Thu10282021

Last update12:23:48 AM GMT

Hoàn Thành Phân Vùng Hạn Chế Khai Thác Nước Dưới Đất Trong Các Tầng Chứa Nước Trầm Tích Đệ Tứ Và Neogen Từ Đà Nẵng Đến Bình Thuận Bước Đột Phá Hiệu Quả Trong Quản Lý Tài Nguyên Nước

There are no translations available.

Vùng đồng bằng ven biển các tỉnh, thành phố khu vực duyên hải Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận là nơi tập trung các thành phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, cũng là vùng có các hoạt động kinh tế, xã hội phát triển nhất khu vực. Đặc điểm đó đã và đang gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên nước, lượng nước khai thác ngày càng tăng, dẫn đến hoạt động xả nước thải vào nguồn nước cũng tăng theo, là những tiềm ẩn của nguy cơ gây cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn nước. 

Tình hình nghiên cứu xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể ở trong nước và trên thế giới

There are no translations available.

Đánh giá hiện trạng và biến động tài nguyên là một trong những nội dung quan trọng, cần thiết trong công tác quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên (nước, đất) và trong các quy hoạch tổng thể phát triển một khu vực. Trong lĩnh vực tài nguyên nước, việc đánh giá này thường được thực hiện bằng các mô hình số thủy văn, thủy lực (đối với nước mặt) và nước dưới đất.

Phối hợp chỉ đạo giải quyết nước sinh hoạt phục vụ chống hạn, xâm nhập mặn

There are no translations available.

(TN&MT) - Ngày 01/4, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã có Văn bản số 205/TNNQG-ĐT gửi UBND các tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Cần Thơ, về việc phối hợp chỉ đạo giải quyết nước sinh hoạt phục vụ chống hạn, xâm nhập mặn các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Quy hoạch tài nguyên nước đồng bằng sông Cửu Long những kết quả nổi bật.

There are no translations available.

Đồng bằng sông Cửu Long là hạ lưu của sông Mê Công, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt… được đánh giá là vùng trữ nước ngọt lớn nhất cả nước. Theo Quyết định số 275/QĐ-TNNQG ngày 17 tháng 11 năm 2016 về việc phê duyệt dự án “Lập nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long”, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ lập quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phạm vi quy hoạch có tổng diện tích tự nhiên là 40.816 km2 bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương (không tính diện tích các huyện đảo Kiên Hải 28,2 km2 và Phú Quốc 575,4 km2 của tỉnh Kiên Giang). Với nhiệm vụ xác định các vấn đề trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng và phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; đề xuất các giải pháp và tiến độ lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long

 

1a-3Tài nguyên nước đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh minh họa)

Với nhiệm vụ xác định các vấn đề, đề xuất các giải pháp và tiến độ lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long, nhiệm vụ quy hoạch đã thực hiện hoàn thành các nội dung chủ yếu sau:

- Đã đánh giá tổng quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội; hiện trạng tài nguyên nước; tình hình bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên toàn bộ lưu vực sông Cửu Long và 04 tiểu vùng quy hoạch (Tả sông Tiền, giữa sông Tiền-sông Hậu, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau);

Đánh giá tiềm năng tài nguyên nước bao gồm: Tổng lượng dòng chảy sông Mê Công hàng năm ra biển khoảng 500 tỷ m3, trong đó vào lưu vực sông Cửu Long trên 475 tỷ m3, lưu lượng trung bình năm tại Tân Châu 10.100 m3/s, tại Châu Đốc khoảng 2.600 m3/s. Trữ lượng khai thác NDĐ nhạt (M<1,0 g/l) là 22.513.000 m3/ngày (trữ lượng khai thác NDĐ mặn (M>1,0 g/l) là 39.124.000 m3/ngày.

