Tue11212017

Last update02:00:00 PM GMT

Kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2012

 

Công tác quan trắc tài nguyên nước dưới đất được tiến hành từ đầu những năm 90. Hiện nay, có 730 công trình quan trắc trên 5 vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ. Việc thực hiện quan trắc do các đơn vị trực thuộc của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước tiến hành. Kết quả quan trắc cho thấy sự suy giảm mực nước tại các khu vực đô thị lớn, hàm lượng cao hơn tiêu chuẩn cho phép của Asen, amoni ở một số nơi,….  

Dưới đây là các thông tin chính từ ba vùng kinh tế trọng điểm: Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ.

- Để đánh giá sự suy giảm mực nước tại điểm quan trắc, mực nước hạ thấp cho phép (Hcp) được dùng làm cơ sở so sánh. Mực nước hạ thấp cho phép (Hcp) là độ sâu mực nước dưới đất (tính bằng mét) tối đa từ mặt đất trong quá trình khai thác sử dụng nước để tránh các tác động tiêu cực đến nguồn nước cũng môi trường sinh thái.

- Để đánh giá chất lượng nước dưới đất, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09: 2008/ BTN&MT được sử dụng. Giá trị sử dụng để so sánh, đánh giá là giá trị hàm lượng giới hạn gọi là tiêu chuẩn cho phép (TCCP);

A. Đồng bằng Bắc Bộ

I. Mực nước

1. Mực nước các tầng chứa nước chính

Kết quả quan trắc mực nước 6 tháng đầu năm tầng chứa nước qh2 cho thấy độ cao mực nước TBtháng của tầng là 2,47m, thấp nhất vào tháng 3 là 2,26m và cao nhất vào tháng 6 là 2,95m.

Kết quả quan trắc mực nước 6 tháng đầu nămtầng chứa nước qp1 cho thấy độ cao mực nước TBtháng của tầng là -0,63m, thấp nhất vào tháng 4 là -0,74m và cao nhất vào tháng 6 là -0,45m.

2. Một số thông tin cảnh báo, dự báo

Tại một số vùng khai thác nước mạnh, mực nước giảm dần theo thời gian. Tại một số điểm quan trắc, mực nước đã hạ thấp sâu gần tới Hcp như Mai Dịch - Cầu Giấy - Hà Nội. Ở một số nơi như vùng Hải Hậu - Trực Ninh - Nam Định, Quỳnh Phụ - Thái Bình, mực nước hạ thấp còn ở mức an toàn nhưng do tầng chứa nước điều kiện thủy địa hóa phức tạp, cần chú ý để tránh xâm nhập mặn do khai thác nước gây ra. Các cơ quan quản lý tài nguyên nước cần chú ý để có giải pháp phù hợp.

Tuy nhiên, giá trị mực nước quan trắc và mực nước dự báo chỉ là cục bộ theo từng công trình chứ không phải trên diện rộng.  

* Vùng Thành phố Hà Nội:độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năm2012 tại công trình Q.63a (Mai Dịch) vào tháng 6 là 28,57m chiếm 60,79% Hcp; dự báo mực nước TB tháng 12 năm 2012 là 29,10m.

* Vùng Nam Định: độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012 tại công trình quan trắc Q.109a (Trực Phú - Trực Ninh) vào tháng 6 là 11,45m chiếm 22,90 % Hcp. Dự báo mực nước TB tháng 12 năm 2012 11,19m.Kết quả dự báo mực nước bằng mô hình dòng chảy đối với điểm Q.109a trung tâm phễu hạ thấp mực nước cho thấy đến năm 2020 khi dân số tỉnh Nam Định tăng 161.818 người (so với năm 2010), lượng khai thác tăng thêm từ 2010 đến 2020 là 24.758m3/ngày cho khu vực nước nhạt độ sâu mực nước tại điểm Q.109a là 15,54m thấp hơn so với mực nước thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012 là 4,09m chiếm 31,08% Hcp.

