Mon11292021

Last update02:00:00 PM GMT

Hội thảo quốc tế về sông Mê Kông

There are no translations available.

Chiều 11/4, tại Thủ đô Phnom Penh, Vương quốc Campuchia, đã diễn ra Hội thảo quốc tế với chủ đề “Quản lý nguồn nước sông Mê Kông – Lợi ích quốc gia hay lợi ích khu vực?”.
Hội thảo do Viện Hợp tác và Hòa bình Campuchia tổ chức với sự góp mặt của nhiều học giả, nhà nghiên cứu của Campuchia và quốc tế, cùng sự tham gia của các nhà ngoại giao nước ngoài tại Campuchia.
Các đại biểu đều khẳng định tầm quan trọng đặc biệt về mặt kinh tế, sinh thái của dòng sông Mê Kông đối với các nước cùng chia sẻ những nguồn lợi to lớn từ dòng sông dài hơn 4.400km này, gồm Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Trên cơ sở đó, các đại biểu bày tỏ sự lo ngại về một số dự án thủy điện đang có kế hoạch triển khai tại khu vực hạ nguồn sông Mê Kông, mà chưa qua các giai đoạn đánh giá toàn diện và đầy đủ về những tác động tiêu cực từ các dự án này đối với môi trường sinh thái, nguồn nước phục vụ nông nghiệp, nguồn lợi thủy sản.
Các đại biểu nhấn mạnh, khi triển khai các dự án khai thác nguồn lợi sông Mê Kông, đặc biệt là các dự án thủy điện, mỗi quốc gia trong khu vực cần tuân thủ các nguyên tắc của Thỏa thuận sông Mê Kông năm 1995 là: “Bền vững, Tối ưu và Công bằng”.
Bà Maria Larsson, một chuyên gia nghiên cứu của Thụy Điển tham dự hội thảo khẳng định: “Tôi nghĩ điều quan trọng, nếu như không nói là bắt buộc, để tương đồng giữa lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực trong việc khai thác nguồn lợi từ sông Mê Kông là mỗi nước phải biết đặt lợi ích và sự ổn định của toàn khu vực lên trên hết, với tầm nhìn dài hạn. Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua sự hợp tác và hội nhập khu vực rộng rãi, đặc biệt là sự chia sẻ các kết quả cũng như số liệu nghiên cứu liên quan đến dòng sông giữa các nước, trên cơ sở minh bạch và đúng thủ tục”.
(VOV)

 

Hội thảo tham vấn cơ sở dữ liệu tài nguyên nước

There are no translations available.

Quang cảnh hội thảoNgày 5/4, tại Hà Nội, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã phối hợp với Cơ quan phát triển Bỉ (BTC) tổ chức Hội thảo tham vấn cơ sở dữ liệu tài nguyên nước phục vụ công tác tổng hợp tài nguyên nước. Đây là Hội thảo nằm trong khuôn khổ thực hiện dự án “Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý tài nguyên nước Việt Nam” do BTC hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện trên 7 tỉnh trong thời gian từ 2008-2012 với kinh phí 4 triệu Euro. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai đã đến dự và chủ trì hội thảo.

 

Tham dự hội thảo có ông Lê Hữu Thuần, phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Giám đốc dự án; Cố vấn trưởng dự án; đại diện các đơn vị có liên quan trong Bộ Tài nguyên và Môi trường và các chuyên gia trong nước, chuyên gia quốc tế đang giúpViệt Nam thực hiện dự án này.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai cho rằng, một trong những nội dung quan trọng của dự án là xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước. Vì vậy, thông qua hội thảo này đề nghị các đại biểu đóng góp ý kiến về cơ sở dữ liệu (CSDL), chia sẻ kinh nghiệm, thuận lợi và bất cập của giải pháp sử dụng cơ sở dữ liệu trung tâm hay phân tán, đồng thời, thống nhất các bước triển khai tiếp theo của hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước.

Cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin tài nguyên nước có nhiều ưu điểm vượt trội

Hội thảo đã nghe ông  Martin Junker, Cố vấn trưởng dự án trình bày các tham luận liên quan đến Cấu trúc, đặc điểm, phạm vi và các đặc trưng của CSDL tài nguyên nước; Trình diễn trực tuyến CSDL và hệ thống thông tin tài nguyên nước đề xuất; và các giải pháp máy chủ trung tâm và máy chủ phân tán;…

Các đặc điểm chính của Cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin tài nguyên nước đó là không cần bản quyền (được xây dựng với phần mềm mã nguồn mở); trên nền internet/máy chủ nội bộ (không cần cài đặt); Giao diện ngôn ngữ tiếng Việt; Kết hợp các bảng biểu và cấu trúc đồ họa/bản đồ; Có thể quản lý trên CSDL trung tâm; Người sử dụng không cần cập nhật (đối với hệ thống trung tâm); Thông tin thời gian thực/không trùng lắp dữ liệu (nếu là CSDL trung tâm).

