Wed11212018

Last update12:39:09 AM GMT

Công trình dự án

Một số quy trình dự báo thủy văn được áp dụng trên thế giới.

Quy trình dự báo tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng, trong đó có dự báo thuỷ văn đã được thảo luận từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX tại các cuộc họp lần thứ 3 và 4 của Uỷ ban Đặc biệt thuộc WMO (1966). Tại Liên Xô (cũ), ngay từ những năm cuối của thập kỷ 70, Cơ quan quản lý tài nguyên nước Liên Xô đã thay đổi cơ bản về quy trình. Tại Nhật Bản và một số nước tiên tiến khác, khi dự báo các yếu tố tài nguyên nước đều phải xây dựng quy trình dự báo, kèm theo mức tin cậy của số liệu và mức độ tin cậy của phương pháp dự báo. Đối với phần lớn các nước đang phát triển, việc xây dựng và hoàn thiện quy trình dự báo phụ thuộc nhiều vào trình độ KHCN dự báo của nước đó và cơ sở vật chất, nhân lực vận dụng toàn bộ hay một phần các văn bản hướng dẫn đánh giá của WMO và các Tổ chức Quốc tế liên quan.

Quy hoạch lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình: Các quan điểm chính.

LVS Hồng- Thái Bình gồm hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình: Sông Hồng do các sông Thao, Đà, Lô hợp thành; Hệ thống sông Thái Bình nằm hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam và cũng được hình thành từ 3 nhánh sông lớn là các sông Cầu, Thương và Lục Nam, gặp nhau tại Phả Lại tạo thành dòng chính sông Thái Bình.

Một số vấn đề còn tồn tại khi điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên.

Dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên” khi đi vào thực hiện còn tồn tại những vấn đề cần giải quyết sau đây:

Các phương pháp đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước vành đai kinh tế biển vịnh Bắc Bộ

Dự án:”Điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50000 vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ” được thực hiện tại ba tỉnh là: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, như đã đánh giá về mức độ triển vọng cùng như khả năng đáp ứng nhu cầu cung cấp nước từ các tầng chứa nước, dự án đã lựa chọn 4 tầng chứa nước chính để đánh giá khả năng tự bảo vệ: trong tầng chứa nước đất đá bở rời: Holocen, Pleistocen ; tầng chứa nước khe nứt: kast hệ tầng Đồng Giao (T2a đg).

Tính cấp thiết lập quy hoạch lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình: Góc nhìn chuyên gia.

LVS Hồng - Thái Bình được giới hạn từ 20023’ đến 25030’ vĩ độ Bắc và từ 1000 đến 107010’ kinh độ Đông: Phía Bắc giáp LVS Kim Sa của Trung Quốc; Phía Tây giáp LVS Mê-kông; Phía Nam giáp LVS Mã; Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ. Phần LVS Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý từ: 20023’ đến 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’ kinh độ Tây. Lưu vực hệ thống sông Thái Bình nằm trọn trong lãnh thổ nước ta.

Lưu vực sông Hồng – Sông Thái Bình: Các vấn đề về tài nguyên nước cần phải giải quyết.

Lưu vực sông (LVS) Hồng - Thái Bình nằm trên lãnh thổ 3 nước Trung Quốc,Việt Nam và Lào. Theo các tài liệu công bố trước đây, tổng diện tích tự nhiên của toàn LVS Hồng - Thái Bình khoảng 169.000 km2, trong đó phần lưu vực nằm ở Trung quốc là 81.200 km2 chiếm 48%, phần lưu vực nằm ở Lào là 1.100 km2 chiếm 0,7%; phần lưu vực nằm ở Việt Nam là 86.700 km2 chiếm 51,3%. Tuy nhiên, theo Danh mục sông liên tỉnh được ban hành kèm theo Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì diện tích LVS Hồng – Thái Bình thuộc Việt Nam là 88.680 km2.

Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên

Dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây nguyên” là một dự án thành phần thuộc dự án “Điều tra đánh giá tổng thể nguồn nước, cảnh báo, dự báo phòng chống khô hạn, xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực nam trung bộ và tây nguyên”. Với mục tiêu tổng quát là điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến khai thác, sử dụng nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, làm cơ sở cho công tác cảnh báo, dự báo, phòng chống khô hạn, xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu, cũng như tăng cường quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên nước được hợp lý và hiệu quả. Dự án có các mục tiêu cụ thể sau: