Tue08042020

Last update04:32:39 AM GMT

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 6 Năm 2020

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có 2 trạm trạm quan trắc TNN mặt (Phú Ninh và An Thạnh). Kết quả quan trắc cho thấy như sau.

Về mực nước: 

– Trạm Phú Ninh: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh là 3141cm, giảm 14cm so với tháng trước, giảm 7cm so với tháng cùng kỳ năm 2019. Giá trị mực nước lớn nhất là 3150cm (ngày 01/6), giá trị mực nước nhỏ nhất là 3134cm (ngày 27/6).

– Trạm An Thạnh: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 324cm, tăng 06cm so với tháng trước, tăng 08cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 03cm so với giá trị tháng 6 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 343cm (ngày 19/6), giá trị mực nước nhỏ nhất là 310cm (ngày 10/6).

Về lưu lượng nước:

– Trạm Phú Ninh: Trong tháng 6 năm 2020, tại trạm Phú Ninh tiến hành đo lưu lượng nước 3 lần. Lưu lượng trung bình tháng 6 là 12,2m3/s, giảm 6,8m3/s so với tháng trước, tăng 0,5m3/s so với tháng 6 năm 2019. Lưu lượng nước lớn nhất là 15,5m3/s (ngày 01/6), lưu lượng nước nhỏ nhất là 9,31m3/s (ngày 22/6).

– Trạm An Thạnh: Trong tháng 6 năm 2020, tại trạm An Thạnh có 02 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 6 là 67,6m3/s, tăng 0,7m3/s so với tháng trước, tăng 5,3m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 1,5m3/s so với tháng 6 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 80,1m3/s (ngày 07/6), lưu lượng nước nhỏ nhất là 55,1m3/s (ngày 25/6).

Về chất lượng nước:

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại trạm Phú Ninh theo chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.

–  Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại trạm An Thạnh theo chỉ số WQI cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý phù hợp; đến giữa tháng, chất lượng nước sông có thể sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt.

Vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên có 4 trạm quan trắc TNN mặt (Ya Yun Hạ, Đức Xuyên, Đại Ninh và Cát Tiên). Kết quả quan trắc cho thấy như sau:

Về mực nước:

– Tại trạm Ya Yun Hạ: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Yayun tại trạm Ya Yun Hạ là 20794cm, tăng 21cm so với tháng trước, giảm 13cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 103cm so với tháng 6 TBNN. Giá trị mực nước lớn nhất là 20865cm (ngày 18/6), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20745cm (ngày 04/6).

– Tại trạm Đức Xuyên: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48674cm, tăng 9cm so với tháng trước, giảm 74cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 11cm so với giá trị tháng 6 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48710cm (ngày 25/6), giá trị nhỏ nhất là 48617cm (ngày 11/6).

– Tại trạm Đại Ninh: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 88026cm, tăng 39cm so với tháng trước, tăng 17cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 11cm so với giá trị tháng 6 TBNN. Giá trị lớn nhất là 88108cm (ngày 21/6), giá trị nhỏ nhất là 87985cm (ngày 01/6).

– Tại trạm Cát Tiên: Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12725cm, tăng 16cm so với tháng trước, tăng 18cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 50cm so với giá trị tháng 6 TBNN. Giá trị lớn nhất là 12892cm (ngày 27/6), giá trị nhỏ nhất là 12546cm (ngày 05/6).

Về lưu lượng nước:

– Tại trạm Ya Yun Hạ: Trong tháng 6 năm 2020, tại trạm YaYun Hạ có 08 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 6 là 19,7m3/s, tăng 10,7m3/s so với tháng trước, giảm 1,9m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 1,8m3/s so với tháng 6 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 30,9m3/s (ngày 18/5), lưu lượng nước nhỏ nhất là 7,64m3/s (ngày 23/6).

