Tue10262021

Last update12:17:51 AM GMT

Giải bài toán tìm kiếm và đảm bảo nguồn nước ngọt trên đảo Hòn Tre

There are no translations available.

Đảo Hòn Tre thuộc xã Hòn Tre, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Đảo nằm trong vịnh Rạch Giá thuộc Biển Tây, cách bến tàu Rạch Giá khoảng 30km về hướng tây nam. Diện tích 4,3km2 (428,59ha). Đảo có tiềm năng lớn về du lịch, trong tương lai Hòn Tre sẽ trở thành khu du lịch sinh thái mới của tỉnh Kiên Giang. Dân số trên đảo có 4.376 người với 1.047 hộ gia đình, phần lớn là dân di cư từ đất liền ra đảo.

Những kết quả đạt được sau khi nghiên cứu đề xuất bộ công cụ mô hình toán dự báo tài nguyên nước mặt, nước dưới đất phù hợp với điều kiện lưu vực sông ở Việt Nam

There are no translations available.

Công tác dự báo tài nguyên nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý và quy hoạch tài nguyên nước (phân bổ, chia sẻ tài nguyên nước). Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có một bộ công cụ nào hoàn chỉnh để dự báo tài nguyên nước mặt, nước dưới đất cho một lưu vực sông. Dự báo tài nguyên nước là dự báo diễn biến cả về số lượng (Wtb,Max,Min, Htb,Max,Min) và chất lượng nước (độ mặn, BOD5, COD, N-NH4, P-PO4, TSS, độ đục, Tổng Coliform...) theo thời gian và không gian trên lưu vực sông. Trong khi đó, công tác dự báo tài nguyên nước ở nước ta chỉ tập trung vào dự báo HMax,Min, QMax, Min, để phục vụ cho phòng chống lũ, lụt, hạn hán và các vấn đề về nông vụ, nuôi trồng thuỷ sản, chưa dự báo được tổng lượng nước (W) tại các vị trí là bao nhiêu, chất lượng nước, độ mặn là như thế nào, có đảm bảo cung cấp cho các hộ khai thác sử dụng hay không? Chính vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn được bộ công cụ mô hình toán để dự báo tài nguyên nước phù hợp với từng điều kiện lưu vực sông chính ở Việt Nam là cần thiết. Đặc biệt trong thời gian 5 năm đến 10 năm tới bài toàn dự báo tài nguyên nước, về thời đoạn dự báo cần tiếp cận tới thời gian thực, yếu tố dự báo cần dự báo được cả về số lượng và chất lượng nước mặt, nước dưới đất. Xuất phát từ lý do trên, từ năm 2017-2020, ThS. Thân Văn Đón cùng các công sự tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất bộ công cụ mô hình toán dự báo tài nguyên nước mặt, nước dưới đất phù hợp với điều kiện lưu vực sông ở Việt Nam”.

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tích cực vào hoàn thiện hệ công cụ hỗ trợ trong quản lý tài nguyên nước nói chung và dự báo số lượng tài nguyên nước mặt nói riêng nhằm sử dụng hiệu quản tài nguyên nước lưu vực sông theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững.

Một số kết quả nổi bật của nghiên cứu:

Về tiêu chí lựa chọn mô hình:

Theo đặc điểm của các mô hình toán thủy văn, nhóm tác giả đã nghiên cứu nhóm tiêu chí và đề xuất tiêu chí lựa chọn mô hình dự báo thủy văn dựa trên các tiêu chí được thiết lập qua kinh nghiệm và nghiên cứu của Baker và Carder, 1976 bao gồm 6 tiêu chí: 1. Tính dễ sử dụng của mô hình; 2 Khả năng số liệu; 3. Khả năng của mô hình; 4. Khả năng đối với các hoạt động quản lý rừng; 5. Khả năng áp dụng cho các vùng địa lý khác nhau; 6. Độ chính xác của dự báo.

