Tue06022020

Last update04:36:03 AM GMT

Học hỏi kinh nghiệm xử lý nước thải từ Nhật Bản

There are no translations available.

Một nhà máy xử lý nước thải tại Kitakyushu, Nhật Bản. (Ảnh: Nguyệt Ánh/Vietnam+) Vừa qua, các chuyên gia ở Hà Nội, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh… đã tham gia khóa học về quản trị hệ thống thoát nước cũng như việc xử lý nước thải tại thành phố Kitakyushu của đất nước Mặt Trời mọc.
Sở dĩ Kitakyushu được lựa chọn làm điểm đến cho các học viên Việt Nam bởi nơi đây đang được xây dựng để trở thành thành phố điển hình về môi trường.

Vào thập kỷ 60 của thế kỷ 20, Kitakyushu từng bị ô nhiễm rất nặng nề. Khi đó, các nhà máy tại đây bốc ra khói bảy màu độc hại, nước biển ô nhiễm làm cá chết, nước sông đen ngòm như nước cống…

Tuy nhiên, hiện nay Kitakyushu đã trở thành một thành phố sạch với những dòng sông trong xanh, khói đen không còn bốc lên từ các nhà máy công nghiệp.

Tại khóa học dành riêng cho các chuyên gia Việt Nam, với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), các học viên đã được thị sát Trung tâm môi trường nước, cách quy hoạch hệ thống thoát nước của Kitakyushu, cách bảo trì cơ sở thoát nước và cống ngầm.

Họ cũng được giới thiệu về các hoạt động thoát nước và hệ thống sông ngòi của thành phố Kitakyushu, cách sử dụng hiệu quả bùn cặn sau khi xử lý nước thải.

Ông Đỗ Trường Chinh – Phó Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thoát nước Hải Phòng, một học viên tại khóa đào tạo của JICA, rất bất ngờ khi được chứng kiến sự thay đổi của Kitakyushu - nơi được cho là có nhiều điểm tương đồng so với thành phố cảng Hải Phòng của Việt Nam.

"Hải Phòng là thành phố công nghiệp và đang đối mặt với vấn đề xử lý nước thải, một bài toán mà Kitakyushu đã có lời giải khá hiệu quả,” ông Chinh nói.

Trước đó, trong khảo sát “Các cách tiếp cận để lên kế hoạch một cách có hệ thống cho các dự án phát triển: Ô nhiễm nước” thực hiện tại Việt Nam, các chuyên gia Nhật Bản đã gợi ý hai hướng tiếp cận với vấn đề xử lý nước. Một là phát triển năng lực của tất cả các đối tượng tham gia bảo tồn nước và quản lý ô nhiễm. Hai là phát triển công nghệ xử lý nước thải theo nguồn nước.

JICA cũng đã giúp Viện Công nghệ môi trường (IET) thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) thực hiện dự án “Nâng cao năng lực của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nước - Giai đoạn 2”  từ tháng 11/2007 đến tháng 12/2011, để giúp VAST nâng cao năng lực quan trắc và kiểm soát môi trường nước về mặt khoa học và công nghệ, trong đó có vấn đề xử lý nước thải.

Hiện chỉ có 6 trên tổng số hơn 750 đô thị của Việt Nam có trạm xử lý nước thải. 13 trạm xử lý nước thải, với tổng công suất gần 300.000m3/ngày đêm tại các đô thị mới đang xử lý được khoảng 10% lượng nước thải, ông Nguyễn Minh Đức - Phó phòng cấp thoát nước, Cục Hạ tầng Kỹ thuật, Bộ Xây dựng cho biết./.


Nhật Bản đến Cần Thơ đàm phán về cơ hội hợp tác xử lý nước thải

There are no translations available.

99(TN&MT) - Ngày 15/12/2010, Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Nguyễn Thanh Sơn đã tiếp và làm việc với đoàn Uỷ ban TP. Cobe và Cty Cobelco Eco- Solutions, Bộ đất đai, cơ sở hạ tầng, giao thông và du lịch Nhật Bản về vấn đề xử lý nước thải và cơ hội hợp tác.

