Tue08142018

Last update06:57:12 AM GMT

Tin tức sự kiện

TP.HCM: Cần xem lại quy trình xử lý nước

 

Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) vừa báo cáo với UBND TP.HCM chiều ngày 7/9 về tình trạng nước đục cục bộ trên mạng lưới cấp nước của thành phố. Nguyên nhân là do Sawaco vừa điều tiết nguồn nước Nhà máy Nước Tân Hiệp trở lại cho các khu vực khác sau khi nhà máy nước BOO Thủ Đức bắt đầu cung cấp nước, nhằm điều hòa áp lực trên toàn mạng lưới cấp nước thành phố.

Quá trình này đã làm thay đổi áp lực và xáo trộn thủy lực trong mạng, gây bong tróc các cặn bám, dẫn đến tình trạng nước đục tại các khu vực: phường 16, quận 8, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân (công ty cổ phần Cấp nước Chợ Lớn); phường 15, quận 10, phường 3, quận 11, phường Phú Trung, quận Tân Phú (công ty cổ phần Cấp nước Phú Hòa Tân); phường 4, quận Tân Bình (chi nhánh Cấp nước Tân Hòa;) khu vực phường 8, 9, 10, 12, 13, 14, quận Gò Vấp, phường An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thới An, Trung Mỹ Tây, quận 12 (xí nghiệp Cấp nước Trung An); phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức (công ty cổ phần Cấp nước Thủ Đức).

Cũng theo Sawaco, do khả năng tiêu thụ thực tế chưa đạt yêu cầu thiết kế ở một số tuyến ống cấp hai đã được đầu tư trước, khiến tốc độ và thời gian lưu chuyển nước trong ống chậm, tạo phản ứng làm nước có màu (dù vẫn đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế). Đồng thời, việc đầu tư, nghiên cứu xây dựng các điểm xả mới còn chậm, chưa đủ do vướng mặt bằng thi công, không có hệ thống thoát nước…, mà chỉ tận dụng các công trình hiện hữu nên quá trình súc xả định kì chưa cao; nhiều tuyến ống cũ mục còn chưa được cải tạo kịp thời… Để khắc phục, trước mắt Sawaco đã tiến hành súc xả giữa các đơn vị theo tuần tự từ các tuyến ống cấp 1, 2 rồi đến mạng phân phối. Sawaco cũng cho biết sẽ tăng cường công tác bảo trì, bảo dưỡng hệ thống cấp nước để giảm thiểu khả năng xảy ra nước đục; phân chia vùng phục vụ hợp lý hơn từ các nhà máy cấp nước để giảm thời gian lưu nước trên mạng lưới...

Biện pháp chữa cháy

Lý giải nguyên nhân tại sao nước máy thành phố thường bị đục nhiều năm qua, ông Lê Quốc Hùng, kĩ sư cơ khí và chuyên ngành về xử lý nước, Giám đốc Công ty OBM, cho rằng: một trong những nguyên nhân dễ thấy nhất là hệ thống đường ống nước hiện nay không có van một chiều, khiến nước dơ, thậm chí nước bị đầu độc vô tình hay cố ý, có thể đi ngược vào trong hệ thống mạng. Không khắc phục điều này sẽ rất nguy hiểm, thậm chí đến an ninh nguồn nước.

Theo ông Hùng, nguyên nhân thứ nhất là do công nghệ xử lý nước hiện nay của ta đã quá cũ, từ những thập niên 1930. Ngày đó chưa nảy sinh những chất như bây giờ nên việc sử dụng theo quy trình cũ này là không hợp lý. Quy trình này hoàn toàn đi ngược lại với công nghệ của thế giới. Ông Hùng ví dụ, hiện nay thế giới xử lý theo quy trình oxy hóa bằng ozon, keo tụ rồi mới châm clor, khi đó hàm lượng clor được châm thấp, không cao như của ta hiện nay, nên chất lượng nước tốt hơn; đồng thời những chất độc trong nước như dioxin (ở Việt Nam do hai nguyên nhân: do Mỹ rải và do tự sản sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp)… cũng đã được diệt triệt để.

Nguyên nhân thứ hai là quy trình của một số nhà máy nước hiện nay không được thiết kế để xử lý mangan trong nước. Nhiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh vì xử lý không đạt nên nước mới vàng. Quy trình lạc hậu thì không thể xử lý đúng tiêu chuẩn. Thực tế nhiều người dân đang sử dụng nước máy đã phải quay lại sử dụng nước giếng. Mặt khác, tiêu chuẩn mangan của Việt Nam hiện nay quá cao (0,3mg/l - trong khi tiêu chuẩn của châu Âu là 0,05mg/l). Điều này khiến nếu có mangan trong nước thì người dân cũng không có cơ sở để kiện công ty nước.