– Tại trạm Đức Xuyên: Tháng 6 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 06 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 6 là 22,5m3/s, tăng 2,9m3/s so với tháng trước, giảm 14,0m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 8,2m3/s so với tháng 6 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 26,7m3/s (ngày 23/6), lưu lượng nước nhỏ nhất là 17,5m3/s (ngày 08/6).

– Tại trạm Đại Ninh: Tháng 6 năm 2020, tại trạm Đại Ninh có 06 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 6 là 17,6m3/s, tăng 15,81m3/s so với tháng trước, tăng 8,85m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và tăng 7,8m3/s so với tháng 6 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 65,5m3/s (ngày 21/6), lưu lượng nhỏ nhất là 4,55m3/s (ngày 02/6).

– Tại trạm Cát Tiên: Tháng 6 năm 2020, tại trạm Cát Tiên có 07 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng trung bình tháng 6 là 134m3/s, giảm 21m3/s so với tháng trước, giảm 11,4m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 21,1m3/s so với tháng 6 TBNN. Lưu lượng lớn nhất là 214m3/s (ngày 25/6), lưu lượng nhỏ nhất là 64,8m3/s (ngày 05/6).

Về chất lượng nước:

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Ya Yun tại trạm Yayun Hạ cho thấy cho thấy vào đầu tháng, chất lượng nước sông đáp ứng mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác. Đến giữa tháng, chất lượng sông suy giảm, sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích tương đương khác.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp. Đến giữa tháng, do nồng độ TSS và tổng Coliform tăng cao bất thường, chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý thích hợp.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp. Đến giữa tháng, do nồng độ TSS và NO2tăng cao bất thường, chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý thích hợp.

– Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên cũng cho thấy chất lượng nước sông có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Mặt Tháng 6 Năm 2020 Vùng Lưu Vực Sông Sprepok

  1. Kết quả quan trắc số lượng và chất lượng nước tháng 6 năm 2020 được tổng hợp, đánh giá như sau:

* Số lượng nước

– Mực nước trung bình tháng 6 năm 2020 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên là 48674cm, tăng 9cm so với tháng trước, giảm 74cm so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 11cm so với giá trị tháng 6 TBNN. Giá trị lớn nhất là 48710cm (ngày 25/6), giá trị nhỏ nhất là 48617cm (ngày 11/6).

– Tháng 6 năm 2020, tại trạm Đức Xuyên có 06 lần đo lưu lượng nước. Lưu lượng nước trung bình tháng 6 là 22,5m3/s, tăng 2,9m3/s so với tháng trước, giảm 14,0m3/s so với tháng cùng kỳ năm 2019 và giảm 8,2m3/s so với tháng 6 TBNN. Lưu lượng nước lớn nhất là 26,7m3/s (ngày 23/6), lưu lượng nước nhỏ nhất là 17,5m3/s (ngày 08/6)

– Trong tháng 6 năm 2020, tổng lượng nước trên sông Ea Krông Nô chảy qua mặt cắt ngang tại trạm Đức Xuyên vào khoảng 58,2 triệu m3, tăng 5,9 triệu m3 so với tháng trước.

* Chất lượng nước

Kết quả tính toán chất lượng nước sông tại đây theo chỉ số WQI cho thấy: vào đầu tháng, chất lượng nước sông có thể đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần một số biện pháp xử lý thích hợp. Đến giữa tháng, do nồng độ TSS và tổng Coliform tăng cao bất thường, chất lượng nước sông bị ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý thích hợp.