* Vùng Thái Bình:độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012 tại công trình quan trắc Q.159b(An Bài - Quỳnh Phụ) vào tháng 6 4,90mchiếm 9,79 % Hcp. Dự báo mực nước TB tháng 12 năm 2012 là 4,96m.

*Vùng Vĩnh Phúc: độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012 tại công trình quan trắc Q.5(Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc) vào tháng 4 là 11,18m chiếm 58,85%Hcp.Dự báo mực nước TB tháng 12 năm 2012 10,78m.

* Vùng Hải Dương: độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012 tại công trình quan trắc Q.131b (TT. Thanh Miện – Hải Dương) vào tháng 5 là 4,01m chiếm 8,02%Hcp.Dự báo mực nước TB tháng 12 năm 2012 4,05m.

II. Chất lượng nước

- Tầng qh2: Kết quả phân tích hàm lượng các nguyên tố đa lượng từ 33 mẫu nước lấy trong mùa khô năm 2012 cho thấy giá trị TDS trung bình của tầng là 3092mg/l, có 11/33 mẫu vượt quá TCCP. Có 10/10 mẫu đều có hàm lượng Amôni cao hơn TCCP (>0,1mg/l tính theo N).Hàm lượng Amôni TB (tính theo Nitơ) là 5,02mg/l. Hàm lượng Amôni đặc biệt lớn đến 14,62 mg/l phát hiện trên mẫu lấy được từ công trình Q.57(Tân Lập-Đan Phượng-Hà Nội).

- Tầng qp1: Kết quả tổng hợp từ 49 mẫu phân tích toàn diện lấy trong mùa khô năm 2012 cho thấy giá trị TDS trung bình là 756mg/l; 20/40 mẫu có hàm lượng Mangan (Mn) vượt TCCP, 6/40 mẫu có hàm lượng Asen (As) vượt TCCP, hàm lượng As cao nhất là 0,40 mg/l (gấp 8 lần TCCP) tại công trình Q.58a (Hoài Đức - Hà Nội). Hàm lượng các nguyên tố vi lượng khác đều nhỏ hơn TCCP; 28/30 mẫu có hàm lượng Amôni (NH4+) cao hơn TCCP (>0,1mg/l tính theo N). Hàm lượng Amôni đặc biệt lớn đến 38,27 mg/l phát hiện trên mẫu lấy được từ công trình Q.88b (Chuyên Ngoại - Duy Tiên-Hà Nam).

B. Vùng Nam Bộ

I. Mực nước

1. Mực nước các tầng chứa nước chính

- Kết quả quan trắc mực nước tầng chứa nước qp3 cho thấy độ cao mực nước TB 6 tháng của tầng là 4,27m, thấp nhất vào tháng 5 là 3,85m và cao nhất vào tháng 1 là 4,83m.

- Kết quả quan trắc mực nước tầng chứa nước qp2-3 cho thấy độ cao mực nước TB 6 tháng của tầng là -4,70m, thấp nhất vào tháng 5 là -5,03m và cao nhất vào tháng 1 là -4,23m.

- Kết quả quan trắc mực nước tầng chứa nước qp1 cho thấy độ cao mực nước TB 6 tháng của tầng là -2,89m, thấp nhất vào tháng 5 là -3,09m và cao nhất vào tháng 1 là -2,51m.

- Kết quả quan trắc mực nước tầng chứa nước n22cho thấy độ cao mực nước TB 6 tháng của tầng là -0,77m, thấp nhất vào tháng 5 là -1,12m và cao nhất vào tháng 6 là -0,50m.

- Kết quả quan trắc mực nước tầng chứa nước n21cho thấy độ cao mực nước TB 6 tháng của tầng là -4,80m, thấp nhất vào tháng 5 là -4,91m và cao nhất vào tháng 1 là -4,61m.