Và nguyên nhân thứ ba là hệ thống đường ống nước hiện nay còn đơn giản, không có van một chiều. Điều này khiến nước dơ (ví dụ từ nước giếng…), thậm chí nước bị đầu độc dù vô tình hay vô ý, có thể đi ngược vào trong hệ thống mạng, rất nguy hiểm.

Việc Sawaco đang áp dụng một số biện pháp để đảm bảo chất lượng nước như trang bị thêm thiết bị châm hóa chất để xử lý các chất ô nhiễm (hệ thống châm clor), hay nghiên cứu một số hóa chất, công nghệ mới áp dụng cho quá trình xử lý như sử dụng PAC than cho phèn truyền thống, nghiên cứu sử dụng các vật liệu mới để khử mangan thay cho clor…, ông Hùng cho rằng chỉ là biện pháp "chữa cháy". Nó không phải là chuẩn mà các nước trên thế giới đang hướng đến. Quy trình xử lý mangan hiện nay của ta rất cũ, cần tiếp cận với quy trình của thế giới, chứ cũng không thể sáng tạo được. Trong thời gian ngắn nhất, ngành cấp nước phải thay đổi đường ống không có van nước một chiều. Đây là cái rẻ nhất và dễ làm nhất.

(Theo Lê Quỳnh - Monre)

Hai học sinh VN dự Tuần lễ Nước thế giới

Đỗ Ngọc Linh và Ma Thị Thúy Trà, học sinh lớp 12 chuyên sinh Trường THPT chuyên Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), sẽ đại diện VN tham dự cuộc thi ý tưởng bảo vệ nguồn nước quốc tế dành cho học sinh trên thế giới và tuần lễ Nước quốc tế được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) từ ngày 4 đến 9/9.

Hai bạn mang đến cuộc thi đề tài “Xây dựng truyện khoa học vui nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường nước trong cộng đồng”. Cuộc thi với sự tham gia của rất nhiều đoàn học sinh trên thế giới, với mục đích khuyến khích học sinh nghiên cứu khoa học, nâng cao ý thức và bảo vệ nguồn nước.

Trước đó Ngọc Linh và Thúy Trà đã đoạt giải Nhất cuộc thi “Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước” do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục - đào tạo, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN cùng Đại sứ quán Thụy Điển tại VN phối hợp tổ chức.

(Theo P.T – T.T - Monre)

Điều tiết nước sông Hồng mùa cạn?

Sông Hồng không còn là sông chảy tự nhiên?

Thuyết minh về dự án, ông Trần Đình Đại cho biết, trước nghiên cứu này, có không ít các chương trình, đề tài nghiên cứu, dự án đề cập đến việc chỉnh trị sông Hồng. Tuy nhiên hầu hết đều tập trung nghiên cứu chỉnh trị sông Hồng ở khía cạnh chống, thoát lũ, an toàn trong mùa lũ và phát triển quỹ đất 2 bên bờ sông đoạn qua Hà Nội mà ít đề cập đến vấn đề cấp thiết khác là nghiên cứu dòng chảy kiệt, khai thác nguồn nước sông Hồng vào mùa kiệt.

Ông Đại đưa ra một nhận định: Sông Hồng (được tạo ra từ 3 con sông chính là sông Đà, sông Thao, sông Lô) không còn là con sông chảy tự nhiên nữa mà là sông do con người điều tiết. Lý do là dù có lưu vực rất rộng, nhưng ở thượng nguồn (cả bên Trung Quốc lẫn Việt Nam) sông Hồng có đến 21 công trình đập chứa nước lớn. Các đập này khai thác tối đa nguồn nước nhằm phục vụ các mục đích khác nhau đã ảnh hưởng lớn đến lưu lượng nước sông Hồng. Hơn thế, sau khi có các hồ chứa, lượng phù sa sông Hồng giảm đi rõ rệt, hiện tượng xói nước trong đã làm lòng sông bị xói sâu, mực nước càng xuống thấp. Từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010, sông Hồng đã trải qua mùa kiệt chưa từng có. Có đoạn, có lúc, mực nước chỉ còn 1m…

Những hệ luỵ

Tình trạng sông Hồng ngày càng cạn kiệt đã ảnh hướng lớn đến nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu dùng nước cho nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, bảo vệ môi trường sinh thái. Những năm gần đây, một diện tích lớn đất trồng trọt của đồng bằng sông Hồng bị thiếu nước canh tác. Riêng năm qua, ước tính có khoảng 80.000 ha bị thiếu nước.