  1. Dự báo tài nguyên nước mặt trên từng tiểu vùng thuộc lưu vực sông Srê Pốk

Theo số liệu dự báo mưa từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy khu vực Tây Nguyên có tổng lượng mưa tháng 7/2020 xấp xỉ so với TBNN cùng thời kỳ. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành dự báo tổng lượng nước đến các vị trí dự báo trên lưu vực sông Srê Pốk trong tháng 7 năm 2020 như sau:

Bảng 1.1:        Dự báo tổng lượng nước đến tại các điểm dự báo trong tháng 7 năm 2020 trên lưu vực sông Srê Pốk (106 m3)

TT

Vị trí dự báo

Sông

Tổng lượng nước đến

Tăng (+)/ giảm (-) so với TBNN (1981 – 2010)

1

Ia Púck

Ia Drăng

99,9

-29,53

2

Hạ Ia Drang

Ia Drăng

285,4

-92,98

3

Ia Lâu

Ia Lốp

133,2

-31,80

4

Ea Rôk 1

Ia Hleo

24,9

-53,85

5

Ea Rôk 2

Ia Hleo

23,1

-22,01

6

Ea Súp 1

Ea Súp

15,8

-15,22

7

Ea Súp 2

Ea Súp

18,2

-16,54

8

Ea Rôk

Ia Hleo

96,4

-108,73

9

Ia Mơ

Ia Lốp

254,8

-71,04

10

Thống Nhất

SrêPok

8,8

-5,68

11

Krông Búk

SrêPok

15,2

-8,19

12

Ea Kmút

Ea Kar

0,4

-0,41

13

Ea Ô 1

Ea Rok

1,2

-1,53

14

Ea Ô 2

Ea Krông A

7,4

-5,45

15

Liêng SRoin 2

Ea Krông Nô 1

7,4

-5,45

16

Vụ Bổn

Vụ Bồn

0,3

-0,52

17

Ea Yông

Ea Uy

33,0

-22,34

18

Ea Yiêng

SrêPok

6,2

-11,47

19

Hòa Phong

Ea Krông Tut

14,4

-21,59

20

Cuor Đăng

Ea Puôi

0,8

-0,40

21

Hòa Thắng

Ea ChurKap

1,1

-0,75

22

Khuê Ngọc Điền 2

Ea Krông Kmar

3,9

-3,73

23

Ea Trul

Ea Trul

0,5

-0,48

24

Hòa Hiệp

SrêPok

59,5

-60,42

25

Khuê Ngọc Điền 1

Ea Krông Kmar

15,0

-20,01

26

Đại Long 1

Đắk Huer

17,3

-20,16

27

Đại Long 2

Ea Krông Nô

54,9

-31,56

28

Krông Nô 1

Ea Krông Nô

65,3

-35,85

29

Krông Nô 2

Ea Krông Nô

7,4

-3,19

30

Quảng Sơn

Đắk Rting

13,5

-5,21

31

Liêng SRoin 1

Da R Mang

129,7

-46,10

32

Nam Ka

Ea Krông Nô

229,6

-101,28

33

Krông Nô 3

Ea Krông Nô

83,1

-42,76

34

Đăk Phơi

Đắk Phơi

4,7

-3,44

35

Đắk Liêng

suối Đắk Pak

4,3

-4,47

36

Buôn Triết

Eo Lông Ding

1,8

-1,84

37

Bình Hòa

Ea Krông Nô

235,3

-103,96

38

Ea Bông

Ea Bông

0,4

-0,26

39

Nam Đà

SrêPok

230,7

-137,18

40

Ea TLing

SrêPok

313,8

-145,84

41

Ea Kao

BaKao

2,9

-1,92

42

Hòa Phú 1

BaKao

7,6

-4,99

43

Hòa Phú 2

SrêPok

356,1

-165,80

44

Hòa Xuân

Ea Knir

0,3

-0,14

45

Hòa Phú 3

SrêPok

366,5

-168,32

46

Hòa Phú 4

SrêPok

367,2

-168,60

47

Cuôr Knir

SrêPok

380,6

-174,16

48

Ea Kpam

Ea Tul

4,6

-1,53

49

Ea Pók

Ea Tul

8,2

-4,38

50

Ea Wer 2

Ea Tul

19,8

-12,92

51

Ea MDro’h

Đắk Hua

3,8

-2,14

52

Ea Huar

Đắk Hua

5,0

-3,33

53

KRông Na 1

Đắk Minh

1,6

-1,65

54

KRông Na 2

SrêPok

12,2

-5,01

55

Ea Wer 1

SrêPok

386,2

-176,48

56

KRông Na 3

SrêPok

432,5

-210,22

57

KRông Na 4

SrêPok

447,8

-231,70

58

Hạ Ia Hleo

Ia Hleo

455,9

-199,02

Bảng 1.2:        Dự báo tổng lượng nước đến tại các tỉnh trong tháng 7 năm 2020 trên lưu vực sông Srê Pốk (106 m3)

TT

Tên tỉnh

Tổng lượng nước đến

1

Gia Lai

811,73

2

Đăk Lắk

2.820,47

3

Đăk Nông

1.853,41

4

Lâm Đồng

291,79

  1. Dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng trên LVS Srê Pốk

Dựa trên kết quả dự báo tổng lượng nước đến trên 58 tiểu vùng, chúng tôi đã tiến hành xác định dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng tại 58 vùng dự báo trên lưu vực sông Srê Pốk. Cụ thể như sau:

Bảng 1.3:        Dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng trong tháng 7 năm 2020