Thông tin từ cuộc giao tiếp này cho biết vừa qua Bộ trưởng Bộ ngoại giao và Bộ giao thông vận tải Nhật Bản đã ký hiệp định về việc hỗ trợ cho Việt Nam về cấp thoát nước và xử lý nước thải. Cty Cobelco Eco – Solutions - Nhật Bản đã có kinh nghiệm 60 năm về xử lý cấp thoát nước. Cty này đại diện cho TP. Kobe đến với Việt Nam mà trong đó là TP. Cần Thơ để xử lý nước cấp và nước thải với hình thức chính phủ và doanh nghiệp cùng nhau xử lý.

“Tại Nhật Bản, chất thải và nước thải thải là rất lớn vì lẽ đó mà chúng tôi có những kỹ thuật mới là xử lý nước cấp và nước thải bằng năng lượng, bùn khí được dùng làm biogas” - Ông Tetsuo Hamaguchi, Giám đốc Sở quản lý sông và các công trình nước thải, văn phòng các dự án xây dựng công ích, TP. Kobe, nói. Hiện tại TP. Kobe có 06 nhà máy xử lý nước thải, không có tình trạng chôn lấp chất thải, gần đây thành phố này đã tái sử dụng tro đốt từ rác thành Plasma và thủy tinh và còn làm biogas từ bùn. Theo ông Tetsuo Hamaguchi: xử lý rác bằng cách đốt ở nhiệt độ từ 800 - 1.200 độ C sẽ tạo ra tro và đốt ở nhiệt độ cực cao (khoảng 1.200 độ C trở lên) sẽ chảy thành Plasma và khi đốt một lần nữa với nhiệt độ cực cao như vậy sẽ thành thủy tinh. Đây cũng là phương án mà Nhật Bản vẫn áp dụng và Cty Cobelco Eco- Solutions là nơi đầu tiên tạo ra biogas đầu tiên của Nhật Bản.

            Tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Nguyễn Thanh Sơn đã trao đổi về tình trạng ô nhiễm môi trường ở TP. Cần Thơ hiện đang rất nghiêm trọng. Điều kiện đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt còn nhiều khó khăn. Xử lý nước thải là vấn đề rất quan trọng đối với TP. Cần Thơ. Ông Sơn mong muốn phía Nhật Bản hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm xử lý nước thải, chất thải trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong thời gian tới. Phía Nhật Bản đã nêu những tiêu chí chú trọng trong xây dựng nhà mày xử lý nước thải, phải có ít nhất gồm 05 nhóm người biết về xây dựng; biết về máy móc; biết về điện; biết về hóa học và trực tiếp vận hành máy móc. Ngoài ra còn cần người quản lý có tầm nhìn xa.

Được biết, sau cuộc đàm phán này phía Nhật Bản sẽ khảo sát thực tế nhà máy thoát nước và xử lý nước thải Cái Sâu. Hai bên sẽ còn tiếp tục bàn bạc để có thể đạt được sự đồng thuận và mở ra lộ trình hợp tác trong thời gian tới.

 

 

 

(Theo Tainguyenmoitruong.com.vn)

Biến đổi khí hậu và câu chuyện MDG tại Việt Nam

There are no translations available.

tt97Biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng trở nên rõ rệt và Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh nhất. Không những khó đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015 mà các kết quả hiện tại cũng khó được duy trì và có khả năng bị phá vỡ. Đối với mục tiêu xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói.
Biến đổi khí hậu gây tác động mạnh mẽ nhất đến những người dân mà sinh kế gắn với khai thác tự nhiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Theo số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS/ 2008), gần 1/3 tổng thu nhập của người nghèo Việt Nam là từ các hoạt động sinh kế nói trên. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của Việt nam nhưng cũng là nơi chịu tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu. 21,3 % thu nhập của người nghèo nơi đây từ nông, lâm và thủy sản. Tỷ lệ này ở Tây Bắc là 54,9 %, Tây Nguyên 52,0 %... Bên cạnh đó, thay đổi trong hệ thống tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật và năng suất lao động có thể làm mất ổn định cuộc sống, buộc cộng đồng phải di cư.