- Xác định sơ bộ chức năng nguồn nước đối với 39 sông liên quốc gia, liên tỉnh và 8 tầng chứa nước Holocen, Pleistocene trên, Pleistocene giữa trên, Pleistocen dưới, Pliocene giữa, Pliocene dưới và Miocene trên;

- Tổng hợp và sơ bộ dự báo nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế trên lưu vực. Tổng nhu cầu sử dụng nước các ngành kinh tế trên lưu vực năm 2015 khoảng 32,54 tỷ m3, đến năm 2030 và 2050 nhu cầu nước tăng lên tương ứng là 38,87 tỷ m3 và 39,89 tỷ m3. Trong đó ngành sử dụng nhiều nước nhất là ngành nông nghiệp, ngành sử dụng nước ít nhất là ngành công nghiệp. Nhu cầu của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm trong tương lai do một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng sang phát triển công nghiệp và đô thị. Cơ cấu sử dụng nước ngành nông nghiệp giảm từ 81% năm 2015 xuống 76% năm 2020, 74% năm 2030 và 68% năm 2050. Nhu cầu sử dụng nước ngành công nghiệp, thủy sản và cấp nước sinh hoạt có xu hướng tăng trong tương lai do tốc độ phát triển mạnh trong tương lai, nhiều khu công nghiệp được đầu tư xây dựng, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng và dân số tăng.

- Xác định các vấn đề phân bổ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Cửu Long;

- Phân tích, đánh giá, xác minh lại các vấn đề trên cơ sở xem xét thực tế ngoài hiện trường, tại các điểm “nóng” về tài nguyên nước trên lưu vực sông Cửu Long, xây dựng bảng tổ hợp xác định, đánh giá các vấn đề nổi cộm làm cơ sở xác định mục tiêu, nhu cầu sử dụng nước, tiêu thoát nước, chống úng ngập, khắc phục hạn hán từ đó làm rõ được sự cần thiết phải tiến hành xây dựng các nội dung quy hoạch. Đồng thời đề ra nhiệm vụ cho công tác lập quy hoạch với việc xác định các vấn đề cần giải quyết trong bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

Cũng qua phân tích, đánh giá và lựa chọn nguồn nước ưu tiên tiến hành lập đồ án quy hoạch tài nguyên nước đã lựa chọn nội dung quy hoạch gồm: phân bổ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Trên cơ sở đó, áp dụng các quy định có liên quan đã xây dựng đề cương và dự toán kinh phí lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực.

Sự cần thiết của dự án Tăng cường năng lực bảo vệ tài nguyên nước ngầm pha II tại Việt Nam

There are no translations available.

Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích khoảng gần 3.9 triệu ha, 17 triệu dân cư là khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam. Khu vực này cung cấp trên một nửa sản lượng gạo quốc gia và phần lớn được mang đi xuất khẩu. Do vậy, khu vực này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Ngoài ra, đây còn là nơi ngành nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển nhanh chóng.

Các tài liệu thu thập được khi thực hiện quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình

There are no translations available.