TT

Vị trí dự báo

Lưu vực sông

Sông

Lượng nước có thể khai thác sử dụng

1

Ia Púck

1

Ia Drăng

93,50

2

Hạ Ia Drang

2

Ia Drăng

267,64

3

Ia Lâu

3

Ia Lốp

124,59

4

Ea Rôk 1

4

Ia Hleo

24,30

5

Ea Rôk 2

5

Ia Hleo

21,21

6

Ea Súp 1

6

Ea Súp

15,44

7

Ea Súp 2

7

Ea Súp

17,79

8

Ea Rôk

8

Ia Hleo

94,51

9

Ia Mơ

9

Ia Lốp

238,50

10

Thống Nhất

10

SrêPok

8,54

11

Krông Búk

11

SrêPok

14,73

12

Ea Kmút

12

Ea Kar

0,37

13

Ea Ô 1

13

Ea Rok

1,17

14

Ea Ô 2

14

Ea Krông A

7,27

15

Liêng SRoin 2

14

Ea Krông Nô 1

7,27

16

Vụ Bổn

15

Vụ Bồn

0,27

17

Ea Yông

16

Ea Uy

30,36

18

Ea Yiêng

17

SrêPok

5,97

19

Hòa Phong

18

Ea Krông Tut

13,75

20

Cuor Đăng

19

Ea Puôi

0,79

21

Hòa Thắng

20

Ea ChurKap

0,89

22

Khuê Ngọc Điền 2

22

Ea Krông Kmar

3,56

23

Ea Trul

23

Ea Trul

0,50

24

Hòa Hiệp

24

SrêPok

54,83

25

Khuê Ngọc Điền 1

24

Ea Krông Kmar

14,82

26

Đại Long 1

25

Đắk Huer

16,60

27

Đại Long 2

26

Ea Krông Nô

47,95

28

Krông Nô 1

27

Ea Krông Nô

56,15

29

Krông Nô 2

28

Ea Krông Nô

6,31

30

Quảng Sơn

29

Đắk Rting

11,30

31

Liêng SRoin 1

30

Da R Mang

111,32

32

Nam Ka

32

Ea Krông Nô

192,30

33

Krông Nô 3

33

Ea Krông Nô

70,76

34

Đăk Phơi

34

Đắk Phơi

3,79

35

Đắk Liêng

35

suối Đắk Pak

3,26

36

Buôn Triết

36

Eo Lông Ding

1,36

37

Bình Hòa

37

Ea Krông Nô

196,89

38

Ea Bông

38

Ea Bông

0,35

39

Nam Đà

39

SrêPok

197,34

40

Ea TLing

40

SrêPok

268,52

41

Ea Kao

41

BaKao

2,46

42

Hòa Phú 1

42

BaKao

6,41

43

Hòa Phú 2

43

SrêPok

300,63

44

Hòa Xuân

44

Ea Knir

0,25

45

Hòa Phú 3

45

SrêPok

310,44

46

Hòa Phú 4

46

SrêPok

311,03

47

Cuôr Knir

47

SrêPok

321,04

48

Ea Kpam

48

Ea Tul

4,47

49

Ea Pók

49

Ea Tul

7,97

50

Ea Wer 2

50

Ea Tul

17,29

51

Ea MDro’h

51

Đắk Hua

2,87

52

Ea Huar

52

Đắk Hua

3,73

53

KRông Na 1

53

Đắk Minh

1,31

54

KRông Na 2

54

SrêPok

10,54

55

Ea Wer 1

55

SrêPok

325,70

56

KRông Na 3

56

SrêPok

359,22

57

KRông Na 4

57

SrêPok

367,42

58

Hạ Ia Hleo

58

Ia Hleo

426,07

  1. Cảnh báo lượng nước thiếu trên LVS Srê Pốk

Dựa trên nhu cầu sử dụng nước thực tế của các ngành sử dụng nước (sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, chăn nuôi, du lịch và môi trường), tổng lượng nước đến dự báo và thông tin khai thác sử dụng nước dưới đất, chúng tôi đã xác định được có 16 tiểu vùng thiếu nước, cụ thể như sau:

Bảng 1.4:        Các tiểu vùng thiếu nước trên LVS Srê Pốk trong tháng 7 năm 2020 (106 m3)

TT

Tiểu lưu vực

Sông

Lượng nước thiếu

1

8