Đối với mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học

Trong năm 2008 – 2009, vẫn có khoảng 3% trẻ trong độ tuổi tiểu học không được tới trường, tương đương trên 2000 trẻ. Biến đổi khí hậu là một trong những lý do làm mất tài sản, sinh kế và thảm họa tự nhiên làm giảm các cơ hội được giáo dục đào tạo chính quy. Nhiều trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) có thể bị ép phải nghỉ học nhằm giúp gia đình tìm việc làm tăng thu nhâp hoặc giúp đỡ những thành viên gia đình bị ốm. Thay đổi nơi sống và di cư cũng có thể làm giảm cơ hội đến trường.

Đối với mục tiêu tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ

Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng tiêu cực đến phụ nữ nhiều hơn nam giới. Sự gia tăng bất bình đẳng về giới do các sinh kế của phụ nữ ngày càng phụ thuộc vào môi trường và các điều kiện khí hậu, thời tiết. Phụ nữ và trẻ em gái thường phải đảm nhiệm việc nội trợ, giáo dục con cái và lo thực phẩm cho gia đình. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng khiến họ bị giảm cơ hội được giải phóng và bình đẳng.

Đối với mục tiêu giảm tử vong trẻ em

Tại Việt Nam, tỉ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 58 % (1990) xuống 24,4% (2009) và mục tiêu đặt ra đến năm 2015 chỉ còn 19,3%. Tuy nhiên tử vong và bệnh tật đang có xu hướng gia tăng do thiên tai như bão, lũ lụt, hạn và các đợt nắng nóng, rét hại kéo dài. Phụ nữ mang thai và trẻ em thường là những đối tượng có hệ miễn dịch yếu hơn, dễ bị lây truyền các bệnh truyền nhiễm do côn trùng: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não và các bệnh dịch đổi khí hậu và làm tăng tỷ lệ tử vong trẻ em.

Đối với mục tiêu tăng cường sức khỏe bà mẹ

Giảm chất lượng nước và trữ lượng nước sạch, nguy cơ gia tăng các bệnh truyền nhiễm do biến đổi khí hậu là các yếu tố đe dọa sức khỏe sinh sản, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc bà mẹ và trẻ em. Thảm họa thiên nhiên gây mất mùa, đói kém, di cư do biến đổi khí hậu có thể tác động tới an ninh lương thực và dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em.

Đối với mục tiêu phòng chống HIV/ AIDS, sốt rét và bệnh khác

Việt Nam xếp vị trí thứ 12 trong số 22 quốc gia có bệnh nhân lao cao nhất thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực, sau Trung Quốc và Phillipin. Cùng với sức ép về tài nguyên nước, điều kiện thời tiết nóng lên sẽ làm gia tăng bệnh dịch, kể cả HIV/ AIDS. Biến đổi khí hậu có thể làm tăng sự lây lan và bùng phát một số bệnh truyền nhiễm qua côn trùng và thức ăn, nguồn nước. Di cư tăng và mật độ dân số cao do ảnh hưởng biến đổi khí hậu cũng giúp lây lan bệnh truyền nhiễm và bệnh xã hội trở thành nguy cơ “đỏ”. Điều  đó làm giảm hiệu quả các hoạt động phòng chống.

Đối với mục tiêu đảm bảo bền vững về môi trường

Biến đổi khí hậu làm nghiêm trọng hơn tình trạng suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam. Nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào hệ sinh thái, giảm đa dạng sinh học, tăng ô nhiễm môi trường và là một thách thức lớn cho phát triển bền vững. Ngoài ra, nó cũng làm thay đổi quá trình tương tác giữa hệ sinh thái và con người dẫn tới mất các nguồn bổ trợ cho cuộc sống cơ bản của cộng đồng.

Đối với mục tiêu thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển

Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu. Quá trình ứng phó đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển để đối phó và thích ứng với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Quan hệ quốc tế và các mối tương tác địa lý, chính trị có thể bị ảnh hưởng do tác động của biến đổi khí hậu và xung đột liên quan đến tài nguyên, lãnh thổ và môi trường

Vượt qua những trở ngại nói trên để đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ là nhiệm vụ mà Việt Nam sẽ phải kiên quyết thực hiện trong thời gian 5 năm tới. Trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 – 2015 đã đề ra những định hướng phát triển lớn. Trong thời gian tới chúng ta vẫn cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những giải pháp cụ thể đối phó với những trở ngại và thách thức trong từng mục tiêu, lồng ghép những giải pháp đó trong các kế hoạch và chương trình hành động./.