Một hệ lụy khác, sông Hồng cung cấp một phần nước mặt cho các nhà máy nước và bổ trợ nguồn nước ngầm cho khu vực. Tuy nhiên, những năm gần đây, do sông Hồng cạn kiệt và việc khai thác tràn lan, mực nước ngầm của Hà Nội đã tụt xuống sâu hơn 1m. Nếu không có nguồn nước mặt sông Đà bổ sung, Hà Nội chắc chắn thiếu nước sinh hoạt.

Ở khía cạnh giao thông thủy, sông Hồng vốn là một trong những tuyến thủy nội địa quan trọng của miền Bắc với mật độ tàu bè vào mùa nước lớn khoảng 500 lượt/ngày. Tuy nhiên, như đã đề cập, đầu năm nay, khi sông Hồng cạn trơ đáy, chỉ còn một lạch nhỏ với độ sâu 1m khiến cho giao thông thủy hoàn toàn bị tê liệt.

Ngoài ra, việc sông Hồng cạn kiệt còn ảnh hưởng tới khả năng khai thác của các nhà máy thủy điện. Đầu năm nay, Bộ NN&PTNN 3 lần yêu cầu hồ Hòa Bình xả nước, mỗi lần lưu lượng đều trên 1.000m3/s để chống khô hạn, bảo đảm tưới tiêu. Điều mà trước đấy chưa từng có. Và do không có nguồn cấp nước để có dòng chảy thường xuyên, hầu hết các dòng sông, hồ ao của Hà Nội đều bị ô nhiễm nặng…

Xây đập điều tiết nước sông Hồng

Khắc phục tình trạng sông Hồng cạn kiệt vào mùa khô và những hệ lụy nói trên, nhóm nghiên cứu “Dự án công trình điều tiết sông Hồng phục vụ quy hoạch tổng thể vùng Hà Nội” đã đề xuất xây dựng đập dâng nước trên sông Hồng, tạo ra một hồ chứa (tạm gọi là hồ Hà Nội) trên lòng sông đoạn từ phà Khuyến Lương lên đến thượng lưu cầu Thăng Long, mực nước dự kiến ở cao độ +3,5 m. Với mực nước này, “hồ Hà Nội” luôn bảo đảm nước chảy vào hệ thống thủy nông quan trọng của đồng bằng sông Hồng, đủ nước vận hành các trạm bơm tưới tiêu trong khu vực trong mùa khô cũng như bảo đảm duy trì dòng chảy, cải tạo môi trường cho hệ thống sông, hồ, ao nội đô. Về mùa lũ, cửa van điều tiết của đập được hạ xuống đến sát cao trình đáy sông bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ…

Cùng với dập dâng nước, một âu tàu được bố trí với 2 luồng tàu bè ngược xuôi giúp cho giao thông thủy trên sông Hồng vào mùa cạn thuận lợi hơn, một công trình nối tiếp hai bên bờ (có thể là cầu giao thông) sẽ được thiết kế sao cho vừa bảo đảm mục tiêu thoát lũ, an toàn, vừa bảo đảm cảnh quan đô thị… Nhóm nghiên cứu đồng thời đề xuất một số vị trí bố trí tuyến công trình và các giải pháp công nghệ mới có thể áp dụng hiệu quả trong xây dựng.

“Dự án công trình điều tiết sông Hồng phục vụ quy hoạch tổng thể vùng Hà Nội” được đại diện Bộ Xây dựng, Bộ NN&PTNN, Viện Quy hoạch Thủy lợi Việt Nam và các hiệp hội nghề nghiệp… hoan nghênh về mặt ý tưởng cũng như ủng hộ nhóm tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các nội dung liên quan như điều tiết nguồn nước, chống lũ, chống hạn, các vấn đề về giao thông, nuôi thủy sản, môi trường hay những chi tiết cụ thể hơn về cao độ, vị trí tuyến công trình… Tuy nhiên, “dự án” cần phải được xem xét, phối hợp, nghiên cứu trong mối liên hệ với dự án “Quy hoạch phát triển cơ bản khu vực sông Hồng đoạn qua Hà Nội” do chuyên gia Hàn Quốc và Việt Nam thực hiện.

(Theo Hoà Bình- Monre)

Đập thủy điện Mêkông và nỗi lo tác động kép

 

Chưa hết âu lo về biến đổi khí hậu, ĐBSCL lại thấp thỏm về hệ quả của 12 dự án thủy điện đang được khởi động trên dòng chính sông Mêkông, nơi cung cấp hơn 60% tổng lượng nước cho vùng đất màu mỡ này. Như vậy khu vực này sẽ cùng lúc gánh chịu hai tác động mà hậu quả chưa thể lường hết được.

Nỗi lo sinh kế

Tác động kép bắt đầu từ biến đổi khí hậu với nước biển dâng nhấn chìm nhiều vùng đất, nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, mùa lũ nước dâng cao hơn, mùa khô nước suy kiệt hơn. Nay lại thêm tác động từ các đập thủy điện có thể làm giảm mạnh lượng phù sa, thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến nguồn thủy sinh, khi đó người dân sẽ mất đi sinh kế bao đời nay của mình.

Những cảnh báo đó cũng phù hợp với báo cáo nghiên cứu mới đây của WWF kết luận rằng những con đập trên sông Mêkông đe dọa sự sinh tồn của các loài cá nước ngọt cỡ lớn quý hiếm, và tổ chức này xác nhận ủng hộ việc hoãn phê chuẩn các dự án xây đập ở dòng chính sông Mêkông.

Chẳng hạn, loài cá đuối khổng lồ có chiều dài bằng phân nửa chiếc xe buýt và nặng đến 600 ki lô gam, là loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, hay cá ba sa cực lớn của sông Mêkông, có chiều dài khoảng 3 mét và nặng 350 ki lô gam rồi sẽ bị các con đập ngăn đường đi đến nơi đẻ trứng, khóa lối di cư và sinh sản. Cũng theo báo cáo này, lần cuối người dân bắt được loài cá ba sa này, vốn đã suy giảm đến 95% số lượng trong thế kỷ qua, là vào tháng 5-2009 ở gần vùng sông thuộc tỉnh Chiang Khong, Thái Lan.

Tuy nhiên, nếu hỏi giới chuyên gia rằng người dân ĐBSCL sẽ phải chịu ảnh hưởng từ các đập thủy điện cụ thể là bao nhiêu và như thế nào, thì họ đành chào thua, hoặc né tránh, hoặc trả lời chung chung một cách đầy cảm tính, chứ không đưa ra được một con số khả dĩ. Bởi lẽ chưa hề có nghiên cứu nào được tiến hành và cũng chưa có cơ quan nào được giao đánh giá và lượng hóa các tác động này.

Trong khi đó, hiệu quả kinh tế của từng dự án, theo các chuyên gia, được đo bằng doanh số hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm cho nước này, nhưng lại có thể gây thiệt hại hàng tỉ đô la Mỹ do tiêu diệt nguồn lợi thủy sản, người dân mất việc làm cùng các hoạt động kinh tế dựa trên dòng sông này của các quốc gia khác.

Như ĐBSCL có đến 11 triệu dân, chỉ riêng trồng lúa đã cung cấp lương thực cho cả một khu vực rộng lớn, nuôi sống khoảng 100 triệu người, chủ yếu là người nghèo. Và người nghèo ở đây đang đối diện với nguy cơ sẽ phải trở thành kẻ đói. Vấn đề còn là ở chỗ, người dân không chỉ đói ăn, mất lúa, mà còn là không biết làm gì để sinh sống.

Nói như vậy để thấy hiệu quả kinh tế từ các dự án này là quá nhỏ so với thiệt hại.

Những lợi ích nhỏ không đủ khỏa lấp những nỗi lo âu về “nhất thủy nhì hỏa” khi mà sự thay đổi của dòng chảy sẽ dẫn đến những hậu quả sau 10-15 năm cho cả quốc gia và khu vực. Khi nguồn nước không được kiểm soát, sẽ không biết lấy gì cho người dân sinh sống, dẫn đến hậu quả xã hội rất lớn.

An ninh lương thực hay an ninh năng lượng?

Phải mất hàng chục năm nữa, các con đập này mới được hoàn thành và sinh lợi, nhưng trong thời gian đó, sinh kế của hàng triệu người sống dọc bờ sông đã bị ảnh hưởng, vẫn chưa có cách giải quyết. Bài toán được - mất đang được các chuyên gia và giới hoạch định chính sách của bốn nước trong Ủy hội sông Mêkông (MRC) cân nhắc.