Tương tự đối với mô hình cân bằng nước và diễn toán dòng chảy, nhóm tác giả đã nghiên cứu nhóm tiêu chí đề xuất tiêu chí lựa chọn mô hình dựa trên các tiêu chí được thiết lập qua kinh nghiệm và nghiên cứu của Mr. Rick Walls, 2007 có liên quan như sau: 1. Khả năng diễn toán dòng chảy mùa khô và mùa lũ; 2. Giao diện mô hình; 3. Quản lý kịch bản; 4. Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng; 5. Giá cả; 6. Dễ sử dụng; 7. Tốc độ tính toán.

Đối với mô hình dự báo nước dưới đất, nhóm tác giả đã nghiên cứu nhóm tiêu chí đề xuất tiêu chí lựa chọn mô hình là:1. Cấu trúc địa chất: Tầng chứa nước lỗ hổng, bở rời; 2. Khả năng số liệu của vùng nghiên cứu; 3. Khả năng kết nối với các mô hình khác; 4. Khả năng diễn toán dòng chảy mùa khô và mùa lũ;5. Giao diện mô hình; 6. Quản lý kịch bản; 7. Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng; 8. Giá cả; 9. Dễ sử dụng; 10. Tốc độ tính toán.

Về mô hình toán:

Sau khi được nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá lựa chọn thông qua các tiêu chí đánh giá lựa chọn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất được bộ công cụ mô hình tính toán dự báo tài nguyên nước mặt đáp ứng được các yêu cầu chủ chốt và phù hợp với các lưu vực sông chính ở Việt Nam (gồm 13 lưu vực sông) đó là: 1. Mô hình Mike - Nam để tính toán dòng chảy (thủy văn); 2. Mô hình Mike Basin để tính toán cân bằng nước; 3. Mô hình Mike 11 để diễn toán dòng chảy (thủy lực). Quá trình đề xuất được thực hiện dựa trên việc định tính (bộ tiêu chí đánh giá) và định lượng (bộ công cụ AHP đánh giá trọng số tiêu chí) đưa ra kết quả đề xuất công cụ mô hình phù hợp tính toán tài nguyên nước đối với từng lưu vực sông. Còn với mô hình nước dưới đất là mô hình SEAWAT được xây dựng dựa trên nền tảng của mô hình MODFLOW được đề xuất và lựa chọn để nghiên cứu trong đề tài.

Về ứng dụng thực tế của bộ công cụ mô hình toán:

Bộ công cụ đã được ứng dụng thử nghiệm tại lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn - con sông lớn nhất miền Trung, diễn biến tài nguyên nước rất phức tạp. Trong nghiên cứu này đã tích hợp mô hình mưa - dòng chảy thông số tập trung Mike - Nam, mô hình thủy lực Mike 11 và công cụ tính triều trong Mike 21 để dự báo dòng chảy đến hồ, cân bằng nước và diễn toán dòng chảy trong sông Vu Gia Thu Bồn theo thời gian thực và theo tháng, mùa và năm. Kết quả nghiên cứu dự báo thử của tháng 9 năm 2020 cho kết quả tốt, là cơ sở nâng cao chất lượng dự báo tài nguyên nước mặt cho các đơn vị thực hiện nghiệp vụ cảnh báo và dự báo tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia và các đơn vị liên quan. Còn diễn biến về chất lượng nước mặt, nước dưới đất và diễn biến dòng chảy, mực nước dưới đất thì chưa có điều kiện để thử nghiệm ở lưu vực sông điển hình.

Có thể tìm đọc kết quả thử nghiệm tại trình duyệt web, (Google Chrome, Firefox), địa chỉ phần mềm như sau: https://tnn.chatluongnuoc.com.