 

 

 

(Theo DWRM)

Hợp tác nghiên cứu chất ô nhiễm trên sông Mekong

There are no translations available.

tt64Hội thảo phát động nghiên cứu về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs) do mạng lưới các trường đại học lưu vực sông Mekong thực hiện đã được tổ chức từ ngày 13-16/12, tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp.
Hội thảo có sự tham dự của các nhà khoa học đến từ các nước lưu vực sông Mekong (Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia) và Hoa Kỳ. Các nhà khoa học sẽ cùng xây dựng chiến lược lấy mẫu số liệu POPs, đồng thời lập bản đồ phân bố đất ngập nước lưu vực sông Mekong và bản đồ phân bố các loài cỏ dại ngoại lai. Các nhà khoa học cũng sẽ dành hai ngày (14-15/12) đi thăm Vườn quốc gia Tràm Chim-Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp để tìm hiểu thực tế, thử nghiệm và đào tạo các kỹ thuật này.
Theo giới khoa học, các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy đang gây tác hại rất lớn, làm giảm sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường trên khắp thế giới. POPs từ thuốc trừ sâu và các nguồn khác ngấm vào các hệ thống nước mặt và có thể tích tụ ở sông hồ và đầm lầy.
Lưu vực sông Mekong là một trong những dòng sông quan trọng nhất thế giới trong việc hỗ trợ cuộc sống con người thông qua nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, nhưng hiện có rất ít nghiên cứu về POPs ở sông Mekong.
Được sự tài trợ của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, dự án nghiên cứu POPs lưu vực sông Mekong là một phần trong Sáng kiến Hạ nguồn sông Mekong của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, trong đó Hoa Kỳ hợp tác cùng Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan để đương đầu với các thách thức về giáo dục, môi trường và y tế xuyên quốc gia.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Clune khẳng định: “Sáng kiến Hạ nguồn sông Mekong là một bằng chứng nữa thể hiện sự hợp tác mạnh mẽ của chúng tôi trong các lĩnh vực môi trường, y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng"./.
(Theo DWRM)

Nâng cao năng lực quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam

There are no translations available.

tt25Tiếp theo Hội thảo đầu tiên được tổ chức thành công ngày 9/7/2010, vừa qua, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài  nguyên nước (QH & ĐTTNN) phối hợp với Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên Liên Bang Đức (BGR) tổ chức Hội thảo lần 2 về “ Quản lý tổng hợp tài nguyên nước”.

Hội thảo “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lần 2”

There are no translations available.

tt45Ngày 06 tháng 12 năm 2010, tại khách sạn Melia Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lần 2” do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước(CWRPI) phối hợp với Viện Liên bang Khoa học Địa chất và Tài nguyên thiên nhiên(BGR) của CHLB Đức tổ chức.

MêKông và cuộc chiến nguồn nước

There are no translations available.

tt48Hàng loạt công trình thủy điện lớn đang được xây dựng trên dòng chính Mekong là thách thức đối với hợp tác giữa các nước trong lưu vực. Vấn đề sông Mekong không còn đơn giản là câu chuyện nước
Mêkông là con sông  lớn nhất  ở  Đông  Nam Á,  bắt  nguồn  từ  cao nguyên  Tây  Tạng,  chảy  qua lãnh  thổ  của  6  nước  là  Trung Quốc,  Myanma,  Lào,  Thái  Lan, Campuchia  và  Việt  Nam.  Sông Mêkông có chiều dài dòng chính là  4.880  km,  diện  tích  lưu  vực 795.000 km2 và tổng lượng dòng chảy hàng năm 475 tỉ m3. So với các  lưu  vực  sông  trên  thế  giới, Mêkông đứng thứ 8 về tổng lượng dòng chảy, thứ 12 về chiều dài và thứ 21 về diện tích lưu vực.