1.  Báo cáo tài nguyên nước, kiểm kê tài nguyên nước:
- Đối với tài liệu đánh giá tài nguyên nước đối với các vùng thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình: Đã thu thập các báo cáo đánh giá tài nguyên nước vùng đồng bằng sông Hồng và trên toàn lưu vực sông Hồng, cụ thể:
+ Báo cáo Hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình (Hợp phần dự án: Hỗ trợ kỹ thuật tăng cường năng lực quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông)
+ Báo cáo đánh giá hiện trạng ngành nước Việt Nam (ADB, 2009)
+ Báo cáo đánh giá tài nguyên nước của dự án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội”
+ Báo cáo đánh giá tài nguyên nước thuộc dự án: “Quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng”.
+ Báo cáo thủy văn, thủy lực thuộc dự án: “Quy hoạch tổng hợp sử dụng nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình”.
+ Báo cáo đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Chảy thuộc dự án: “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Lô – Gâm tỷ lệ 1;100.000”.
- Đối với các tỉnh: Hiện nay, hầu hết các tỉnh chưa thực hiện việc điều tra đánh giá tài nguyên nước và kiểm kê tài nguyên nước. Các tài liệu về đánh giá tài nguyên nước chủ yếu nằm trong các Quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh đã thực hiện. (19/25 tỉnh đã thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, 06 tỉnh, thành phố gồm: TP Hà Nội, tỉnh Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hòa Bình, Lai Châu chưa thực hiện).
2. Số liệu khí tượng:
- Đã thu thập được số liệu mưa ngày của 290 trạm đo mưa từ năm 1990 đến năm 2017 trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình, trong đó: 159 trạm đo mưa trên lưu vực đồng bằng sông Hồng – Thái Bình và phụ cận; 51 trạm đo mưa trên lưu vực sông Đà và phụ cận; 50 trạm đo mưa trên lưu vực sông Lô – Gâm và phụ cận; 30 trạm đo mưa trên lưu vực sông Thao và phụ cận;
- Đã thu thập được số liệu bốc hơi từ năm 1990 đến năm 2017 của 73 trạm trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình và phụ cận.
2a-6Bản Đồ Lưới Trạm Khí Tượng, Đo Mưa Thu Thập
3. Số liệu thủy văn, tài nguyên nước:
- Đã thu thập được số liệu mực nước từ năm 1990 đến 2017 của 97 trạm thủy văn trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình và phụ cận;
- Đã thu thập được số liệu lưu lượng từ năm 1990 đến năm 2017 của 67 trạm thủy văn trên lưu sông Hồng – Thái Bình và vùng phụ cận, trong đó: 29 trạm thủy văn trên lưu vực đồng bằng sông Hồng – Thái Bình và phụ cận; 13 trạm thủy văn trên lưu vực sông Đà và phụ cận; 16 trạm thủy văn trên lưu vực sông Lô – Gâm và phụ cận; 9 trạm thủy văn trên lưu vực sông Thao và phụ cận.
4. Số liệu chất lượng nước:
a) Đối với nước mặt:
Đã thu thập đầy đủ số liệu từ năm 2012 đến năm 2017 của 124 trạm đo chất lượng nước trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Số liệu chất lượng nước bao gồm các trạm quan trắc quốc gia và tại các địa phương thuộc lưu vực
b) Đối với nước dưới đất:
Đã thu thập được kết quả phân tích chất lượng nước của các tầng chứa nước chính tại 25 tỉnh/thành phố trên lưu vực, cụ thể như sau:
- Khu vực Đông bắc bộ: thu thập được kết quả phân tích của 1.547 mẫu nước toàn diện, 158 mẫu vi sinh và 257 mẫu vi lượng tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Quảng Ninh;
- Khu vực Tây bắc bộ: thu thập được kết quả phân tích của 178 mẫu nước toàn diện, 12 mẫu vi sinh và 40 mẫu vi lượng tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình và Phú Thọ;