Năm 1995, các quốc gia trong MRC đã ký kết với nhau hiệp định Mêkông, trong đó bốn quốc gia cam kết thảo luận các dự án xây dựng đập trước khi đưa ra quyết định. Đến nay, các dự án vẫn chưa được khởi công, phần lớn vẫn dừng lại ở các bản ghi nhớ, một số đã lập khảo sát, báo cáo khả thi và đánh giá tác động môi trường.

Tuy nhiên, với nhu cầu năng lượng tăng nóng hiện nay, thủy điện vẫn đang hấp dẫn giới đầu tư và các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia trong vùng. Vì vậy, không ngoại trừ trường hợp, vì cơn khát năng lượng và phát triển kinh tế, những quốc gia như Lào vẫn có thể rút ra khỏi ủy hội, để tiến hành xây dựng các con đập này.

Cũng chính vì thế, mà trong lúc lên tiếng về các đập thủy điện, Việt Nam cũng đứng tên hai trong số 12 dự án này. Điều này, theo các chuyên gia, cũng là một trong những cách để Việt Nam tham gia vào việc kiểm soát nguồn nước và bảo đảm an ninh năng lượng.

Việc tham gia vào các dự án xây thủy điện, cũng có nghĩa là phải chấp nhận các dự án này, cũng như các hệ quả có thể xảy ra. Nhưng nếu Việt Nam không tham gia, các chuyên gia lo ngại, các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, sẽ nhảy vào thay thế. Khi đó, từ an ninh lương thực, an ninh năng lượng hay an ninh nguồn nước của khu vực sẽ là ngoài tầm với.

Theo một nguồn tin, Ngân hàng Thế giới cho rằng họ sẽ không ủng hộ việc xây dựng các con đập. Thế nhưng điều đó không hề làm nản lòng các chủ đầu tư là các công ty của các quốc gia. Vì thế, giải quyết vấn đề này đòi hỏi các quốc gia có sự hợp tác và thông hiểu tập quán quốc tế, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế và giảm thiểu hệ quả môi trường, đồng thời ngăn ngừa ý định các công ty nhảy vào các dự án như vậy.

Một chuyên gia ở ĐBSCL cho rằng với việc xây dựng các con đập thủy điện trên dòng chính thì người dân quê ông không được hưởng bất kỳ lợi ích gì ngoài việc phải gánh những hệ quả nặng nề. Ông cho rằng an ninh năng lượng có thể tìm nguồn khác, nhưng an ninh lương thực và nguồn nước là không thể thay thế, vì sinh kế và môi trường của người dân nơi đây sẽ bị đe dọa.

Dẫu biết khó có thể thay đổi quyết tâm của các quốc gia láng giềng, nhưng điều cần làm là phải gióng lên những hồi chuông bày tỏ quan ngại và cần phải có các công trình nghiên cứu, các cuộc khảo sát để đưa ra các phương án thích nghi hay giảm thiểu những hệ quả của tác động kép.

Trao đổi với TBKTSG, Tiến sĩ Lê Đức Trung, Chánh Văn phòng Ủy ban sông Mêkông Việt Nam, thừa nhận ĐBSCL ở cuối nguồn phải chịu tất cả mọi tác động lũy tích. “Trong mùa kiệt năm nay, với đợt hạn lịch sử khiến dòng chảy ở thượng nguồn về ít, cùng với xâm nhập mặn tiến sâu vào đất liền, hiện nay chúng tôi đang cố gắng có được thông tin về những hoạt động phát triển ở thượng nguồn, cả của hoạt động con người lẫn thời tiết, thông qua hệ thống giám sát, hệ thống chia sẻ thông tin, số liệu giữa các quốc gia,” ông Trung nói.

Cũng theo ông Trung, các hoạt động của Ủy hội về chia sẻ thông tin dữ liệu vẫn chưa được thỏa đáng, vì thế những thông tin về tình hình sử dụng nước, tác động của các công trình về phía hạ lưu hay những tác động có tính chất xuyên biên giới vẫn chưa được làm rõ, chưa tạo ra được sự tin tưởng lẫn nhau và có định hướng rõ ràng trong phát triển bền vững trong lưu vực.

Cho đến nay, vẫn chưa có tổ chức nào được thành lập ở khu vực ĐBSCL, cũng như chưa có cơ quan nào được phân công đánh giá tác động của các đập thủy điện này. Đến lúc hậu quả xảy ra, như một chuyên gia ví von là mùa lũ, người dân sẽ phải gánh chịu những đợt xả nước nhấn chìm làng mạc, còn mùa kiệt người dân có thể phải dùng đến nước đóng chai để tưới ruộng, chắc cũng không lạ.