Bảo vệ nước dưới đất ở Cà Mau trước nguy cơ sụt lún nền đất do khai thác nước ngầm quá mức

There are no translations available.

bai_5-2a-1Cà Mau là tỉnh đồng bằng ven biển, là một trong ba khu vực kinh tế động lực của tỉnh (Tp. Cà Mau, TT. Năm Căn, TT. Sông Đốc), trong những năm gần đây kinh tế của thành phố Cà Mau phát triển khá mạnh và dân số tăng nhanh, kéo theo nhu cầu về sử dụng nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng cao và trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu, do nhu cầu sử dụng nước của người dân ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng.

Hiện nay, nguồn nước cung cấp cho thành phố Cà Mau chủ yếu là nước dưới đất, khai thác trong các tầng chứa nước qp2-3, n22, n21. Nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Cà Mau phong phú nhưng hầu như bị mặn hoàn toàn. Nguồn nước mưa là nguồn nước nhạt có giá trị sau nguồn nước ngầm nhưng chỉ tập trung 6 tháng mùa mưa.

Để giải quyết nhu cầu về nước sinh hoạt của gia đình mình, các hộ dân đã tự thực hiện việc khoan giếng lấy nước, khi đó những giếng này thường khai thác ở tầng nông (tập trung chủ yếu ở tầng chứa nước n22 ), tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm thành phố và không đảm bảo yêu cầu về chất lượng (bị nhiễm phèn, mặn, mùi hôi…). Đồng thời, việc khai thác nước ngầm với lưu lượng lớn không theo quy hoạch cũng làm cho khả năng bị ô nhiễm các tầng nước dưới đất trong khu vực trở nên đáng lo ngại, đặc biệt là sự hạ thấp mực nước ngầm dẫn hiện tượng sụt lún nền đất có nhiều khả năng xảy ra.

Theo báo cáo kết quả sơ bộ của Viện Địa kỹ thuật Na Uy (NGI) cho thấy ở tỉnh Cà Mau có thể bị sụt lún nghiêm trọng từ trên bề mặt xuất phát từ hoạt động khai thác nước ngầm của 109.096 giếng với tổng lưu lượng khoảng 373.000m3/ngày đêm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ sụt lún từ 1,56 - 2,30cm/năm. Nghiên cứu của NGI cũng chỉ ra, trong vòng 15 năm (1998-2013), tốc độ sụt lún mặt đất từ 30-80cm và theo dự báo trong vòng 25 năm tới, tốc độ sụt lún sẽ tăng lên 90-150cm và 210cm trong vòng 50 năm tới. Theo kết quả nghiên cứu năm 2016 của Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam (thuộc Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam) cho thấy, nơi sụt lún sâu nhất ở Cà Mau đo được là 1,71cm/năm, sụt lún trung bình do khai thác nước ở Cà Mau khoảng 0,35cm/năm. Kết quả nghiên cứu cũng xác định có 3 nguyên nhân gây nên sụt lún mặt đất gồm sụt lún cấu kết do trầm tích trẻ, do khai thác nước và do chuyển động kiến tạo.

Để hạn chế tình trạng sụt lún nền đất từ việc khai thác quá mức, cần có phương án bảo vệ nguồn nước ngầm, cụ thể là xây dựng các phương án và đề xuất lộ trình khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước dưới đất; khoanh định các khu vực hạn chế khai thác; các phương án hồi phục trữ lượng nước dưới đất, khoanh vùng bảo hộ vệ sinh công trình lấy nước sinh hoạt. Đó cũng là một trong những nhiệm vụ phải đạt được của đề án “ Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia chủ trì thực hiện trong phạm vi đô thị Cà Mau. Việc thực hiện đề án là hết sức cần thiết nhằm phục vụ việc thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo an ninh quốc phòng; là tài liệu quan trọng phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, khai thác và sử dụng nước dưới đất trên địa bàn thành phố.

Hiện trạng thông tin dữ liệu về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất tại đô thị Quảng Ngãi

There are no translations available.