- Khu vực đồng bằng sông Hồng: thu thập được kết quả lấy và phân tích 2371 mẫu toàn diện, 276 mẫu vi lượng, 24 mẫu nhiễm bẩn, 4 mẫu vi sinh và các kết quả phân tích mẫu của đề án: Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – đô thị Hà Nội và tại các lỗ khoan quan trắc trên địa bàn Vùng thủ đô.
Như vậy, khu vực Tây bắc bộ lượng mẫu thu thập được tương đối ít, đặc biệt một số tỉnh như Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình và Phú Thọ, lượng mẫu thu thấp được rất ít, thời điểm lấy mẫu từ những năm 2000 do đó để đánh giá chi tiết chất lượng nước trong các tầng chứa nước chính của khu vực Tây bắc bộ cần bổ sung lượng mẫu lấy tại khu vực này. Vùng đồng bằng sông Hồng, lượng mẫu thu thập được khá phong phú, chủ yếu được lấy từ các dự án: Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – đô thị Hà Nội; Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội nên chất lượng mẫu nước mới và đáp ứng được yêu cầu cho công tác đánh giá và phân vùng, phân loại chất lượng nước dưới đất.
5. Bản đồ địa chất thủy văn:
Bản đồ ĐCTV, bản đồ TNN dưới đất tỷ lệ 1/200.000: Đã thu thập được toàn bộ 25 tỉnh/thành thuộc lưu vực từ dự án Biên hội-thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc và các dự án khác đã thực hiện bao gồm: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Phòng, diện tích nghiên cứu, lập bản đồ là 88.860 km2, chiếm 100% diện tích lưu vực;
Bản đồ ĐCTV, bản đồ TNN dưới đất tỷ lệ 1/50.000, dã thu thập được bản đồ DCTV, Bản đồ tài nguyên nước dưới đất của 07 tỉnh thuộc dự án: Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội và các dự án/đề án đã thực hiện. Tổng diện tích nghiên cứu, lập bản đồ là 18.115 km2, chiếm 20,54% diện tích lưu vực, tuy nhiên mức độ nghiên cứu không đồng nhất giữa các vùng, vùng có diện tích được nghiên cứu nhiều nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, ít nhất là vùng Tây bắc bộ, cụ thể như au:
+ Vùng đồng bằng Bắc bộ với tổng diện tích nghiên cứu 13.075 km2, đạt 88,0% diện tích vùng;
+ Vùng Đông bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 2.128 km2, đạt tỷ lệ 5,88% diện tích vùng;
+ Vùng Tây bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 458,0 km2, đạt tỷ lệ 1,23% diện tích vùng;
Bản đồ ĐCTV, bản đồ TNN dưới đất tỷ lệ 1/25.000, tổng diện tích nghiên cứu, lập bản đồ là 8.149,9 km2, chiếm 9,24% diện tích lưu vực, tuy nhiên mức độ nghiên cứu không đồng nhất giữa các vùng, vùng có diện tích được nghiên cứu nhiều nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, ít nhất là vùng Tây bắc bộ, cụ thể như sau:
+ Vùng đồng bằng Bắc bộ với tổng diện tích nghiên cứu 5.795,5 km2, đạt 39,01% diện tích vùng;
+ Vùng Đông bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 1.849 km2, đạt tỷ lệ 5,11% diện tích vùng;
+ Vùng Tây bắc bộ: diện tích nghiên cứu là 460 km2, đạt tỷ lệ 1,24% diện tích vùng;
Kết quả tổng hợp trên cho thấy, với bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1/200.000 (phù hợp với tỷ lệ bản đồ của quy hoạch) đã được thực hiện trên toàn bộ 25/25 tỉnh/thành trong lưu vực, phương pháp thành lập mới, số liệu phục vụ biên tập bản đồ đã được cập nhật do đó đáp ứng tốt cho công tác đánh giá tiềm năng nguồn nước dưới đất trên lưu vực. Đồng thời với tỷ lệ bản đồ nghiên cứu ở tỷ lệ 1/50.000 và 1/25.000 đã được thực hiện với mức độ lần lượt là 88% và 39,01% tại khu vực đồng bằng sông Hồng là đủ cơ sở để thiết lập mô hình dòng chảy nước dưới đất phục vụ tính toán, dự báo tài nguyên nước dưới đất tại khu vực đồng bằng này.
Đối với nội dung bảo vệ tài nguyên nước dưới đất và phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra:
- Đã thu thập được kết quả thực hiện của Đề án Chính phủ: Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn - Đô thị Hà Nội, Hải Dương và Thái Nguyên do Trung tâm thực hiện.