Nên chọn giải pháp sử dụng CSDL tập trung để đảm bảo đồng bộ thông tin

Thảo luận tại Hội thảo, đại diện Cục Công nghệ thông tin cho rằng, CSDL tài nguyên nước có liên quan chặt chẽ đến CSDL tài nguyên & môi trường quốc gia. Vì vậy, các bản đồ về CSDL tài nguyên nước cần được sử dụng trên nền bản đồ theo các tỷ lệ bản đồ của Việt Nam. Việc sử dụng ảnh bản đồ Google Map mặc dù có ưu điểm là miễn phí và điểm độ chi tiết cao, tuy nhiên, nhược điểm của loại bản đồ này là chúng ta không biết được thông tin được cập nhật như thế nào cũng như các vùng sâu, vùng xa thì độ phân giải lại rất thấp so với các vùng trung tâm. Vì vậy, cần sử dụng ảnh viễn thám để khắc phục được những hạn chế của bản đồ Google Map. Đối với các Sở Tài nguyên và Môi trường có năng lực yếu về công nghệ thông tin thì có thể đặt máy chủ ở trung ương để có thể hỗ trợ thêm về mặt kỹ thuật nhưng quyền quản trị vẫn vẫn là ở địa phương. Cần Việt hóa toàn bộ ngôn ngữ cho người sử dụng.

Cùng quan điểm với Cục Công nghệ thông tin, đại diện Trung tâm Viễn thám cho rằng, nên chọn giải pháp sử dụng CSDL tập trung; cần quan tâm đến các vấn đề cập nhật ảnh dữ liệu và nên có đề án đào tạo cán bộ sử dụng và vận hành cả ở cấp trung ương và địa phương. Đại diện Nhà Xuất bản Bản đồ cũng cho rằng, không nên sử dụng bản đồ Google Map trong CSDL tài nguyên nước vì độ chính xác của loại bản đồ này không cao, nên chọn giải pháp sử dụng CSDL tập trung để đảm bảo đồng bộ thông tin với chi phí thấp. Đại điện Trung tâm Điều tra và Quy hoạch tài nguyên nước đề xuất, nên sử dụng cấu trúc CSDL tài nguyên nước chung cho tất cả các tỉnh, việc quản trị và cập nhật dữ liệu nên để các đơn vị làm ra dữ liệu cập nhật, điều đó có nghĩa là phân tán theo quyền quản trị nhưng lại tập trung theo yêu cầu quản lý tài nguyên nước.

Tiến độ xây dựng CSDL Cục Quản lý tài nguyên nước 2009 - Quý I/2011

Quý III-IV/2009

Quý I-II/2010

Quý III-IV/2010

Quý I-2011

Chuyên gia quốc tế về CSDL đến làm việc (9/2009)

- Khảo sát tình hình CSDL tại Bộ TN&MT

- Đề xuất CSDL và hệ thống thông tin TNN

- Xây dựng CSDL nước dưới đất thử nghiệm và số hóa dữ liệu của 7 tỉnh dự án

- Tổ chức các hội thảo tham vấn

- Tạo lập hệ thống CSDL trực tuyến sử dụng dữ liệu dự án (công cụ theo dõi đánh giá MET)

- Kiểm tra tất cả các phần mềm phát triển cần thiết

- Thiết lập các nhóm làm việc để tạo lập các CSDL chuyên đề của TNN (Khí tượng, thủy văn, nước dưới đất)

- Thiết lập các nhóm làm việc để xây dựng cấu trúc CSDL TNN tổng hợp (Cục QLTNN, TTQHĐTTNN, CAPAS)

- Tổ chức hội thảo tham vấn

 

- Căn cứ vào đề xuất tạo lập/lập trình WRDM (Chuyên gia quốc tế, với sự hỗ trợ của Cục QLTNN và TTQHĐTTNN)

- Mua và lắp đặt máy chủ trung tâm

- Xây dựng giao diện ngôn ngữ (dịch)

- Tổ chức hội thảo tham vấn

 

- Kiểm tra/củng cố CSDL

- Kiểm tra chức năng máy chủ trung tâm

- Xây dựng hệ thống thông tin tài nguyên nước đề xuất

- Chuẩn bị tổ chức hội thảo tham vấn (Bộ TN&MT)

 

Dự án "Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý tài nguyên nước Việt Nam" do Bộ TN&MT và Cơ quan Hợp tác kỹ thuật Bỉ (BTC) phối hợp thực hiện tại 7 tỉnh trong cả nước là: Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Bình Định, Phú Yên và Ninh Thuận. Dự án được thực hiện trong 4 năm, bắt đầu từ tháng 11/2008.