Thời gian qua, nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang ngày càng suy kiệt do các hoạt động khai thác nước ngầm quá mức của người dân. Vì vậy, việc điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng nguồn nước dưới đất là rất cần thiết. Hiện nay có nhiều dự án đang thực hiện đồng bộ để đánh giá hiện trạng và đưa ra các giải pháp bảo vệ nguồn nước ngầm, trong đó có đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” - Đô thị Quảng Ngãi do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia chủ trì thực hiện theo Quyết định số 3071/QĐ-BTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

Bảo vệ nước dưới đất tại Quảng Ngãi: Vì sự phát triển bền vững của đô thị

There are no translations available.

Sự suy giảm số lượng cũng như chất lượng nguồn nuớc ngầm ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển bền vững của các đô thị. Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn nói chung và tại Quảng Ngãi nói riêng đang là vấn đề cấp thiết được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia nhanh chóng triển khai thực hiện.

Phân tích, đánh giá tính hiệu quả của Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – Giai đoạn II

There are no translations available.

Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – Giai đoạn II thực hiện trên phạm vi 8 tỉnh, thành phố, phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, ngoài ra đây là các vùng có mật độ dân cư cao. Vì vậy quá trình thi công đề án sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Để đề án có tính hiệu quả cao cần phải phân tích, đánh giá đầy đủ những khó khăn, thuận lợi, nhằm đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn và tận dụng những thuận lợi để triển khai đề án một cách nhanh chóng, hoàn thành mục tiêu đề ra và đáp ứng đầy đủ tính kinh tế kỹ thuật của đề án.

Đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính

Vùng triển khai đề án là các đô thị lớn, có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, nên giá thành đầu tư theo quy phạm sẽ rất cao. Để đạt hiệu quả kinh tế, giảm giá thành thực hiện cần thiết lựa chọn một số giải pháp cụ thể sau:

- Kế thừa kết quả nghiên cứu có trước: thu thập đã đầy đủ kết quả nghiên cứu hiện có trong vùng để lựa chọn phương pháp nghiên cứu và triển khai Đề án tối ưu.

- Kế thừa các nghiên cứu đang thực hiện: Một số Đề án đang thực hiện cũng được xem xét kỹ lưỡng nhằm giảm thiểu khối lượng thiết kế trùng lặp và kế thừa kết quả sau khi hoàn thành.

- Bố trí các công trình thi công phù hợp với điều kiện tự nhiên, giảm thiểu khối lượng thiết kế dư thừa kém hiệu quả (chiều sâu, đường kính lỗ khoan. điều kiện để khai thác sử dụng...)

Đánh giá hiệu quả về xã hội

Hiệu quả về xã hội thực tiễn nhất mà Đề án mang lại cho các địa phương là xây dựng bản đồ vùng hạn chế khai thác, có hệ thống kiểm soát chất lượng và trữ lượng nước dưới đất trong quá trình khai thác.

Đánh giá tác động đối với môi trường

Hoạt động của đề án phần lớn không có ảnh hưởng đến môi trường. Những ảnh hưởng nếu có chỉ mang tính nhất thời trong quá trình thi công. Và chỉ xảy ra với những trường hợp sau:

* Các công trình khoan

- Đối với những lỗ khoan thi công nằm kề ranh mặn sẽ tiềm ẩn nguy cơ xâm nhập mặn (thấm xuyên và từ bên sườn) do đó cần trong quá trình thực hiện, cần thiết phải có đội ngũ kỹ thuật lành nghề, thiết bị công nghệ tốt và quy trình công nghệ hợp lý.

- Các lỗ khoan không đạt yêu cầu về chất lượng thì phải tiến hành ngay phương án trám lấp theo đúng quy định hiện hành.

* Các công trình bơm, hút nước

Trong quá trình nghiên cứu có những lỗ khoan gặp nước lợ hoặc mặn, quá trình bơm thổi rửa hoặc thí nghiệm sẽ là ảnh hưởng đến cây trồng và các dòng nước mặt chung quanh. Cần thiết phải có quy trình thu gom xử lý triệt để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực.