2. Một số thông tin cảnh báo, dự báo

2.1. Cảnh báo

Theo kết quả quan trắc mực nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy tại một số điểm quan trắc, mực nước đã hạ thấp sâu, vào khoảng tiệm cận với Hcp. Ở một số nơi, mực nước Hcp còn ở mức an toàn, do tầng chứa nước có chiều dày lớn, nằm sâu, mực nước Hcp tối đa là 50m song có điều kiện thủy địa hóa phức tạp, cần chú ý để tránh xâm nhập mặn do khai thác nước gây ra. Các cơ quan quản lý tài nguyên nước cần chú ý để có giải pháp phù hợp.

Tuy nhiên, giá trị mực nước quan trắc và mực nước dự báo chỉ là cục bộ theo từng công trình chứ không phải trên diện rộng.  

* Vùng Hồ Chí Minh: độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năn 2012 tại công trình Q004030(Thạnh Lộc - Quận 12) - tầng chứa nước qp1 là 17,43m vào tháng 6 chiếm 34,87% Hcp. Dự báo mực nước TB tháng 12 là 18,26m.

* Vùng Sóc Trăng: độ sâu mực nước TB tháng thấp nhất 6 tháng đầu năn 2012 tại công trình Q598030(Phường 3-TP Sóc Trăng) - tầng chứa nước qp1 là 9,86m vào tháng 6 chiếm 19,72% Hcp.Dự báo mực nước TB tháng 12 là 10,03m.

II. Chất lượng nước

Kết quả quan trắc cho thấy, chất lượng nước mùa khô năm 2012 tương đối tốt, chỉ một số công trình có thành phần trong nước vượt TCCP, thường là TDS, Phenol, NH4+ (tínhtheo Nitơ), Mn và Ni. Đó là các công trình như: Q616040 (TT Bến Lục, Bến Lục, Long An - tầng qp1) chỉ tiêu Mn là 24,99mg/l, chỉ tiêu Ni là 0,33mg/l; công trình Q023020M1 (TT Trảng Bàng, Trảng Bàng, Tây Ninh - tầng qp3) chỉ tiêu NH4+ là 2,54mg/l.

C. Vùng Tây Nguyên

I. Mực nước

a. Tầng chứa nước Q: Tổng hợp kết quả quan trắc từ 27 công trình cho thấy độ cao mực nước TB tháng 6 tháng đầu năm 2012 tầng chứa nước Q là 486,29m, thấp nhất là 486,06m vào tháng 3 và cao nhất là 486,64m vào tháng 1.

b. Tầng chứa nước Q2: Tổng hợp kết quả quan trắc từ 18 công trình cho thấy độ cao mực nước TB tháng 6 tháng đầu năm 2012 tầng chứa nước Q2 là 646,73m, thấp nhất là 646,14m vào tháng 4 và cao nhất là 647,99m vào tháng 1.

c. Tầng chứa nước N2-Q1: Tổng hợp kết quả quan trắc từ 47 công trình cho thấy độ cao mực nước TB tháng 6 tháng đầu năm 2012 tầng chứa nước N2-Q1 là 617,19m, thấp nhất là 616,89 vào tháng 3 và cao nhất là 617,73m vào tháng 1.

d. Tầng chứa nước n: Tổng hợp kết quả quan trắc từ 20 công trình cho thấy độ cao mực nước TB tháng 6 tháng đầu năm 2012 tầng chứa nước n là 423,82m, thấp nhất là 423,16m vào tháng 5 và cao nhất là 424,80m vào tháng 1.

II. Chất lượng nước

Kết quả phân tích mẫu nước tại các công trình quan trắc vùng Tây Nguyên 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy giá trị TDS trung bình là 149mg/l, không có mẫu nào có hàm lượng vượt quá hàm lượng TCCP, có 3/23 mẫu Amôni và 1/23 mẫu Nitrat có hàm lượng cao hơn TCCP,có 6/27 mẫu có hàm lượng Mangan cao hơn hàm lượng của TCCP chiếm 22,22% mẫu.