(Theo Phi Tuấn - Monre)

Long An: Một nhà máy nước đầu tư hàng chục tỉ đồng nhưng chỉ hoạt động 1/3 công suất

Đó là nhà máy nước do Công ty cổ phần Cấp thoát nước Phú Mỹ Vinh - Long An, đặt tại Khu Công nghiệp Việt Hóa, xã Đức Lập Hạ (Đức Hòa-Long An) đầu tư. Tuy được đầu tư   kinh phí tới 80 tỉ đồng   để xây dựng với công suất 300.000 m3/ngày đêm, phục vụ nguồn nước cần thiết cho các nhà đầu tư thứ cấp tại khu công nghiệp, nhưng kể từ ngày khánh thành tháng 9/2009 đến nay, nhà máy này chỉ hoạt động 1/3 công suất (tức 100.000 m3/ngày đêm).

Nguyên nhân không phải do nhà máy mà là các đơn vị chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, gồm: Thái Hòa, Sài Gòn-Long An, Việt Hóa, Anh Hồng,... lắp đặt đường ống nội bộ và đấu nối với nhà máy nước chưa hoàn thành, hoặc đã kéo đường ống nước đến nhà máy nhưng vẫn nằm im. Ông Võ Văn Thanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần cấp thoát nước Phú Mỹ Vinh cho biết: thực tế rất nhiều doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu sử dụng nước rất lớn, tới gần 10.000 m3/ngày đêm nhưng đến nay vẫn chưa có dấu hiệu hợp tác với nhà máy, mặc dù trước khi xây dựng nhà máy, công ty đã ký hợp đồng với các doanh nghiệp này. Nếu tính về hiệu quả kinh tế, mỗi ngày Nhà máy Nước Phú Mỹ Vinh thiệt hại gần 75 triệu đồng kể từ khi đưa vào hoạt động.

Trước tình hình các doanh nghiệp sử dụng nước giếng nội bộ không đúng với chủ trương của tỉnh, UBND Long An cho biết: đến cuối tháng 9/2010, nếu các doanh nghiệp trong khu vực khu công nghiệp không thực hiện theo quyết định của UBND tỉnh là đóng các miệng giếng nội bộ và hòa vào hệ thống nước của nhà máy nước Phú Mỹ Vinh, thì UBND Long An sẽ thành lập đoàn kiểm tra và kiên quyết xử phạt những doanh nghiệp cố tình vi phạm.

  (Theo Thanh Bình - Monre)

Thanh Hóa tăng cường quản lý và bảo vệ tài nguyên nước

Trước thực trạng khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn còn nhiều bất cập, tỉnh Thanh Hóa đang triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.

Các huyện, thị xã đã tổ chức tổng kiểm tra việc thực hiện pháp luật tài nguyên nước trên địa bàn, hướng dẫn và yêu cầu các doanh nghiệp và người dân có hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, xả nước thải vào nguồn nước, hành nghề khoan nước dưới đất trên địa bàn tỉnh đều phải có giấy phép (trừ trường hợp khai thác, sử dụng quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình không phải xin phép theo quy định của Luật Tài nguyên nước). Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa, khắc phục sự cố trong quá trình hoạt động tài nguyên nước. Các ngành chức năng có liên quan tiến hành lập quy hoạch nguồn nước sinh hoạt đô thị và quy định vùng bảo hộ vệ sinh đối với nguồn nước sinh hoạt, kế hoạch, địa điểm khai thác, sử dụng nguồn nước cho thực hiện các dự án, công trình. Chỉ đạo các đơn vị kinh doanh nước sạch và các đơn vị thu nhận, xử lý nước thải đô thị tập trung hoàn thiện hồ sơ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo đúng quy định của pháp luật. Kiểm tra chặt chẽ các địa phương trong việc đào, xây dựng các hố chôn xác động vật chết khi có dịch, đáy và thành bên các hố phải là vật liệu không hoặc ít thấm nước và phải có biện pháp ngăn chặn ô nhiễm các nguồn nước. Kiểm tra định kỳ chất lượng nguồn nước khai thác cho mục đích sinh hoạt, đặc biệt đối với các đơn vị kinh doanh nước sạch. Trong trường hợp chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn, yêu cầu các chủ thể khai thác, khắc phục ngay. Đối với các bệnh viện, cơ sở y tế, phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định hiện hành mới được thải ra nguồn tiếp nhận. Đồng thời, các địa phương phải tổ chức kiểm tra, rà soát ngay các tổ chức, cá nhân đang hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xử nước thải vào nguồn nước, hành nghề khoan nước dướt đất trên địa bàn. Những trường hợp vi phạm pháp luật về tài nguyên nước thì kiên quyết xử lý nghiêm. Đặc biệt, các ngành chức năng còn đẩy nhanh việc thực hiện các dự án, đề án về bảo vệ nguồn nước như: "Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước tỉnh Thanh Hóa"; “Trám lấp giếng không sử dụng".