 

 

(Theo DWRM)

Hội thảo “Xây dựng công cụ hỗ trợ quy hoạch và ra quyết định trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam”

There are no translations available.

Quang cảnh hội thảoSáng nay 4/4, tại Hà Nội, Cục Quản lý tài nguyên nước đã phối hợp với Viện Kỹ thuật Môi trường và Sinh thái, Đại học Bochum (Đức) tổ chức Hội thảo “Xây dựng công cụ hỗ trợ quy hoạch và ra quyết định trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam”. Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Lê Hữu Thuần chủ trì Hội thảo.
Tham dự hội thảo có GS.TS Harro Stolpe - Giám đốc dự án, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Môi trường và Sinh thái, Đại học Bochum (Đức); các đại biểu đại diện các bộ, ngành có liên quan của Việt Nam và các chuyên gia Đức, Bỉ đang phối hợp với Việt Nam thực hiện dự án nghiên cứu “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước” tại Việt Nam.
Phát biểu tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Lê Hữu Thuần cho biết, ngày 3/11/2008, Cục Quản lý tài nguyên nước và Viện Kỹ thuật Môi trường và Sinh thái (EEE) đã ký thỏa thuận hợp tác dự án “Xây dựng công cụ hỗ trợ quy hoạch và ra quyết định trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam”. Mục tiêu của sự hợp tác nhằm chuyển giao phương pháp xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước phù hợp với nhu cầu thực tế, dựa vào hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam và được xây dựng trên nguồn dữ liệu của Cục Quản lý tài nguyên nước.
Theo GS.TS Harro Stolpe - Giám đốc dự án, đây là hội thảo kết thúc giai đoạn 1 sau gần 4 năm hợp tác và làm việc với cường độ cao của các chuyên gia Đức và Việt Nam (Cục Quản lý tài nguyên nước, các viện khoa học, các cơ quan tỉnh ở cấp độ lưu vực sông). Quản lý tổng hợp tài nguyên nước Việt Nam có thể được tăng cường bởi quá trình ra quyết định và quy hoạch hợp lý. Tuy nhiên, việc tiếp cận phương pháp quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông đặt ra những thách thức không nhỏ, cần có thời gian và sự hỗ trợ về tài chính cũng như các nghiên cứu để đạt được mục tiêu đề ra.
Sự hợp tác và trao đổi của các chuyên gia Đức đã giúp các cán bộ của Cục Quản lý tài nguyên nước tiếp cận và phát triển phương pháp mới về việc xây dựng công cụ hỗ trợ và ra quyết định trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại Việt Nam, bao gồm các nội dung như: Phương pháp phân chia đơn vị quản lý tài nguyên nước; phương pháp tính toán cân bằng nước; phương pháp tính toán rủi ro ô nhiễm tài nguyên nước, xây dựng bản đồ ô nhiễm; ứng dụng Arcgis trong tính toán, quản lý dữ liệu bản đồ; và phương pháp xác định thứ tự ưu tiên về tài nguyên nước.
Ngoài việc trình bày và thảo luận các kết quả hợp tác đã đạt được giữa dự án và Cục Quản lý tài nguyên nước, Hội thảo cũng nghe các báo cáo viên trình bày các tham luận về các vấn đề như: Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về Quản lý lưu vực sông; Tình hình thực hiện quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường sông Đồng Nai; Mạng lưới quan trắc tài nguyên nước; Xây dựng năng lực cho đánh giá và quản lý tài nguyên nước… và Triển vọng về quản lý tổng hợp tài nguyên nước Việt Nam - dự kiến giai đoạn 2 của Dự án “Xây dựng công cụ hỗ trợ quy hoạch và ra quyết định trong quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam”.
(Theo Monre.gov.vn)
 

Các nhà tài trợ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam hoàn thành mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường

There are no translations available.

Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã hoàn thành giai đoạn 2 và đang tiếp tục triển khai giai đoạn 3 (2011-2015). Trong giai đoạn 3 này, các nhà tài trợ cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam để hoàn thành các mục tiêu đề ra.       
 Báo cáo của các nhà tài trợ AusAID (Australia), Danida (Đan Mạch) và DFID (Anh) cho thấy, sau 10 năm hỗ trợ Việt Nam thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc tiếp cận với nước an toàn ở khu vực nông thôn, các công trình xây dựng hoạt động và duy trì tốt, một số ngành hoạt động hiệu quả và có sự cải thiện rõ rệt. Chương trình đã bao phủ được 83% dân số được tiếp cận với nước sạch, hợp vệ sinh. Tuy nhiên mục tiêu vệ sinh môi trường mới chỉ đạt chưa đến 60% dân số nông thôn được tiếp cận với nhà tiêu. Con số này còn thấp so với yêu cầu…    
 Trong giai đoạn 3, chương trình phấn đấu đạt   các mục tiêu như: 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 60% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn QCVN 02-BYT trở lên, với số lượng ít nhất là 60 lít/người/ngày; 75% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 65% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh, trong đó 30% chuồng trại được xử lý bằng hầm Biogas. Các trường học mầm non, phổ thông, trạm y tế xã, chợ, trụ sở xã ở nông thôn có đủ nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh và được quản lý, sử dụng tốt...       
 Đại diện các nhà tài trợ khẳng định: Mục tiêu vệ sinh môi trường thời gian tới đã chứng minh là sẽ khó khăn hơn và nếu không có nỗ lực đặc biệt thì sẽ không thể đạt mục tiêu đề ra. Vì vậy, để hoàn thành tốt mục tiêu đề ra trong chương trình giai đoạn 3 này, các nhà tài trợ sẽ hỗ trợ Việt Nam tập trung vào vệ sinh và tính bền vững về môi trường bằng cách củng cố công tác lập kế hoạch, chiến lược tài chính để xây dựng khung chỉ tiêu trung hạn, khuyến khích mở rộng và hiệu quả chương trình cho vay thông qua ngân hàng chính sách xã hội, hỗ trợ quản lý chất lượng nước và nghiên cứu môi trường, thực hiện đối thoại thường xuyên để góp phần đảm bảo tính bền vững…       
 Theo đánh giá của các nhà tài trợ, nguồn vốn hỗ trợ cần phải dành riêng một khoản ở mức phù hợp cho hoạt động giám sát và quản lý để chương trình đạt mục tiêu và vận hành một cách hiệu quả. 
(Theo Monre.gov.vn)
 
  

Hội thảo truyền thông và giáo dục môi trường 2011

There are no translations available.

Toàn cảnh hội thảoNgày 30/3/2011, TP.Hà Nội phối hợp với tỉnh Fukuoka (Nhật Bản) tổ chức Hội thảo Truyền thông và Giáo dục môi trường 2011 tại khách sạn Melia - Hà Nội. Đông đảo đại diện các Bộ, Sở, ban, ngành liên quan, các tổ chức môi trường trong nước và quốc tế, các tổ chức chính trị - xã hội của TP. Hà Nội, đại diện một số viên nghiên cứu về môi trường cũng nhiều trường đại học ở Hà Nội đã tham dự.
Hội thảo nhằm giới thiệu mô hình, kinh nghiệm về giáo dục môi trường, những điển hình làm tốt công tác bảo vệ môi trường của tỉnh Fukuoka (Nhật Bản). Đồng thời, cũng nêu lên thực trạng của Thủ đô Hà Nội trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Thông qua hội thảo các đại biểu được hiểu thêm kinh nghiệm bảo vệ môi trường của Nhật Bản như: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân, đồng thời tìm ra những giải pháp thiết thực để bảo vệ môi trường Hà Nội xanh - sạch - đẹp, bền vững.
Hội thảo này nằm trong chương trình hợp tác giữa TP. Hà Nội và tỉnh Fukuoka.
(Theo Monre.gov.vn)

Nhiều tổ chức quốc tế kêu gọi hoãn công trình thủy điện Sayabury

There are no translations available.

tt536Hơn 260 tổ chức phi Chính phủ cùng với các chuyên gia môi trường từ 51 quốc gia trên thế giới kêu gọi Chính phủ Lào trì hoãn hoặc hủy bỏ dự án xây dựng công trình thủy điện Sayabury trên sông Mekong, vì họ cho rằng, công trình thủy điện này có tác động tới môi trường, tài nguyên nước, hệ sinh thái và sinh kế của cộng đồng dân cư liên quan.