Ia Hleo

0,108

2

13

Ea Rok

1,135

3

14

Ea Krông A

0,039

4

15

Ea Krông Nô 1

0,039

5

19

Ea Krông Tut

7,396

6

21

Ea ChurKap

0,106

7

22

Ea Krông Kmar

2,040

8

23

Ea Trul

0,441

9

24

SrêPok

0,013

10

25

Ea Krông Kmar

0,376

11

36

Eo Lông Ding

0,048

12

39

SrêPok

0,039

13

42

BaKao

0,068

14

49

Ea Tul

0,119

15

52

Đắk Hua

0,033

16

57

SrêPok

3,197

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 6 Năm 2020 Vùng Bắc Bộ

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).

Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 6.

Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 23/42 công trình mực nước hạ, 7/42 công trình mực nước dâng và 12/42 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là -0,64m xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (Q.89) và giá trị dâng cao nhất là 0,51m tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.10M1).

Trong tháng 6: Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,07m tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1) và sâu nhất là -13,06 m tại P. Tứ Liên, Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 6.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp) 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, với 52/62 công trình mực nước hạ, 5/62 công trình mực nước dâng và 5/62 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,80m tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1aM1) và giá trị hạ thấp nhất là -0,99m tại xã Trực Phú, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Q.109a) .

Trong tháng 6: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,27m tại P. Lê Hồng Phong, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là -29,33m tại P. Dịch Vọng, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế hạ so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: Các cơ quan quản lý tài nguyên nước và các hộ khai thác nước dưới đất cần chú ý đến lượng khai thác và chế độ khai thác hợp lý tại phường Mai Dịch quận Cầu Giấy và phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội vì mực nước dưới đất tại đây đã chạm ngưỡng cảnh báo cấp 1 là 83-85 % giá trị giới hạn cho phép.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 6 Năm 2020 Vùng Bắc Trung Bộ

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước cho 2 khu vực phía Bắc (Thanh Hóa và Nghệ An), khu vực phía Nam (Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế) của vùng Bắc Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính Holecene (qh) và Pleistocene (qp). Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 6.