- Kết quả đo mực nước nước, mực nước hạ thấp và quan trắc độ lún nền mặt đất tại 10 trạm đo lún trên địa bàn TP. Hà Nội do Viện Khoa học Công nghệ và Kinh tế Xây dựng Hà Nội (thuộc Sở Xây dựng Hà Nội) thực hiện, thời gian đo từ năm 2001, 2003 đến năm 2006
- Đã thu thập được kết quả thực hiện năm 2018 của dự án: Xác định, khoanh vùng phễu hạ thấp mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước thành phố Hà Nội. Kết quả chính thu thập được bao gồm:
+ Nội dung phân tích, đánh giá xác định, khoanh vùng phạm vi và đánh giá diễn biến các phễu hạ thấp mực nước;
+ Các bản đồ hiện trạng mực nước tỷ lệ 1/25.000 cho các tầng chứa nước qh và qp;
+ 26 tờ bản đồ tỷ lệ 1/25.000 khoanh vùng, phạm vi phễu hạ thấp mực nước và khu vực khai thác nước dưới đất vượt quá ngưỡng giới hạn tại thời điểm tháng 4 các năm từ 1991 đến 2016 và 26 tờ bản đồ tỷ lệ 1/25.000 tại thời điểm tháng 9 các năm từ 1991 đến 2016.
- Kết quả thực hiện của dự án điều tra, đánh giá khả năng tự bảo vệ các tầng chứa nước vùng duyên hải đồng bằng bắc bộ (các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình) do Trung tâm thực hiện năm 2018.
6. Kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước
a) Đối với nước mặt
- Đã thu thập các kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước dự án: “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông Lô – Gâm tỷ lệ 1:100.000” (đã thực hiện điều tra hết lưu vực sông Chảy (Tỉnh Hà Giang (3 huyện): Xín Mần, Hoàng Su Phì và Quang Bình, Tỉnh Lào Cai (4 huyện): Mường Khương, Bắc Hà, Bảo Thắng và Bảo Yên, Tỉnh Tuyên Quang (1 huyện): Yên Sơn, Tỉnh Yên Bái (2 huyện): Lục Yên và Yên Bình, Tỉnh Phú Thọ (2 huyện): Hạ Hòa và Đoan Hùng) với diện tích điều tra đánh giá là 4.580 km2.
+ Đã thu thập các kết quả điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt của dự án: “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng thủ đô Hà Nội”, gồm 07 tỉnh: Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hòa Bình với tổng diện tích đã điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt là 13.436 km2.
b) Đối với nước dưới đất
Đã thu thập được các Báo cáo đánh giá, tìm kiếm nguồn nước dưới đất từ các dự án/đề án đã thực hiện tại các tỉnh, cụ thể như sau:
- Vùng Tây bắc bộ: thu thập được các báo cáo đánh giá nguồn nước dưới đất của vùng Mộc Châu (Sơn La), đô thị Sơn La, đô thị Lào Cai, vùng Yên Thủy (Hòa Bình), Lương Sơn (Hòa Bình).
- Vùng Đông bắc bộ: thu thập được các báo cáo đánh giá nguồn nước dưới đất của vùng Phả Lại – Đông Triều (Quảng Ninh), Uông Bí – Bãi Cháy (Quảng Ninh), Thăm dò nước dưới đấtt TX. Tuyên Quang, huyện Mèo Vạc (Hà Giang), vùng Trại Cau, Phổ Yên và vùng Đồng Bẩm tỉnh Thái Nguyên, vùng Bãi Bằng – Lâm Thao tỉnh Phú Thọ.
- Vùng đồng bằng sông Hồng: thu thập được báo cáo đánh giá tài nguyên nước của 07 tỉnh/thành: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam và Hòa Bình từ dự án: Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng Thủ đô Hà Nội, ngoài ra còn thu thập được các báo cáo tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các khu vực như: vùng Quất Lưu-Đạo Tú, Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc; vùng Kim Anh – Chèm, Ba Vì, Phú Xuyên, Sơn Tây, Đa Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội; vùng Từ Sơn-Bắc Ninh, Đáp Cầu, tỉnh Bắc Ninh; vùng Hưng Yên, Khoái Châu, Ân Thi, Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; vùng tỉnh Thái Bình; vùng Kiện Khê-Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vùng Tam Điệp, Rịa, Thiên Tôn, Đồng Giao, tỉnh Ninh Bình; vùng Nam Sách, tỉnh Hải Dương;