Giám đốc Hiệp hội bảo vệ Môi trường và Văn hóa (CEPA) Tep Bunrith cho biết, mới đây các chuyên gia về môi trường quốc tế đã đến nghiên cứu tác động của dự án đập thủy điện này, sau một năm nghiên cứu các chuyên gia đã phản đối kế hoạch này vì nó sẽ tác động đến môi trường, biến đổi khí hậu, lĩnh vực nông nghiệp, hệ sinh thái, đặc biệt tác động khá mạnh đến dân cư sống phụ thuộc vào dòng sông Mekong. Các chuyên gia môi trường nhận định rằng, mặc dù họ đến nghiên cứu dự án này một năm, tuy nhiên họ vẫn chưa xác định hết các tác động từ công trình thủy điện Sayabury, vì vậy họ đề nghị Ủy ban sông Mekong (MRC) ít nhất phải tham vấn trong thời gian 10 năm nữa. Ông Tep Bunrith nói: "Điểm quan ngại là vấn đề tác động của nó đến nguồn tài nguyên nước, cá, môi trường và nhiều hệ sinh thái mà chúng tôi đòi hỏi phải có thời gian tham vấn nhiều hơn. Chúng tôi cũng đề nghị MRC tham vấn kỹ hơn. Phải xác định, lợi ích từ đập thủy điện này nó phù hợp với sự thiệt thòi hay làm ảnh hưởng đến dân cư trên dòng chính Mekong nhiều hơn".

Trưởng Ban chấp hành Diễn đàn Tổ chức phi Chính phủ (NGO Forum) Chhit Sam Art cho biết, trong số quốc gia thuộc MRC, Lào là nước có lợi nhất từ đập thủy điện Sayabury, trong khi lượng thủy sản của các nước liên quan sẽ giảm mạnh và làm thay đổi chế độ dòng chảy sâu sắc. Ông nói rằng, các nước cần phát triển nhưng không phải phát triển để hy sinh môi trường. Ông Chhit Sam Art hy vọng rằng, MRC sẽ suy nghĩ những báo cáo mà nhóm chuyên gia cũng như các tổ chức phi Chính phủ báo cáo.

Giám đốc Hiệp hội bảo vệ Môi trường và Văn hóa (CEPA) Tep Bunrith cũng cho biết, hiện nay Campuchia đang nghiên cứu hai công trình thủy điện, Thái Lan lên dự án hai công trình và Lào có 8 dự án. Trong đó dự án đập thủy điện Sayabury đang tham vấn được coi là gây tác động nhiều nhất. Trong trường hợp này, nếu Lào có thể xây dựng đập Sayabury, thì đương nhiên các dự án tiếp theo cũng sẽ có thể xây dựng. Việc này, không chỉ người dân Campuchia là người lo ngại, mà Việt Nam là nước nằm phía dưới sông Mekong cũng bày tỏ quan ngại".

 

 

 
 

(Theo Monre.gov.vn)


 

 

 

Hội thảo kinh doanh Những ngày Nước Việt Nam – Đan Mạch 2011

There are no translations available.