(Nguyễn Thị Hạ - Trung tâm Quan trắc và Dự báo TNN - Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước)

Thông báo kết quả quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2011

Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước - Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã tổng hợp kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2011. Chi tiết mọi người có thể download và tham khảo tại đây

 

(CWRPI)

Thông báo kết quả quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2010

A. Đồng bằng Bắc Bộ

1. Mực nước bình quân hai tầng chứa nước Holocen (qh) và Pleistocen (qp) có xu thế giảm so với năm 2009 và giảm so với trung bình (TB) nhiều năm. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu thế hạ thấp.

- Vùng Hà Nội: mực nước sâu nhất tầng chứa nước qp cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.64a (Trung Tự, Đống Đa) là 25,73m tháng 6/2010. Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 26,50m.

- Vùng Hải Hậu-Nam Định: mực nước sâu nhất tầng chứa nước qp cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.109a là 9,82m (tháng 6/2010). Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 10,10m.

- Vùng Kiến An-Hải Phòng: Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.167a là 9,43m vào tháng 1/2010. Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 9,40m.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tầng qp trung bình mùa khô năm 2010 là 691,4 mg/l,  giảm không đáng kể so với năm 2009. Các nguyên tố Mn, As, amoni có tỷ lệ mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép - TCCP (theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT; hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn, As, NH4+ (tính theo Nitơ) mùa khô lần lượt là: 2,35mg/l (Q.129b - P. Lam Sơn- TP. Hưng Yên); 0,27mg/l (Q.58a-Hoài Đức- Hà Nội); 30,96mg/l (Q.69a-Hà Đông- Hà Nội). Các mẫu phân tích cho thấy các mẫu có chỉ tiêu As cao hơn TCCP là 19%, Mn là 53% và amoni là 46,7%, hàm lượng amoni trung bình mùa khô đều cao hơn TCCP: 8,7mg/l (mùa mưa) . Các mẫu có hàm lượng amoni cao tập trung ở Thanh Trì, Hoài Đức, Đan Phượng- Hà Nội, Hải Hậu- Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Phủ Lý- Hà Nam.  

B. Đồng bằng Nam Bộ

1. Mực nước bình quân:(  Từ năm 2010 độ cao các công trình quan trắc đo lại bằng GPS. Mực nước trung bình 6 tháng đầu năm 2010 so cùng kỳ năm 2009 các tầng chứa nước đều có xu hướng giảm, nguyên nhân sự suy giảm mực nước này có thể liên quan đến thời tiết, mùa khô năm nay kéo dài so với các năm khoảng 1 tháng. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu hướng giảm dần.

- Độ sâu mực nước lớn nhất 6 tháng đầu năm 2010 cách mặt đất của tầng chứa nước qp1 ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại công trình quan trắc Q015030 là 29,79m (ngày 31/5/2010- cuối mùa khô) thấp hơn giá trị này cùng thời kỳ năm 2009 là 1,86m. Dự báo mực nước tháng 12 năm 2010 là 29,80m.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất:  Kết quả đánh giá chất lượng nước theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT cho thấy một số thành phần trong nước vượt giới hạn; thường là TDS, NH4+ (tính theo Nitơ) và các thành phần vi lượng thường là Mn, As, Hg. Cụ thể các trường hợp vượt điển hình ở các đối tượng nghiên cứu, như sau:

+ Tầng qp3: chỉ tiêu TDS và NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q409020M1 là 20100mg/l và 1,72mg/l (Phường 6, TX Sóc Trăng, Sóc Trăng); Mn vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q031020 là 1,95mg/l (An Phong, Thanh Bình, Đồng Tháp);

+ Tầng qp2-3: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q822030M1 là 36880mg/l (Long Hoa, Cần Giờ, TP HCM); chỉ tiêu Mn vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q177020 là 3,58mg/l (Phường 9, TP Cà Mau, Cà Mau); chỉ tiêu NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q007030 là  12,50mg/l (Vĩnh Lộc A, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh);