Kết quả đạt được khi xây dựng mô hình quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình

There are no translations available.

Dự án đã thu thập toàn bộ mặt cắt ngang lòng sông trong sơ đồ thủy lực Mike 11 trong dự án “Lập quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình”. Các mặt cắt chủ yếu đo đạc năm 1999-2000 với khoảng 36 sông chính với 1086 mặt cắt (trung bình 2Km/MC). Bổ sung các mặt cắt đo mới từ 2008-2012 trong các dự án gần đây đã được  nhiều đơn vị đo đạc để xây dựng mô hình riêng.

Nội dung Phân nổ nguồn nước và Bảo vệ tài nguyên nước của dự án :" Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Srêpok ".

There are no translations available.

Sông Srêpok nằm ở phía tây dãy Trường Sơn thuộc khu vực Tây Nguyên của Việt Nam, đây là một trong những hệ thống sông lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển KT - XH trong vùng. Cùng với sông Sê Kông và sông Sê San, sông Srêpok là các phụ lưu của sông Mê Công, bắt nguồn từ Tây Nguyên chảy qua lãnh thổ Campuchia và hợp lưu với sông Mê Công tại Stung Treng.

Trên cơ sở các tài liệu hiện trạng kết hợp các thông tin liên quan về quy hoạch kinh tế - xã hội và các ngành trong các địa phương, báo cáo đã xác định được nội dung Phân nổ nguồn nước và Bảo vệ tài nguyên nước theo quy định của Thông tư 42/2015/TT-BTNMT với nội dung chính như sau:

1- Về phân bổ nguồn nước

Đã xác định các giá trị tài nguyên nước:

- Tổng tài nguyên nước toàn LVS Srêpok là 16.607,0 triệu m3, trong đó tổng tài nguyên nước mặt hàng năm là 13.530,7 triệu m3, tổng tài nguyên NDĐ là 3.076,7 triệu m3.

- Lượng nước mặt có thể sử dụng trong quy hoạch là 13.460,8 triệu m3 (P=50%) 11.460,8 triệu m3 (P=75%), 10.363,5 triệu m3 (P=85%); lượng nước dưới đất có thể khai thác ổn định là 2.028,5 triệu m3/năm.

- Lượng nước bảo đảm dòng chảy tối thiểu tại các điểm phân bổ trên sông Ia Drăng là 0.98m3/s (PB1), sông Ia Lôp là 1,51 m3/s (PB2), thượng lưu sông Ea H’Leo là 1,14 m3/s (PB3), hạ lưu sông Ea H’Leo là 3,93 m3/s (PB4), thượng lưu sông Srêpok 27,0 m3/s (PB5), hạ lưu sông Srêpok là 27,0 m3/s (PB6), thượng lưu sông Ea Krông Ana là 14,19 m3/s (PB7), hạ lưu sông Ea Krông Ana là 18,78 m3/s (PB8), thượng lưu sông Ea Krông Nô là 14,3m3/s (PB9) và hạ lưu sông Ea Krông Nô là 20,41 m3/s (PB10).

- Nguồn nước dự phòng để cấp nước sinh hoạt trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước tại các kỳ quy hoạch bao gồm: đến năm 2020 là 0,8 tỷ m3, tương ứng dân số được cấp nước là 476.947 người; đến năm 2025 là 1,3 tỷ m3, tương ứng dân số được cấp nước là 711.298 người; đến năm 2030 là 1,33 tỷ triệu m3, tương ứng dân số được cấp nước là 922.093 người; đến năm 2035 là 2,2 tỷ m3, tương ứng dân số được cấp nước là 1.240.719 người.

- Lượng nước bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu trước khi phân bổ cho các kỳ quy hoạch bao gồm: đến năm 2020 là 3,01 tỷ m3, dến năm 2025 là 2,93 triệu m3 đến năm 2030 2,86 triệu m3 và đến năm 2035 là 2,87 triệu m3.

- Lượng nước có thể phân bổ được xác định theo tần suất: 12.591,3 triệu m3 (P=50%), 10.473,0 triệu m3 (P=75%), 9.272,7 triệu m3 (P=85%).

Xây dựng các phương án phân bổ nguồn nước: Phân bổ nguồn nước được xem xét trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sử dụng nước và giảm thiểu lượng khai thác NDĐ. Báo cáo đã tính toán theo 3 phương án dựa theo đặc điểm đên biến nguồn nước tình hình phát triển các công trình tạo nguồn:

- Phương án PA1 (phương án hiện trạng) là phương án được tính theo lượng nước đến ứng với lượng nước đến bình thường.

- Phương án PA2 (phương án phát triển) là phương án có xem xét các công trình tạo nguồn theo quy hoạch thủy lợi các tỉnh trong vùng theo lượng nước đến ứng với các lượngt nước đến bình thường.

- Phương án PA3 (phương án phát triển có xem xác tác động BĐKH) là phương án có xem xét các công trình tạo nguồn theo quy hoạch thủy lợi các tỉnh trong vùng với lượng nước đến có tác động của yếu tố BĐKH

Kết quả đã chọn phương án PA3 là phương án có xét yếu tố tác động của BĐKH và các công trình tạo nguồn theo quy hoạch thủy lợi của các tỉnh trong toàn LVS Srêpok theo các kỳ quy hoạch. Đây là phương án chọn để phân bổ nguồn nước và đã được tính toán trong điều kiện bình thường P=50%) và trong điều kiện khô hạn thiếu nước (P=75%, 85%).

Phân bổ ngưồn nước cho các đối tượng sử dụng theo phương án chọn:

Đối với điều kiện bình thường các nguồn nước được phân bổ như sau:

- Đến năm 2020 lượng khai thác nước mặt là 2.260,93 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 83,3%) và NDĐ là 450,71 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 16,7%).

