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6: nhìn chung mực nước xu thế biến động không đáng kể trên toàn đồng bằng. Do thời gian này là thời kỳ mùa mưa nên tầng chứa nước này có 30/64 công trình quan trắc có mực nước dâng cao thuộc các vùng ven sông lớn phía bắc, tây bắc đồng bằng và 14/64 công trình mực nước biến động không đáng kể. Vùng phía nam Hà Nội, và ven biển thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định có 20/64 công trình quan trắc có mực nước hạ thấp. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 1,18m tại xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội (Q.57a) và dâng cao nhất là 0,48m tại P. Đồng Tâm, TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.5).

Dự báo mực nước tháng 8: mực nước có xu thế dâng cao chiếm ưu thế. Tuy nhiên tại các vùng trung tâm Hà Nội và các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc, mực nước một số nơi vẫn hạ thấp.

BacBoT7-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 7 năm 2016 vùng Bắc Trung Bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 8 và tháng 9 năm 2015.

- Tỉnh Thanh Hóa.

Tầng chứa nước Holocene (qh) Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng cao là chính tại khu vực ven biển, khu vực phía trong có xu thế biến đổi không đáng kể và hạ thấp so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế dâng là chính so với tháng 7.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ thấp so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế dâng chiếm ưu thế.

- Tỉnh Hà Tĩnh

Tầng chứa nước Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ thấp so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế biến động không đáng kể và chỉ có công trình tại xã Sơn Lộc, huyện Can lộc (QT3-HT) có xu thế hạ thấp so với tháng trước. Trong tháng 9 mực nước có xu thế dâng cao.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ thấp và biếnđộng không đáng kể so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 và tháng 9 mực nước tại các công trình có xu thế dâng cao so với tháng trước.

BacTrungBoT7-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

- Tỉnh Thanh Hóa.

Tầng chứa nước Holocene (qh) Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng cao là chính tại khu vực ven biển, khu vực phía trong có xu thế biến đổi không đáng kể và hạ thấp so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế dâng là chính so với tháng 7.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ thấp so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế dâng chiếm ưu thế.

- Tỉnh Hà Tĩnh

Tầng chứa nước Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ thấp so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế biến động không đáng kể và chỉ có công trình tại xã Sơn Lộc, huyện Can lộc (QT3-HT) có xu thế hạ thấp so với tháng trước. Trong tháng 9 mực nước có xu thế dâng cao.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế hạ thấp và biếnđộng không đáng kể so với trung bình tháng 6.

Dự báo: Trong tháng 8 và tháng 9 mực nước tại các công trình có xu thế dâng cao so với tháng trước.

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 7 năm 2016 vùng Nam Bộ

Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và năm 2016 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 8 và 9 năm 2016.
Tổng quan diễn biến mực nước

- Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6 mực nước có xu thế dâng, có 32/41 công trình mực nước dâng, 2/41 công trình mực nước hạ và 7/41 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,11m tại phường 9, TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Q17701ZM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,88m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302C). Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 11,01m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902A). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,66m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302F).

- Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6 mực nước có xu thế dâng, có 32/41 công trình mực nước dâng, 2/41 công trình mực nước hạ và 7/41 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,11m tại phường 9.

- Tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6 mực nước có xu thế dâng, có 21/27 công trình mực nước dâng, 1/27 công trình mực nước hạ và 5/27 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể.

- Tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6 mực nước có xu thế dâng, có 15/19 công trình mực nước dâng và 4/19 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể.

- Tầng chứa nước Pliocene trung (n22): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6 mực nước có xu thế dâng, có 20/26 công trình mực nước dâng và 6/26 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể.

- Tầng chứa nước Pliocene hạ (n21): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6 mựcnước có xu thế dâng là chính, có 14/24 công trình mực nước dâng, 1/24 công trìnhmực nước hạ và 9/24 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể

Dự báo chung mực nước các tỉnh thành phố

Thành phố Hồ Chí Minh: Trong tháng 8, 9 là thời điểm mùa mưa mực nước tiếp tục có xu thế dâng.

Tỉnh Bình Dương: Trong tháng 8, 9 là thời điểm mùa mưa mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Bình Phước: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Tây Ninh: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng là chính.

Tỉnh Đồng Nai: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng.

Tỉnh Long An:: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Đồng Tháp: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Bến Tre: Trong tháng 8, 9 mực nước biến đổi không đáng kể

Tỉnh An Giang: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng.

Thành phố Cần Thơ: Trong tháng 8, 9 mực nước biến đổi không đáng kể.

Tỉnh Vĩnh Long: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng.

Tỉnh Trà Vinh: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Kiên Giang: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Hậu Giang: Trong tháng 8, 9 mực nước hạ thấp song không đáng kể

Tỉnh Sóc Trăng: Trong tháng 8, 9 mực nước biến đổi không đáng kể.

Tỉnh Bạc Liêu: Trong tháng 8, 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Cà Mau: Trong tháng 8, 9 mực nước biến đổi không đáng kể

NamBoT7-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết như sau: Tại đây