Những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài nguyên nước còn nhiều bất cập: tình trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không có quy hoạch, không được cấp thẩm quyền cho phép...  Từ đó đã làm ảnh hưởng xấu đến số lượng và chất lượng nguồn nước, gây sụt lún đất. Bên cạnh đó tình trạng tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước vẫn còn xảy ra ở một số địa phương... 

 (Theo Nguyễn Mai Hương - Monre)

Tuần lễ nước thế giới 2010 (từ ngày 5 đến 11/9) tại Stockholm, Thụy Điển: 9 địa điểm ô nhiễm nhất thế giới

Báo Huffington đã xếp loại chín nơi ô nhiễm nhất hành tinh thông qua số liệu do các quốc gia, Tổ chức Y tế thế giới công bố. Đáng chú ý: 5/9 địa điểm có liên quan đến nguồn nước.

* Sông Citarum ở Indonesia: đây là nguồn cung cấp nước chính cho gần 500 triệu người đang sinh sống gần lưu vực Citarum.

* Hồ Karachay ở Nga: khu vực sản xuất phóng xạ này đã để lại 120 triệu đơn vị phóng xạ.

* Châu thổ Niger: trong 50 năm, có khoảng 9-13 triệu thùng dầu tràn do đường ống dẫn dầu bị rò rỉ, khiến các dòng sông, đầm lầy và môi trường hoang dã bị ảnh hưởng nặng nề.

* Thành phố Lâm Phần, tỉnh Sơn Tây: đây là vùng khai thác than lớn nhất Trung Quốc.

* Thành phố Los Angeles: năm 2009, mức độ ozone trung bình ở đây được xem là tồi tệ nhất trong các thành phố ở Mỹ

* Greater London (Anh): tuổi thọ của người dân giảm 9 tuổi. Báo cáo của Quốc hội Anh cho biết khoảng 50.000 người chết sớm mỗi năm.

* Dzerzhinsky (Nga) là nơi tập kết 300.000 tấn rác thải hóa học từ năm 1930-1998. Ít nhất 300.000 người bị ảnh hưởng từ khí thải độc hại như khí gas VX và sarin. Theo mạng sinh sản tự nhiên, năm 2003 tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong ở đây đã vượt 260%.

* Thành phố La Oroya, Peru: hơn 35.000 người dân sống quanh Nhà máy khai thác và nấu chảy kim loại Doe Run bị ảnh hưởng do các loại hóa chất độc hại như chì, kẽm, đồng và sulfur dioxide.

* Vùng Phoenix - Mesa - Scottsdate, Mỹ: đây là nơi khí bụi, bồ hóng và nhiều khí thải công nghiệp khác bao trùm quanh năm.

 

(Theo M.L – T.T - Monre)

THÔNG BÁO KẾT QUẢ QUAN TRẮC TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2010

A. Đồng bằng Bắc Bộ

1. Mực nước bình quân hai tầng chứa nước Holocen (qh) và Pleistocen (qp) có xu thế giảm so với năm 2009 và giảm so với trung bình (TB) nhiều năm. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu thế hạ thấp.

- Vùng Hà Nội: mực nước sâu nhất tầng chứa nước qp cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.64a (Trung Tự, Đống Đa) là 25,73m tháng 6/2010. Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 26,50m.

- Vùng Hải Hậu-Nam Định: mực nước sâu nhất tầng chứa nước qp cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.109a là 9,82m (tháng 6/2010). Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 10,10m.

- Vùng Kiến An-Hải Phòng: Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.167a là 9,43m vào tháng 1/2010. Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 9,40m.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất.

Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tầng qp trung bình mùa khô năm 2010 là 691,4 mg/l,  giảm không đáng kể so với năm 2009. Các nguyên tố Mn, As, amoni có tỷ lệ mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép - TCCP (theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT; hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn, As, NH4+ (tính theo Nitơ) mùa khô lần lượt là: 2,35mg/l (Q.129b - P. Lam Sơn- TP. Hưng Yên); 0,27mg/l (Q.58a-Hoài Đức- Hà Nội); 30,96mg/l (Q.69a-Hà Đông- Hà Nội). Các mẫu phân tích cho thấy các mẫu có chỉ tiêu As cao hơn TCCP là 19%, Mn là 53% và amoni là 46,7%, hàm lượng amoni trung bình mùa khô đều cao hơn TCCP: 8,7mg/l (mùa mưa) . Các mẫu có hàm lượng amoni cao tập trung ở Thanh Trì, Hoài Đức, Đan Phượng- Hà Nội, Hải Hậu- Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Phủ Lý- Hà Nam.

B. Đồng bằng Nam Bộ

1. Mực nước bình quân: 

Từ năm 2010 độ cao các công trình quan trắc đo lại bằng GPS. Mực nước trung bình 6 tháng đầu năm 2010 so cùng kỳ năm 2009 các tầng chứa nước đều có xu hướng giảm, nguyên nhân sự suy giảm mực nước này có thể liên quan đến thời tiết, mùa khô năm nay kéo dài so với các năm khoảng 1 tháng. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu hướng giảm dần.

- Độ sâu mực nước lớn nhất 6 tháng đầu năm 2010 cách mặt đất của tầng chứa nước qp1 ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại công trình quan trắc Q015030 là 29,79m (ngày 31/5/2010- cuối mùa khô) thấp hơn giá trị này cùng thời kỳ năm 2009 là 1,86m. Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 29,80m.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất.

Kết quả đánh giá chất lượng nước theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT cho thấy một số thành phần trong nước vượt giới hạn; thường là TDS, NH4+ (tính theo Nitơ) và các thành phần vi lượng thường là Mn, As, Hg. Cụ thể các trường hợp vượt điển hình ở các đối tượng nghiên cứu, như sau:

+ Tầng qp3: chỉ tiêu TDS và NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q409020M1 là 20100mg/l và 1,72mg/l (Phường 6, TX Sóc Trăng, Sóc Trăng); Mn vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q031020 là 1,95mg/l (An Phong, Thanh Bình, Đồng Tháp);

+ Tầng qp2-3: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q822030M1 là 36880mg/l (Long Hoa, Cần Giờ, TP HCM); chỉ tiêu Mn vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q177020 là 3,58mg/l (Phường 9, TP Cà Mau, Cà Mau); chỉ tiêu NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q007030 là  12,50mg/l (Vĩnh Lộc A, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh);

+ Tầng qp1: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q188030 là 26438mg/l (Phường 5, TP Cà Mau, Cà Mau); chỉ tiêu Mn và Ni vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q015030 là 2,78mg/l và 0,079mgl/ (An Lạc, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh);

+ Tầng n22: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q406040 là 25230mg/l (Long Sơn, Cầu Ngang, Trà Vinh); chỉ tiêu Mn và Hg vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q22104Z là 0,72mg/l (Phường 1, Tây Ninh, Tây Ninh); chỉ tiêu Ni vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q22404Z là 0,029mg/l (Thới Hòa, Bến Cát, Bình Dương);

+ Tầng n21: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q59804Z là 23411mg/l (Phường 3, TX Sóc Trăng, Sóc Trăng);

C. Vùng Tây Nguyên

1. Mực nước bình quân.

Nhìn chung mực nước dưới đất vùng Tây Nguyên có xu thế tăng vào 4 tháng đầu năm và giảm vào tháng 5,6 so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên ở một số nơi có hiện tượng mực nước bị hạ thấp liên tục  như công trình LK134T, tầng chứa nước Plicocen (n) tại Ngọc Bay thị xã Kon Tum, mực nước liên tục hạ thấp từ đầu năm 2007 đến nay và thấp nhất là - 10,77m vào tháng 6 năm 2010

2. Thành phần hoá học nước dưới đất.

Độ tổng khoáng hoá trung bình của nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2010 là 148mg/l. Kết quả phân tích thành phần hoá học cho thấy, các nguyên tố vi lượng trong nước dưới đất hầu hết đạt tiêu chuẩn cho phép (QCVN 09:2008/BTNMT) trừ Mn. Hàm lượng Mn cao nhất là 0,70 mg/l tại công trình LK136Tm1 (Diên Bình - Đắc Tô - Kon Tum). Các mẫu phân tích cho thấy các mẫu có chỉ tiêu Mn cao hơn TCCP là 8,70%.

 

( Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước)