Tue06182019

Last update06:09:01 AM GMT

Thông báo động thái nước dưới đất năm 2006

There are no translations available.

A.        Đồng bằng Bắc Bộ

1.         Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) hai tầng chứa nước Holocen và  Pleistocen (qp) năm 2006  có xu thế giảm dần so với trung bình nhiều namư và năm 2005. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất tầng qp tiếp tục giảm dần như Hà Nôi, Nam Định, Hải Phòng.

- Vùng Hà Nội:  mực nước sâu  nhất cách mặt đất tại lỗ khoan quan trắc P.41a ở trung tâm bãi giếng Hạ Đình là 35,12m,  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là 35,4m.

-  Vùng Hải Hậu-Nam Định: mực nước sâu nhất cách mặt đất  tại lỗ khoan quan trắc Q.109a  là 8,92m. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là  9,1m.

- Vùng Kiến An-Hải Phòng: Mực nước sâu nhất cách mặt đất  tại lỗ khoan quan trắc Q.167a  là 10,44m.  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007  là  10,64m.

-          Thành phần hoá học nước dưới đất: Tầng chứa nước qh nằm trên cùng, tiếp xúc với khí quyển nên chất lượng nước có sự khác biệt giữa hai mùa mưa và mùa khô. Các giá trị thường cao hơn và mùa khô và giảm đi vào mùa mưa do bị bốc hơi vào mùa khô và được làm loãng vào mùa mưa. Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tầng qp trung bình mùa khô năm 2006 là 990mg/l, mùa mưa là 646mg/l, trung bình năm là 826mg/l tăng giảm không đáng kể so với năm 2005. Các nguyên tố Mn, As, amoni có tỷ lệ mẫu vượt  tiêu chuẩn cho phép -TCCP (so với tiêu chuẩn TCVN 5502:2003 – Nước cấp sinh hoạt-Yêu cầu chất lượng)  lần lượt là 33-50%, 8-22%, 46-69% ; hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn, As, mùa khô và mùa mưa lần lượt là: 3,1mg/l (Q129b–TX Hưng Yên), 2,28mg/l (Q33a-Đông Anh –Hà Nội); 0,25mg/l (Q.88b-Phủ Lý -Hà Nam) và 0,47mg/l (Q58a-Hoài Đức-Hà Tây). Hàm lượng NH4+ cao nhất mùa khô và mùa mưa lần lượt là  54mg/l (Q58a-Hoài Đức-Hà Tây); 37,6mg/l (Q.88b – Phủ Lý -Hà Nam).  

 

B.        Đồng bằng Nam Bộ

- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) được tổng hợp thống kê trong bảng 4. Mực nước các tầng chứa nước Pleistocen trung-thượng (qp2), tầng chứa nước Pleistocen hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocen (N2), tầng chứa nước Miocen (N13) năm 2006 đều thấp hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu hướng giảm dần như TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau,…

- Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất tầng chứa nước Pliocen (N2) ở vùng Cà Mau tại lỗ khoan quan trắc Q17704T  là 16,1m, thấp hơn năm 2005 là 1,30m, giá trị này thường xuất hiện vào mùa hè khi nhu cầu dùng nước tăng cao. Dự báo tháng 6 năm 2006 mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 16,3m.

- Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại lỗ khoan quan trắc Q015030 là 26,34 thấp hơn năm 2005 là 0,05m. Dự báo tháng 6 năm 2006 mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 26,5m.

- Thành phần hoá học nước dưới đất:  Hầu hết các nguyên tố vi lượng trong các tầng chứa nước đều ở dưới mức chỉ tiêu cho phép trừ Mn và NH4+. Trong đó, tầng qp2-3 có 5/13 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất đạt 0,74mg/l (lỗ khoan Q031020-Thanh Bình - Đồng Tháp),  tầng qp1 có 2/9 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất đạt 0,74mg/l (lỗ khoan Q015030-Bình chánh- TP. HCM) tầng N2 3/17 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất là 1,31mg/l (lỗ khoan Q02204T -Thạnh hoá- Long An). Hàm lượng amoni cao nhất đạt 7,36mg/l (Lỗ khoan Q224020-Bến Cát - Bình Dương).

C.        Vùng Tây Nguyên

- Mực nước bình quân  Do đặc thù riêng của vùng Tây Nguyên, mực nước dưới đất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là khí tượng, sự biến động mực nước tuỳ theo lượng mưa của từng năm và sự phân bố lượng mưa trong các tháng. Có sự lệch pha của dao động mực nước dưới đất và lượng mưa.  Một số điểm mực nước có xu thế giảm dần như Ban lỗ khoan C5o ở ban Mê Thuột.

-          Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất ở vùng Ban Mê Thuột tại lỗ khoan quan trắc C5o  là 33,98m cách mặt đất, thấp hơn năm 2005 là 0,08m. Dự báo tháng 6 năm 2006 độ sâu mực nước có thể là 33,30m cách mặt đất.

- Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá trung bình của nước dưới đất mùa khô năm 2006 là 110mg/l, mùa mưa là 129mg/l, thay đổi không đáng kể so với giá trị tương ứng cùng kỳ năm 2005. Các nguyên tố vi lượng trong nước dưới đất đều chưa vượt quá chỉ tiêu cho phép trừ Hg và Mn. Hàm lượng Hg và Mn cao nhất lần lượt là 0,002mg/l (C4a- Buôn Hồ- Đắk Lắk) và 1,43mg/l ( LK18T- An Khê - Gia Lai).

Giới thiệu mạng lưới quan trắc Tài nguyên nước

There are no translations available.

Động thái nước dưới đất (NDĐ) là một quá trình tự nhiên phản ánh sự hình thành & đặc trưng cho sự biến đổi về trữ lượng, chất lượng NDĐ bao gồm: Mực nước, lưu lượng, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ, thành phần hoá học, khí, vi trùng... theo thời gian. Nghiên cứu động thái NDĐ nhằm mục đích xác định các nhân tố hình thành NDĐ, từ đó làm rõ được các quy luật biến đổi của chúng trong không gian & theo thời gian. Trên cơ sở đó xây dựng mô hình khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên NDĐ, quản lý sự biến đổi của chúng theo hướng cần thiết của con người.

Công tác quan trắc nghiên cứu động thái NDĐ ở nước ta được bắt đầu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm: Đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Công tác xây dựng mạng lưới được Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam tiến hành từ năm 1990 đến 1995 với kết quả như sau.

Đồng bằng Bắc Bộ: diện tích 17.000km2 nằm ở miền Bắc Việt Nam cấu tạo bởi các trầm tích Đệ tứ bở rời nằm trên các trầm tích Neogen gắn kết yếu và các đá cổ cố kết. Mạng lưới quan trắc gồm 77 trạm quan trắc khu vực, 3 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập cho nước dưới đất, 6 tuyến nghiên cứu quan hệ thuỷ lực giữa nước mặt và nước dưới đất với tổng số 202 công trình quan trắc.

Đồng bằng Nam Bộ: là đồng bằng châu thổ của hệ thống sông Mê Công và Đồng Nai, diện tích 57.000km2 nằm ở miền Nam Việt Nam cấu tạo bởi các trầm tích Đệ tứ và Neogen bở rời có chiều dày từ vài chục đến 500-600m, nằm trên các thành tạo cố kết Mezozoi -Paleozoi. Mạng lưới quan trắc gồm 101 trạm quan trắc khu vực, 3 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập với tổng số 224 công trình quan trắc.

Vùng Tây Nguyên: bao gồm cao nguyên trung phần nằm ở miền Trung, diện tích 55.000km2. Cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo phun trào bazan nằm xen kẽ với các đá cổ Mezozoi, paleozoi hoặc các khối xâm nhập cổ. Mạng lưới quan trắc gồm 132 trạm quan trắc khu vực, 4 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập với tổng số 210 công trình quan trắc.

Từ năm 1996 tiến hành quan trắc cố định liên tục các yếu tố động thái NDĐ. Các dữ liệu được cập nhật, tổng hợp thành lập cơ sở dữ liệu. Xuất bản các đặc trưng và niên giám, dự báo phục vụ các mục đích khác nhau của các nghành kinh tế quốc dân có liên quan đến NDĐ.

sdmlqt