Tue11212017

Last update02:00:00 PM GMT

Bản tin thông báo tài nguyên nước mặt mùa cạn năm 2017 vùng Tây Nguyên

CHƯƠNG I. HIN TRNG CÁC TRM QUAN TRC TÀI NGUYÊN NƯỚC MT VÙNG TÂY NGUYÊN

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2204/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây

dựng mới 06 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được bố trí như sau:

- Trạm Ya Yun Hạ (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chư Sê

tỉnh Gia Lai; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 1.150 km2; được quan trắc từ tháng 1 năm 2012;

- Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô

huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

- Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 07 năm 2011;

- Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034’ vĩ độ Bắc, 107021’ kinh độ Đông)

nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 02 năm 2012.

sodo_tqtrac_TaynguyenHình 1.1: Sơ đồ mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước mặt – vùng Tây Nguyên

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo tài nguyên nước mặt tháng 04 năm 2017 vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

CHƯƠNG I. HIN TRNG CÁC TRM QUAN TRC TÀI NGUYÊN NƯỚC MT

1.1. Hin trng trm quan trc tài nguyên nước mt khu vc Duyên hi Nam Trung B

Vùng Nam Trung Bộ hiện có 03 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2208/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 4 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàmlượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ được bố trí như sau:

- Trạm Phú Ninh (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông Yên Thuận, thuộc thôn I, xã Tam Sơn huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam; thuộc lưu vực sông Tam Kỳ, diện tích lưu vực khống chế là 120 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011.

- Trạm An Thạnh (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Kỳ Lộ, thuộc thôn Phú Mỹ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; thuộc lưu vực sông Kỳ Lộ, diện tích lưu vực khống chế là 1180 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

- Trạm Nha Phu (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ trái sông Dinh, thuộc thôn Hội Phú Bắc I, xã Ninh Phú huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 750km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011.

sodo_tramqtracHình 1.1: Sơ đồ mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước mặt - vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srê Pôk tháng 4 năm 2017

PHẦN I. HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK

1.1 Hiện trạng các trạm quan trắc

Trên lưu vực sông Srê Pốk hiện có 24 trạm quan trắc, bao gồm: 01 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt và 23 trạm quan trắc khí tượng, thủy văn. Cụ thể như sau:

1.1.1 Trạm quan trắc tài nguyên nước mặt

Trên lưu vực sông Srê Pốk hiện có 01 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt Đức Xuyên do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý, thực hiện quan trắc từ năm 2012.

1.1.2 Trạm quan trắc khí tượng, thủy văn

Trên lưu vưc sông Srê Pốk có tổng số 23 trạm quan trắc bao gồm: 17 trạm khí tượng và 9 trạm thủy văn. Cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Các trạm khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước trên lưu vực sông Srê Pốk

tramqtracktBảng 1.1: Các trạm khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước trên lưu vực sông Srê Pốk

 

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 05 năm 2017 vùng Đồng Bằng Bắc Bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 6 và tháng 7 năm. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước

I.1. Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 5 so với trung bình tháng 4: Do thời gian này đang thời điểm đầu mùa mưa nên mực nước tháng này có xu thế dâng hạ không đáng kể so với tháng trước, với 21/41 công trinh có mực nước dâng hạ không đáng kể, 15/41 công trình có mực nước dâng và 5/41 công trình có mực nước hạ. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 0,20m tại xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (Q.146) và dâng cao nhất là 0,94m tại xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.2). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,18m tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội (Q.58) và sâu nhất là 12,65m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

bb_t5Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 tầng qh

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 04 năm 2017 vùng Đồng Bằng Bắc Bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 5 và tháng 6 năm 2017. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước

I.1. Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 4 so với trung bình tháng 3: nhìn chung mực nước có xu thế dâng cao trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,08m. Do thời gian này đang trong thời kỳ cuối mùa khô nên trong tháng 4 có 19/41 công trình quan trắc mực nước dâng cao phân bố hầu hết trên đồng bằng, 13 công trình có mực nước biến động không đáng kể và 9/41 công trình quan trắc mực nước hạ thấp. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 0,60m tại xã Đại Đồng, huyện Tứ kỳ, tỉnh Hải Dương (Q.147) và dâng cao nhất là 0,80m tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.10M1). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,20m tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội (Q.58) và sâu nhất là 12,83m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

Xem chi tiết tại đây

bb_t4Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 4 tầng qh

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 03 năm 2017 vùng Đồng Bằng Bắc Bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 4 và tháng 5 năm. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước 

I.1. Tầng chứa nước Holocene (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 3 so với trung bình tháng 2: nhìn chung mực nước có xu thế hạ thấp trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,1m. Do thời gian này đang trong thời kỳ mùa khô nên trong tháng 3 có 20/41 công trình quan trắc mực nước hạ thấp phân bố ở phần ven rìa Đông Bắc và Tây Nam, 14 công trình có mực nước biến động không đáng kể và 20/41 công trình quan trắc mực nước dâng cao. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 1,05m tại P. Mạo Khê, TX. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (Q.141) và dâng cao nhất là 0,54m tại xã Chuyên Ngoại, huyện Duy tiên, tỉnh Hà Nam (Q.89).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,10m tại phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội (Q.65) và sâu nhất là 12,51m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

db_bbSơ đồ diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 3 tầng qh

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 03 năm 2017 vùng duyên hải Nam trung bộ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có 3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2016 và tháng đầu năm 2017, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo mực nước tháng 4 và tháng 5 cho hai tầng chứa nước chính là tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp). Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Diễn biến tài nguyên nước dưới đất vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

I.1. Tầng chứa nước Holocen (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 3 so với mực nước trung bình tháng 2: mực nước có xu thế hạ, với 20/22 công trình có mực nước hạ và 2/22 công trình hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,82m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN).

Trong tháng 3: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 5,41m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN), mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,96m tại xã TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT13a-QD).

ntbSơ đồ diễn biến mực nước tháng 3 tầng qh

Xem chi tiết tại đây

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 03 năm 2017 vùng Bắc trung bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 4 và tháng 5 năm 2017. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tỉnh Thanh Hóa

1. Tầng chứa nước Holocene (qh)

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 năm 2017 có xu thế biến động không đáng kể so với trung bình tháng 2 năm 2017, với 5/11 công trình có mực nước biến động không đáng kể, 4/11 công trình có mực nước dâng và 2/11 công trình có mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,16m tại xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia (QT14-TH) và hạ thấp nhất là 0,11m tại xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH).

btb Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 3 năm 2017 tầng qh

Xem chi tiết tại đây