- Đến năm 2025 lượng khai thác nước mặt là 2.386,60 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 84,0%) và NDĐ là 455,99 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 16,0%).

- Đến năm 2025 lượng khai thác nước mặt là 2.507,46 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 84,5%) và NDĐ là 460,21 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,5%).

- Đến năm 2035 lượng khai thác nước mặt là 2.550,61 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 84,6%) và NDĐ là 463,63 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,4%).

Đối với điều kiện khô hạn thiếu nước các nguồn nước được phân bồ được xác định theo các tần suất như sau:

- Tần suất 75%: lượng nước mặt trong các kỳ quy hoạch tăng trong khoảng 2.257,53 - 2.555,67 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 83,3 - 84,8%); lượng NDĐ tăng trong khoảng 454,11 - 458,58 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,2 - 16,7 %).

- Tần suất 85%: lượng nước mặt trong các kỳ quy hoạch tăng trong khoảng 2.255,41 2.531,41 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 83,2 - 84,0%); lượng NDĐ tăng trong khoảng 456,23 - 460,70 triệu m3 (chiếm tỷ lệ 15,5 - 16,8%).

Đề xuất Mạng giám sát tài nguyên nước, khai thác sử dụng nguồn nước: trên cơ sở mạng quan trắc hiện có và yêu cầu về giám sát nguồn nước tại các lưu vực sông, báo cáo đã đề xuất 18 vị trí trong vùng LVS Srêpok.

Thông qua kết quả phân bổ nguồn nước đã đề xuất các giải pháp quản lý giải pháp kỹ thuật và giải pháp kinh phí thích hợp được thực hiện. Đối với kinh phí thực hiện quy hoạch báo cáo không xét để kinh phí tạo nguồn do đã được xác định theo quy hoạch thủy lợi tại các tỉnh.

2- Về bảo vệ tài nguyên nước

Bảo vệ nguồn sinh thủy: trên cơ sở tình hình biến động diện tích rừng tại các tỉnh trong LVS Srêpok đã xác định các yêu cầu bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn; xác định danh mục mục rừng, hồ chứa và vùng đất ngập nước cần bảo vệ; đã xác định được các khu vực, tầng chứa nước cần bảo vệ miền cấp NDĐ làm cơ sở cho việc đề xuất vị trí, phạm vi miền cấp NDĐ cần bảo vệ trong vùng quy hoạch.

Phòng ngừa suy thoái và cạn kiệt nguồn NDĐ: theo phân tích, đánh giá mức độ hạ thấp mực nước các tầng chứa nước trong toàn LVS Srêpok theo tài liệu quan trắc nhiều năm 2003 - 2017 cho thấy mức độ cạn kiệt do khai thác không đáng kể, chủ yếu do đặc điểm dao động tự nhiên theo mùa với biên độ nhiều nơi rất lớn 8,0 - 65,4m (LK163T - X. Ia Din, H. Đức Cơ) nên sẽ gây ra tình trạng cạn kiệt trong các tháng mùa khô nhưng vào mùa mưa đã khôi phục lại. Mặt khác, do đặc điểm địa hình nên nhiều nơi mực nước bình thường rất sâu >50m nên những khu vực này không thể xem là cạn kiệt nguồn nước. Vấn đề phòng ngừa đáng quan tâm nhất trong vùng là hiện tượng chảy thông tầng khi lỗ khoan vượt qua ranh giới phân bố tầng chứa nước Bqp và Bn-qp hoặc j. Đều này sẽ dẫn đến hạ thấp mực nước trên diện rộng khi tầng dưới có mực nước tĩnh nằm rất sâu như đã xảy ra ở một số nơi trước đây. Như vậy, vấn đề phòng ngừa suy thoái và cạn kiệt nguồn nước trong vùng sẽ được xem xét là bảo vệ ngưỡng khai thác theo lượng bổ cập hàng năm cho NDĐ tại từng toàn LVS Srêpok là 5.001.818m3/ngày.