Quang cảnh Hội thảoTừ 28/3 – 1/4, phái đoàn gồm 11 Công ty Đan Mạch đã tới Việt Nam để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và gặp gỡ đối tác tiềm năng trong ngành nước đô thị và xử lý nước thải tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Sáng 29/3, tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo kinh doanh Những ngày Nước Việt Nam – Đan Mạch 2011. Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai đã tới dự. Tham dự Hội thảo còn có đại diện các cơ quan chức năng, viện nghiên cứu, nhà tài trợ, tổ chức tài chính có liên quan và đông đảo các doanh nghiệp Đan Mạch và Việt Nam trong ngành nước.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai cho biết, Việt Nam hiện có khoảng 755 đô thị từ loại V trở lên, với dân số đô thị khoảng trên 30 triệu người. Tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch trung bình hiện mới đạt khoảng 70% với mức sử dụng nước sạch bình quân 100 lít/người/ngày, có nghĩa là vẫn còn khoảng 30% dân số đô thị chưa được tiếp cận với dịch vụ cung cấp nước sạch. Tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch ở các đô thị hiện vẫn rất cao (khoảng 30 – 40%). Ở nhiều nơi, nước thải không được xử lý đúng cách gây ô nhiễm các sông, hệ thống cấp nước và môi trường.
Dự báo đến năm 2015 dân số đô thị sẽ đạt mức 35 triệu người, năm 2025 là 52 triệu người. Do vậy, mục tiêu đến năm 2020, 100% dân số đô thị được sử dụng nước sạch là một thách thức lớn.
Thứ trưởng Nguyễn Thái lai đã nêu lên những thách thức đặt ra đối với ngành nước Việt Nam. Đó là, cả nước hiện có khoảng 240 nhà máy nước cấp cho các đô thị với công suất thiết kế 5,4 triệu m3/ngày đêm nhưng công suất khai thác thực tế mới đạt khoảng 4,5 triệu m3/ngày đêm. Bên cạnh đó, hệ thống thoát nước hiện có ở các đô thị lớn hầu hết là chung cho cả nước mưa và nước thải, được xây dựng chắp vá trong nhiều năm, thiếu các hệ thống xử lý nước thải tập trung và hầu hết các đô thị loại 3 hoặc 4 chưa có hệ thống thoát nước và trạm xử lý nước thải.
Luật Môi trường của Đan Mạch có nhiều quy định nghiêm ngặt tạo điều kiện cho sự phát triển ngành công nghiệp nước hiệu quả và một môi trường trong sạch hơn. Lượng tiêu thụ nước sinh hoạt đã giảm 35% trong hơn hai thập kỷ qua và tỷ lệ nước bị thất thoát trong hệ thống của Đan Mạch chỉ ở khoảng 6 – 7%, gần bằng mức thấp kỷ lục thế giới. Để đạt được những kết quả này, các công ty Đan Mạch đã phát triển nhiều dịch vụ và sản phẩm mang tính đổi mới cho ngành nước và hiện nay được rất nhiều người biết đến là thân thiện với khí hậu và hiệu quả về sử dụng năng lượng với chi phí vận hành thấp và mức tự động hóa cao.
Tại hội thảo, các công ty Đan Mạch đã chia sẻ những kinh nghiệm đóng góp cho sự phát triển bền vững hơn của ngành nước Việt Nam.
Sau hội thảo này, một hội thảo tương tự sẽ diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 31/3 và 1/4.
 
 
(Theo Monre.gov.vn)

WB tiếp tục ưu tiên hỗ trợ chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trong 10 năm tới

There are no translations available.

Đó là khẳng định của ông Dean Cira – Điều phối viên Chương trình Cấp nước, Vệ sinh Đô thị và Nông thôn, Ngân hàng thế giới (WB) tại cuộc hội thảo chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS&VSMTN) đến năm 2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 23/3 tại Hà Nội.      
Ông Dean Cira nhấn mạnh: Chiến lược quốc gia NS&VSMTNT đến năm 2020 của Việt Nam rất quan trọng, WB đã hỗ trợ Việt Nam trong 10 năm qua và WB tin tưởng rằng đây là một trong những lĩnh vực tiếp tục nhận được sự ưu tiên của WB trong 10 năm tới để người dân nông thôn được sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh. Trong 10 năm tới, WB chú trọng hỗ trợ Việt  Nam về chất lượng nước sạch cũng như chất lượng hệ thống cấp nước.       
Cũng tại hội thảo, ông Vũ Văn Thặng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, Bộ NN&;PTNT chia sẻ: Từ khi Chiến lược được phê duyệt đến nay đã 10 năm, trong 10 năm qua những định hướng, chiến lược đã được Chính phủ cụ thể hóa trong chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đưa tỷ lệ người dân nông nông được sử dụng nước hợp vệ sinh từ chưa đến 30% lên 83% vào năm 2010 và tỉ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 56% đã khẳng định tầm quan trọng của Chiến lược, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả nước.                      
Theo đó, Chiến lược quốc gia NS&VSMTNT đến năm 2020 được cập nhật theo hướng phản ánh được những thay đổi quan trọng của đất nước và của ngành trong giai đoạn mới, cập nhật những cách tiếp cận mới để đảm bảo đẩy nhanh tốc độ bao phủ về cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, ưu tiên cho các nhóm nghèo, chú trọng gia tăng yếu tố phát triển môi trường bền vững, phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2020.       
Theo kế hoạch, giai đoạn 2011-2015, chương trình sẽ đảm bảo 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 70% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế, 85% số hộ ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh, 85% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh, các nhà trẻ, trường học, công trình công cộng đủ nước sạch, 60% làng xã được thu gom rác thải sinh hoạt…  
(Theo Monre.gov.vn)