TẦNG CHỨA NƯỚC HOLOCENE (qh)

Khu vực phía Bắc vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5, với 19/29 công trình có mực nước hạ, 5/29 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 5/29 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,46m tại xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (QT14-TH) và dâng cao nhất là 0,44m tại xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (QT2-HĐ).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,88m xã Trung Chính, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (QT11-TH) và sâu nhất là -14,32m tại xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (QT2-HÐ).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế dâng so với mực nước thực đo tháng 6 với 18/29 công trình mực nước dâng, 6/29 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 5/29 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu vực huyện Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An); dâng >1,0m tập trung ở khu vực huyện Thái Hòa (tỉnh Nghệ An) và mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m tập trung chủ yếu khu vực huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa).

Khu vực phía Nam vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5, với 30/37 công trình có mực nước hạ, 4/37 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/37 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 1,28m tại xã Phú Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (QT6a-QB) và dâng cao nhất là 0,46m tại xã Triệu Sơn, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (QT7a-QT).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,64m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (QT3a-H) và sâu nhất là -8,56m tại xã Sơn Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (QT3-HS).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế dâng hạ không rõ ràng so với mực nước thực đo tháng 6 với 15/37 công trình mực nước dâng, 12/37 công trình mực nước hạ và 10/37 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu vực huyện Bố Trạch, Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) và mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m tập trung chủ yếu khu vực huyện Hương Sơn, Thạch Hà (tỉnh Hà Tĩnh); huyện Quảng Trạch, Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình)

TẦNG CHỨA NƯỚC PLEISTOCENE (qp)

Khu vực phía Bắc vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5 với 17/33 công trình có mực nước hạ, 11/33 công trình có mực nước dâng và 5/33 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 2,36m xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (QT7-NA) và dâng cao nhất là 0,34m tại xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (QT9b-NA).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,83m tại xã Hưng Hòa, TP.Vinh, tỉnh Nghệ An (QT12b-NA) và sâu nhất là -13,11m xã Hùng Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (QT2a-CC).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế dâng so với mực nước thực đo tháng 6 với 18/33 công trình mực nước dâng, 8/33 công trình mực nước hạ và 7/33 dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu vực huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An) và mực nước hạ thấp từ 0,5 đến 1,0m tập trung ở khu huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An).

Khu vực phía Nam vùng Bắc Trung Bộ

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế hạ so với tháng 5, với 29/38 công trình có mực nước hạ, 5/38 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể và 4/38 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,96m tại TT.Phố Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (QT2b-HS) và dâng cao nhất là 0,28m tại xã Hải Lệ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (QT9b-QT).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,22m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (QT3b-H) và sâu nhất là -8,30m tại xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (QT4a-HK).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu thế dâng hạ không rõ ràng so với mực nước thực đo tháng 6 với 15/38 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể, 13/38 công trình mực nước hạ và 10/38 công trình dâng.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 6 Năm 2020 Vùng Tây Nguyên

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho vùng Tây Nguyên và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính gồm tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N) như sau. Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 6.

Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế dâng so với tháng 5, có 29/33 công trình mực nước dâng, 3/33 công trình mực nước hạ và 1/33 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 3,11m tại TT.Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK119T) và hạ thấp nhất là 0,14m tại xã Ia RSươn, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (LK33aT).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -9,52m tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,54m tại xã Ea Kly, huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk (LK51T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế dâng so với tháng 5, có 15/25 công trình có mực nước dâng, 8/25 công trình có mực nước hạ và 2/25 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 2,20m tại xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (LK40T) và hạ thấp nhất là 0,80m tại xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk (CB4-II).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,45m tại P.Yên Thế, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (C3b). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,27m tại xã Biển Hồ, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (LK159T).