Phục hồi nguồn NDĐ suy thoái cạn kiệt: trong vùng chưa xác định được các vùng suy thoái cạn kiệt nguồn NDĐ nên không có đề xuất phục hồi cạn kiệt. Phục hồi cạn kiệt nguồn NDĐ chỉ cần xem xét đến các công trình khai thác NDĐ làm xảy ra hiện tượng thông tầng làm mất nước tầng nằm trên. Giải pháp cho trường hợp này là trám lấp lỗ khoan đến chiều sâu thích hợp.

Bảo vệ chất lượng nước mặt: đã xác định được chất lượng nước của các sông chính (đoạn sông) trong từng Vùng quy hoạch và khoanh định được các khu vực không đạt mục đích sử dụng nước. Kết hợp chức năng nguồn nước, nguyên nhân gây ô nhiễm (tự nhiên và nhân tạo) và tải lượng chất ô nhiễm từ các nguồn thải, báo cáo đã xác định ngưỡng giới hạn về lượng, nồng độ chất gây ô nhiễm tại nguồn thải và nguồn tiếp nhận nước thải nhằm đáp ứng các mục đích sử dụng nước trong kỳ quy hoạch và đề xuất các yêu cầu phòng, chống khắc phục ô nhiễm nguồn nước trong kỳ quy hoạch.

Bảo vệ chất lượng các tầng chứa nước: trên cơ sở nghiên cứu xu thế diễn biến chất lượng NDĐ và chất lượng NDĐ theo mục đích sử dụng, báo cáo đã xác định các chỉ tiêu chất lượng nước không đạt yêu cầu cho các mục đích sử dụng của các tầng chứa nước là hàm lượng Nitro và độ pH trong các mẫu nước. Hàm lượng các thành phần hóa học khác và kim loại nặng không phổ biến, chỉ phát hiện cục bộ tại một số nơi. Báo cáo đã phân tích đánh giá nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo gây ô nhiễm nguồn NDĐ và khoanh định các phạm vi ô nhiễm và điểm ô nhiễm. Trên cơ sở đó, báo cáo đã đề xuất biện pháp bảo vệ chất lượng nước các tầng chứa nước và đề xuất danh mục các nguồn nước cần bảo tồn.

Đề xuất mạng giám sát chất lượng nước: trên cơ sở mạng quan trắc hiện có và yêu cầu về giám sát chất lượng nguồn nước tại các TLV, báo cáo đã đề xuất 29 vị trí quan trắc toàn vùng LVS Srêpok.

Các nội dung được thực hiện theo trình tự từ xác định nhu cầu của các ngành dùng nước trên từng tiểu vùng, đánh giá tiềm năng nguồn nước và khả năng đáp ứng cụ thể của từng nguồn nước; đánh giá hiệu quả sử dụng nước; quan tâm đúng mức đến an ninh lương thực, an sinh xã hội - xóa đói giảm nghèo cũng như những tác động không mong muốn do quá trình sử dụng nước mang lại (như ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt,)... để xác định các mức ưu tiên khác nhau trong phân bổ và được tính toán cho các kịch bản nguồn nước khác nhau.

Quy hoạch tài nguyên nước LVS, báo cáo xác định quan điểm nước mặt và NDĐ là các thành phần của nguồn nước trên lưu vực và cùng tham gia trong quá trình tính toán cân bằng. Áp dụng phương pháp thử dần dựa trên cơ sở khả năng đáp ứng của nguồn nước mặt kết hợp khai thác sử dụng nguồn NDĐ trong từng vùng quy hoạch. NDĐ có chất lượng tốt là tài nguyên thiên nhiên quý, trữ lượng có giới hạn cần giữ gìn và sử dụng hợp lý cho các mục đích như sinh hoạt hoặc nhu cầu sử dụng nước chất lượng cao. Tuy nhiên, NDĐ cũng luôn tuần hoàn và tái tạo nên cần có biện pháp khai thác hợp lý, tránh hạn chế tới mức lãng phí và cạn kiệt. Hy vọng rằng các kết quả tính toán về ngưỡng khai thác tài nguyên nước trong quy hoạch này sẽ là công cụ hữu ích giúp những người làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở địa phương có cơ sở kỹ thuật trong quá trình xem xét cấp phép về tài nguyên nước ở địa phương cũng như giải quyết các vấn đề tranh chấp lợi ích có thể phát sinh trong khai thác sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh cũng như trên lưu vực sông.