Mêkông  là  quê  hương  sinh sống của  trên 80  triệu người với trên 100 dân  tộc khác nhau,  làm thành một trong những vùng đa dạng văn hoá nhất  trên  thế giới. Lưu vực Mêkông là  nơi sản xuất một  lượng  lúa gạo đủ nuôi sống 300  triệu  người  và  cũng  là một trong những  vùng  có  sản  lượng cá  nước  ngọt  lớn  nhất  trên  thế giới. Trong lưu vực có trên 1.300 loài cá sinh sống và chế độ dòng chảy dao động theo mùa đã cung cấp môi  trường  và  thức  ăn  cho các  loài  động  vật  thuỷ  sinh  của lưu vực.

Ủy  hội  Sông Mêkông  (MRC) được  thành  lập  năm  1995  theo một  điều  khoản  của  Hiệp  định Phát  triển  Bền  vững  Lưu  vực sông Mêkông (Hiệp định Mêkông 1995)  được 4 quốc gia hạ lưu vực (Lào,  Thái  Lan,  Campuchia  và Việt Nam) ký kết ngày 5/4/1995. Việc  ký  Hiệp  định  Mêkông 1995  khẳng  định  thiện  chí  của các quốc gia hạ  lưu vực  tiếp  tục duy trì, phát triển cơ chế hợp tác Mêkông  đã  hình  thành  từ  1957 với  mong  muốn  hợp  tác  phát triển bền vững và gìn giữ nguồn tài nguyên thiên  nhiên  chung. Hợp  tác Mêkông  trải  qua  nhiều giai  đoạn  thăng trầm  cùng  với những biến động chính  trị  trong khu vực.

Cơ  hội  lớn  nhất  cho  hợp  tác Mêkông  là  sự  công  nhận  và  hỗ trợ  lớn  lao  từ cộng đồng quốc  tế dành  cho  những  nỗ  lực  hợp  tác bảo  vệ  nguồn  tài  nguyên  thiên nhiên và môi trường của vùng hạ lưu  vực  trong  hơn  50  năm  qua. Có  thể  nói  sự  hỗ  trợ  to  lớn  của cộng đồng quốc tế cùng với sự nỗ lực  của  các  quốc  gia  thành  viên đã bảo đảm duy trì và phát triển cơ chế hợp tác quan trọng này.

Tuy  nhiên  hợp  tác  Mêkông luôn đối mặt với các  thách  thức. Trung  Quốc  và Myanma  là  hai quốc  gia  có một  phần  lãnh  thổ nằm  ở  thượng  nguồn  lưu  vực, đóng  góp  lớn  vào  tổng  lượng dòng chảy  sông Mêkông  nhưng không  tham  gia  cơ  chế  hợp  tác Mêkông.

Đặc biệt là Trung Quốc (đóng góp  18%  tổng  lượng  dòng  chảy lưu  vực)  đã  và  đang  phát  triển mạnh mẽ các công trình hồ chứa thủy  điện  lớn  trên  dòng  chính Mêkông. Tác động có thể có của các công trình thủy điện này đang là mối quan ngại cho các quốc gia hạ lưu vực.

Bên  cạnh  đó,  sự  phát  triển mạnh  mẽ  về  kinh  tế  và  sự  gia tăng dân số nhanh chóng của các các  quốc  gia  thành  viên  của Ủy hội Sông Mêkông đã và đang tạo sức ép ngày  càng  lớn  lên nguồn tài nguyên nước và các tài nguyên liên  quan  của  chính  hạ  lưu  vực Mêkông và điều này cũng tạo ra thách thức ngày càng lớn đối với hợp tác Mêkông.

Áp lực lên tài nguyên lớn nhất đó là do nhu cầu năng lượng gia tăng nhanh chóng. Các quốc gia có nguồn  tiềm năng  thủy điện ở hạ  lưu vực đã nhìn nhận đây  là nguồn  lợi không  thể không khai thác,  hàng  loạt  các  công  trình thủy điện trên dòng nhánh đã và được xây dựng và nhiều bậc thang thủy  điện  lớn  trên  dòng  chính sông ở hạ lưu Mêkông đang tiến hành những nghiên cứu và khảo sát để chuẩn bị xây dựng.

Theo  những  nghiên  cứu đánh giá của chính Ủy hội Sông Mêkông,  ngoài  những  lợi  ích kinh  tế  do  các  công  trình  thủy điện mang lại, ở các mức độ khác nhau,  các  công  trình  thủy  điện đơn mục tiêu này đều có tác động tiêu cực đến hạ lưu như làm thay đổi phân  bố  dòng  chảy,  giảm đáng kể  lượng phù  sa xuống hạ lưu, giảm lượng dinh dưỡng cho cá,  tác động đến  hình  thái  sông tăng  sói  lở  bờ  và  cản  trở  giao thông thủy.

Những biện pháp giảm  thiểu các  tác  động  tiêu  cực  cũng  đã được các quốc gia có công trình và Ủy hội Sông Mêkông nghiên cứu đề xuất, tuy nhiên một khi hàng loạt các công trình thủy điện lớn được  xây dựng  trên dòng  chính Mêkông,  thách  thức đối với hợp tác Mêkông sẽ gia tăng.

Đồng  thời  với  thủy  điện,  áp lực  sử  dụng  nước  trong  nông nghiệp và các ngành kinh  tế đòi hỏi  cần  có  lượng  nước  bổ  sung từ  ngoài  lưu  vực,  nguồn  nước sông  Mêkông  cũng  được  nhắm đến như là giải pháp cho vấn đề bổ  sung nước. Các đề án, dự án chuyển  nước  ngoài  lưu  vực  đã có thời điểm được nêu trên công luận.

Những giải pháp giảm  thiểu, cơ chế đánh đổi v..v...,  tất cả vẫn đang được đặt ra trong và ngoài khuôn khổ hợp tác Mêkông.

Thách  thức  đối  với  lưu  vực và đối với hợp tác Mêkông sẽ gia tăng hơn rất nhiều trong điều kiện có biến đổi khí hậu và mực nước biển  dâng. Với  đồng  bằng  sông Cửu Long Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo sẽ chịu  tác  động  kép  từ  cả  thượng lưu xuống và từ biển vào.

Sự hy vọng vào cơ chế hợp tác Mêkông  có  thể  “hóa  giải”  được các thách thức trên. Hợp tác Mêkông đã đánh dấu một  mốc  quan  trọng,  đúng  15 năm sau ngày ký kết Hiệp định Mêkông  1995,  ngày  5/4/2010, Hội  nghị  Thượng  đỉnh Mêkông lần đầu tiên được tổ chức tại Hua Hin (Thái Lan) với cam kết chính trị mạnh me:

“Chúng tôi, các nhà  lãnh đạo của  bốn  Chính  phủ  tuyên  bố rằng, dựa  trên những  thành  tựu của 15 năm  thực hiện Hiệp định Mêkông,  việc  hợp  tác  hơn  nữa trong những năm tới giữa Chính phủ  các  nước  thành  viên  là  rất cần  thiết  nhằm  tối  ưu  hoá  việc sử dụng đa mục  tiêu  tài nguyên nước và vì  lợi  ích  chung  của  tất cả  các  nước  ven  sông,  để  tránh bất kỳ tác động bất lợi nào do các hiện tượng tự nhiên và con người gây  ra, và bảo vệ giá  trị  lớn  lao của  các hệ  sinh  thái  tự nhiên và cân  bằng  sinh  thái”.  (Tuyên  bố chung Hua Hin, 5/4//2010).

Phát  triển  là không dừng  lại, nhưng phát triển bền vững là con đường tồn tại lâu dài. Với các con sông quốc  tế nói  chung và  sông Mêkông  nói  riêng,  tài  nguyên nước và  là tài sản chung của các quốc gia cùng chia sẻ, lợi ích của tất cả các quốc gia cần được  tôn trọng. Tuy nhiên  nguyên tắc chia sẻ công bằng và hợp lý nguồn tài nguyên nước là nguyên tắc được luật pháp quốc tế công nhận.

Với  lịch  sử  hợp  tác  lâu  dài với sự hỗ trợ to lớn từ cộng đồng quốc  tế,  đứng  trước  thách  thức mới, hy vọng các quốc gia hạ lưu vực Mêkông  sẽ  tìm  ra đường đi để  tiếp  tục bảo vệ và phát  triển nguồn nước sông Mêkông vì các thế hệ hôm nay và mai sau./.