Đánh giá tính bền vững của Đề án

- Kết quả của Đề án là nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng tài nguyên nước dưới đất và phát triển đô thị.

- Cung cấp thông tin dữ liệu cho các ngành kinh tế - xã hội liên quan đến khai thác sử dụng tài nguyên nước.

- Dư án sẽ tạo nên một cơ sở dữ liệu của tài nguyên môi trường và sử dụng lâu dài chung trong cộng đồng, giúp định hướng các công tác quan trắc và giám sát chất lượng và trữ lượng nước dưới đất ở các đô thị lớn.

- Đề án hoàn thành ngoài việc chỉ ra những vùng có khả năng bổ cập, những khu vực tầng chứa nước có khả năng tự bảo vệ, những khu vực dễ bị tổn thương và xây dựng bộ bản đồ chuẩn xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác. Đây là những cơ sở rất quan trọng cho công tác Quản lý nhà nước về tài nguyên nước dới đất ở các đô thị lớn.

Các kết quả của Đề án góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật đồng thời là nguồn tài liệu phong phú cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học tiếp theo.

Khả năng rủi ro của Đề án

Trường hợp Đề án triển khai kéo dài thời gian sẽ dẫn đến những rủi ro nhất định do sự biến động về kinh tế - xã hội.

- Sự biến động tiền lương, trượt giá và những thay đổi mới của cơ chế … sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với tiến độ thực hiện Đề án.

- Chủ trương và chính sách xã hội của các địa phương thay đổi cũng sẽ là rào cản trong việc thực hiện Đề án.

- Vì nhiều lý do, kinh phí cấp theo tiến độ hàng năm thường không phù hợp với từng giai đoạn thực hiện của đề án dẫn đến Đề án sẽ kéo dài hơn.

- Trong quá trình thi công có thể sẽ có phát sinh những vấn đề chuyên môn nằm ngoài dự kiến của Đề án do các điều kiện tự nhiên của khu vực. Đối với những trường hợp này cần có sự trao đổi thông tin, thống nhất kịp thời để đưa ra phương hướng giải quyết hiệu quả nhất.

Tóm lại, kết quả nghiên cứu của đề án là đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ tài nguyên nước dưới đất, giúp quản lý hiệu quả tài nguyên nước. Tính hiệu quả của đề án không chỉ dựa vào việc đánh giá hiệu quả về kinh tế - xã hội mà còn cần phải xem xét đến đặc tính sử dụng nước từng vùng, phát huy các khả năng tăng hiệu quả sử dụng nước, ý thức của người dân trong sử dụng tài nguyên nước; đánh giá những thay đổi về sự phát triển của xã hội và tiềm năng tài nguyên nước cho các vùng... Những kết quả dự án đạt được là cơ sở để quản lý và triển khai các giải pháp bảo vệ nước dưới đất, bảo đảm mục tiêu khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên nước tại địa phương.

Thành phố Tuy Hòa - Phú Yên: Phải bảo vệ và sử dụng nguồn nước dưới đất bền vững

There are no translations available.

Phú Yên là một tỉnh có vị thế quan trọng của vùng duyên hải miền Trung cũng như cả nước về các mặt kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng. Thành phố Tuy Hòa là trung tâm kinh tế, chính trị - xã hội của tỉnh Phú Yên, có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển chung của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.

Xác định giới hạn khai thác hợp lý nước dưới đất qua nghiên cứu sự phục hồi tầng chứa nước trong quá trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác tại tỉnh Thái Bình

There are no translations available.

Năm 2020, Th.S Chu Thị Thu - Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ tài nguyên nước - Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cùng các cộng sự đã hoàn thành nghiên cứu đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Xác định giới hạn khai thác hợp lý nước dưới đất qua nghiên cứu sự phục hồi tầng chứa nước trong quá trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác tại tỉnh Thái Bình“ để tìm ra các giải pháp kết hợp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước mặt và nguồn nước dưới đất bền vững, hiệu quả...