Dự báo: mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-50m) trong tháng 6 độ sâu mực nước trung bình tháng ở P.Yên Thế, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (C3b) là -25,45m đạt 50,90% và xã Chư Hrông, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (LK167T) là -25,33m đạt 50,66%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế dâng so với tháng 5, có 50/71 công trình có mực nước dâng, 16/71 công trình có mực nước hạ và 5/71 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 11,71m tại xã Đắk Gằn, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (LK41T) và hạ thấp nhất là 1,06m tại TT.Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (LK66T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -124,26m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (C10o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,33m tại xã Ia Drăng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (LK144T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-50m) trong tháng 6 độ sâu mực nước trung bình tháng ở huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai (LK10T) là -26,95m đạt 53,91%; huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK162T) là -27,60m đạt 55,20%; huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (LK165T) là -31,62m đạt 63,23%; ở TP.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (C15) là -33,91m đạt 67,82% và TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là -55,09m (C10b) đạt 110,17% và -124,26m (C10o) đạt 248,51%. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (n)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu thế không rõ ràng so với tháng 5, có 11/22 công trình có mực nước hạ, 11/22 công trình có mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất 0,29m tại xã Đắk Năng, TP.Kon Tum, tỉnh Kon Tum (LK131T) và dâng cao nhất là 2,17m tại TT.Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7b).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -20,85m tại xã Ialy, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK62T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,45m tại xã Ialy, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK59T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: So với mực nước hạ thấp cho phép (-30m) trong tháng 6 độ sâu mực nước trung bình tháng ở xã Đắk Năng, TP. Kon Tum (LK131T) là -20,15m đạt 67,15%; xã Hà Mòn, huyện Đắk Hà (LK139Tm1) là -19,80m đạt 66,00% của tỉnh Kon Tum và ở xã Ia RSươn, huyện Krông Pa (LK31T) là -15,19m đạt 50,62%; xã Ialy, huyện Chư Pah (LK62T) là -20,85m đạt 69,51% của tỉnh Gia Lai. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh các khu vực này.

Xem chi tiết tại đây. 

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 6 Năm 2020 Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước và 5 năm trước cho toàn vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp).

Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 có xu hướng hạ so với tháng 5 với 14/22 công trình có mực nước hạ, 3/22 công trình có mực nước dâng và 5/22 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 0,76m tại xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam (QT16a-QD) và dâng cao nhất là 0,33m tại xã Bình Minh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi (QT3b-QN).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -8,80m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN) và nông nhất là -1,24m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng hạ so với thực đo tháng 6.

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 hạ so với tháng 5 với 9/10 công trình có mực nước hạ và 1/10 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 0,32m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9b-QN).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -8,51m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9b-QN) và nông nhất là -1,91m tại xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT14-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng hạ so với thực đo tháng 6.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 6 Năm 2020 Vùng Nam Bộ

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho toàn vùng Nam Bộ và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22) và tầng chứa nước Pliocene hạ (n21).

Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 6.

Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 26/59 công trình mực nước dâng, 15/59 công trình mực nước hạ và 18/59 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,73m tại xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (Q631020) và giá trị dâng cao nhất là 2,24m tại phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q011020).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -16,91m tại xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (Q01001F). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,94m tại xã Truông Mít, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh (Q00102CM1).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5  có xu thế dâng, có 22/54 công trình mực nước dâng, 13/54 công trình mực nước hạ và 19/54 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 3,19m tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (Q630030) và giá trị hạ thấp nhất là 1,15m tại TT BaTri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (Q21903T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -28,48m tại phường Đông Hưng, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q019340). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,67m tại xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh (Q822030M1).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 7 ở quận 12 tại phường Đông Hưng là -28,48m (Q019340) và phường Trung Mỹ Tây là-23,41m (Q011340) đạt 71,20% và 58,53% mực nước hạ thấp cho phép (-40m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 21/48 công trình mực nước dâng, 15/48 công trình mực nước hạ và 12/48 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là -0,96m tại TT Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang và giá trị dâng cao nhất là 1,20m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,95m tại Phường 5, Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Q188030). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,53m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng nhẹ so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 6 ở quận 12 tại phường Hiệp Thành là -21,09m (Q017030M1); huyện Nhơn Trạch tại xã Hiệp Phước là -18,95m (Q039340M1) đạt 52,73%, 63,17% mực nước hạ thấp cho phép (-30m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pliocene trung (n22)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 23/52 công trình mực nước dâng, 20/52 công trình mực nước hạ và 9/52 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,40m tại xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Q606050) và giá trị dâng cao nhất là 1,37m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040040M1).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -25,66m tại phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh (Q011040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,16m tại xã Phú Xuân, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (Q611050).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 6 ở quận 12 tại phường Trung Mỹ Tây là -25,66m (Q011040) và ở huyện Bình Chánh tại xã Lê Minh Xuân là -20,26m (Q808040) đạt 64,15% và 50,65% mực nước hạ thấp cho phép (-40m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Tầng chứa nước Pliocene hạ (n21)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế không rõ ràng, có 13/38 công trình mực nước hạ, 11/38 công trình mực nước dâng và 14/38 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,6m tại Phường 1, TX Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (Q609060) và giá trị dâng cao nhất là 1,14m tại xã Đông Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (Q621060).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -24,65m tại xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (Q604060). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -6,26m tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (Q222040).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 có xu hướng dâng hạ không rõ ràng so với mực nước thực đo tháng 6.

Cảnh báo: Độ sâu mực nước trung bình tháng 6 ở huyện Thủ Thừa tại xã Nhị Thành là -24,65m (Q604060); ở huyện Lai Vung tại xã Hòa Long là -16,35m (Q206040M1) đạt 82,17%, 54,5% mực nước hạ thấp cho phép (-30m) của tầng chứa nước có áp. Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác ở các nhà máy nước quanh khu vực này.

Xem chi tiết tại đây.

Bản Tin Thông Báo, Dự Báo Tài Nguyên Nước Dưới Đất Tháng 5 Năm 2020 Vùng Tây Nguyên

Trong bản tin tài nguyên nước hàng tháng đánh giá biến động mực nước dưới đất tháng hiện thời so với tháng trước, cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước và 20 năm trước cho vùng Tây Nguyên và tại các tỉnh thành phố cho các tầng chứa nước chính gồm tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N) như sau. Dưới đây là một số tóm tắt nội dung chính trong bản tin tháng 5.

Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4, có 25/33 công trình mực nước hạ, 4/33 công trình mực nước dâng và 4/33 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,99m tại TT. Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7a) và dâng cao nhất là 0,90m tại xã Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (LK76T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -9,89m tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,85m tại xã Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (LK76T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4, có 20/25 công trình có mực nước hạ, 2/25 công trình có mực nước dâng và 3/25 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,04m tại xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk (CB5-II) và giá trị dâng cao nhất là 0,28m tại xã Tâm Thắng, huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông (LK43T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -26,24m tại P.Yên Thế, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (C3b). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,18m tại xã Biển Hồ, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai (LK159T).

Dự báo: mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 có xu thế không rõ ràng so với tháng 4, có 33/71 công trình có mực nước hạ, 23/71 công trình có mực nước dâng và 15/71 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 4,45m tại xã Ea Knuếc, huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk (C5o) và dâng cao nhất là 1,12m tại xã ĐamBri, TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (LK101T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -125,06m tại Phường 2, TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (C10o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,26m tại xã Ia Drăng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (LK144T)

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (n)

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4, có 15/22 công trình có mực nước hạ, 5/22 công trình có mực nước dâng và 2/22 công trình dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất 1,22m tại TT. Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7b) và giá trị dâng cao nhất là 0,60m tại xã Diên Bình, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum (LK137T).

Mực nước trung bình tháng sâu nhất là -20,76m tại xã Ialy, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK62T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,39m tại xã Ialy, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai (LK59T).

Dự báo: Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 5.

Xem chi tiết tại đây.