(Theo TS. Đào Trọng Tứ - Vietnamnet)

Nhóm Hỗ trợ quốc tế về TN&MT: 5 ưu tiên trong hoạt động đối thoại chính sách giai đoạn 2011 – 2015

There are no translations available.

Chiều 30/11, tại Hà Nội, phiên họp Ban Điều hành Nhóm Hỗ trợ quốc tế về TN&MT ISGE diễn ra dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi Nguyên và Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà đã thu hút đông đảo các nhà tài trợ đến từ Đại Sứ quán Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp, Nhật Bản; các tổ Cida, Danida, Sida, Jica, WB, UNDP và đại diện các Bộ, ngành của Việt Nam. Đây là phiên họp Ban Điều hành cuối của giai đoạn hoạt động 2008 – 2010 nhóm ISGE, diễn ra trong bối cảnh Bộ TN&MT sắp kết thúc việc thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 của ngành để bước sang giai đoạn mới thực hiện Kế hoạch 5 năm tiếp theo 2011 – 2015.
Phát biểu khai mạc phiên họp, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên nhấn mạnh, bước sang kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, Bộ TN&MT xác định 5 ưu tiên trong hoạt động đối thoại chính sách ngành gồm: ứng phó với BĐKH và bảo vệ môi trường; quản lý tổng hợp biển và hải đảo; quản lý tổng hợp và bền vững tài nguyên nước; quy hoạch sử dụng đất và công tác quản lý đất đai; hướng tới nền kinh tế carbon thấp, tăng trưởng xanh và bền vững. Bộ trưởng kêu gọi, các nhà tài trợ thành viên ISGE thuộc 20 tổ chức quốc tế và 15 Bộ, ngành của Việt Nam sẽ thảo luận tích cực về cách thức, khả năng hỗ trợ cho hoạt động của ISGE giai đoạn 2011 – 2015.
Tham dự phiên họp, các thành viên ISGE đã thống nhất cao với bản dự thảo Khung hoạt động của ISGE giai đoạn mới 2011 – 2015 do Ban Thư ký ISGE trình bày. Theo đó, mục tiêu cụ thể của ISGE giai đoạn 2011 – 2015 là nâng cao số lượng và chất lượng các diễn đàn đối thoại chính sách ngành TN&MT cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; xây dựng và mở rộng mạng lưới đối thoại chính sách ngành TN&MT tới cấp địa phương nhằm chia sẻ, trao đổi và cung cấp các dịch vụ tư vấn về thông tin, kỹ thuật và các kỹ năng cần thiết cho các tổ chức và cá nhân quan tâm; xây dựng một hệ thống thông tin phản hồi linh hoạt để lấy ý kiến nhằm nâng cao chất lượng đối thoại chính sách ngành TN&MT.
tt11
Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên và Thứ trưởng Trần Hồng Hà chủ trì phiên họp. Ảnh: Đức Giang
Tuy nhiên, đại diện tổ chức Sida của Thụy Điển và Cida của Canada cho biết, thời gian tới các nhà tài trợ sẽ cân nhắc những phương thức hỗ trợ mới đối với hoạt động của ngành TN&MT cũng như hoạt động của ISGE. Đại diện tổ chức Cida nhấn mạnh, khi các nhà tài trợ song phương đưa ra những phương thức hỗ trợ mới khác nhau Bộ TN&MT cần đề ra được một phương thức chung để thu hút các nhà tài trợ.
Chủ trì thảo luận, Thứ trưởng Trần Hồng Hà cho rằng, ý kiến của các đại biểu có ý nghĩa lớn giúp hoàn thiện dự thảo khung hoạt động nhóm ISGE giai đoạn 2011 – 2015. Thay mặt lãnh đạo Bộ TN&MT, Thứ trưởng bày tỏ lời cám ơn chân thành tới các nhà tài trợ, đặc biệt là 3 nhà tài trợ chính là Cida, Danida và Sida đã hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của ISGE giai đoạn 2008 – 2010. Đồng thời, Thứ trưởng kêu gọi sự quan tâm, góp ý tham vấn và tiếp tục hỗ trợ của các nhà tài trợ cho hoạt động ISGE giai đoạn 2011 – 2015 nhằm thúc đẩy các hoạt động đối thoại chính sách hiệu quả và bền vững hơn.
(Theo BTNMT)