+ Tầng qp1: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q188030 là 26438mg/l (Phường 5, TP Cà Mau, Cà Mau); chỉ tiêu Mn và Ni vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q015030 là 2,78mg/l và 0,079mgl/ (An Lạc, Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh);

+ Tầng n22: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q406040 là 25230mg/l (Long Sơn, Cầu Ngang, Trà Vinh); chỉ tiêu Mn và Hg vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q22104Z là 0,72mg/l (Phường 1, Tây Ninh, Tây Ninh); chỉ tiêu Ni vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q22404Z là 0,029mg/l (Thới Hòa, Bến Cát, Bình Dương);

+ Tầng n21: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q59804Z là 23411mg/l (Phường 3, TX Sóc Trăng, Sóc Trăng);

C. Vùng Tây Nguyên

1. Mực nước bình quân   Nhìn chung mực nước dưới đất vùng Tây Nguyên có xu thế tăng vào 4 tháng đầu năm và giảm vào tháng 5,6 so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên ở một số nơi có hiện tượng mực nước bị hạ thấp liên tục  như công trình LK134T, tầng chứa nước Plicocen (n) tại Ngọc Bay thị xã Kon Tum, mực nước liên tục hạ thấp từ đầu năm 2007 đến nay và thấp nhất là - 10,77m vào tháng 6 năm 2010  

2. Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá trung bình của nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2010 là 148mg/l. Kết quả phân tích thành phần hoá học cho thấy, các nguyên tố vi lượng trong nước dưới đất hầu hết đạt tiêu chuẩn cho phép (QCVN 09:2008/BTNMT) trừ Mn. Hàm lượng Mn cao nhất là 0,70 mg/l tại công trình LK136Tm1 (Diên Bình - Đắc Tô - Kon Tum). Các mẫu phân tích cho thấy các mẫu có chỉ tiêu Mn cao hơn TCCP là 8,70%.  

Thông báo kết quả quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất năm 2009

A. Đồng bằng Bắc Bộ

1. Mực nước bình quân   năm 2009 của tầng qh có xu hướng tăng vào 6 tháng đầu năm, có xu hướng giảm vào 6 tháng cuối năm so với cùng kỳ năm 2008 và giảm so với trung bình nhiều năm.

Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu thế hạ thấp.

- Vùng Hà Nội: mực nước sâu nhất năm 2009 tầng chứa nước qp cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.64a (Trung Tự, Đống Đa) là 25,365m vào tháng 11. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2010 là 25,847m.

- Vùng Hải Hậu-Nam Định: mực nước sâu nhất năm 2009 tầng chứa nước qp cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.109a  là 9,85m vào tháng 8. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2010 là 10,197m.

- Vùng Kiến An-Hải Phòng: Mực nước sâu nhất năm 2009 cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.167a là 10,08m vào tháng 9. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2010 là 9,89m.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tầng qp trung bình là 726,5mg/l (mùa khô) và 761,1mg/l (mùa mưa) tăng giảm không đáng kể so với năm 2008. Các phân tích về vi lượng và nhiễm bẩn cho thấy hàm lượng một số các nguyên tố có tỷ lệ mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép - TCCP (theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT):Mn: 53,57%; As: 17,86 – 21,43 % ; NH4 :66,67- 77,78% mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn là 4,10mg/l(mùa khô) và 2,35mg/l (mùa mưa) (tại Q.129b - P. Lam Sơn- TP. Hưng Yên); hàm lượng cao nhất của nguyên tố As là 0,28mg/l (mùa khô) và 0,31mg/l(mùa mưa) (tại Q.58a-Hoài Đức- Hà Nội); hàm lượng cao nhất của NH4 (tính theo Nitơ) là : 31,11mg/l (mùa khô) (tại Q.69a-Hà Đông- Hà Nội), 35,78mg/l (mùa mưa) (tại Q.77-Tốt Động- Chương Mỹ- Hà Nội). Các mẫu có hàm lượng amoni cao tập trung ở phía nam Hà Nội, Hải Hậu- Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Phủ Lý- Hà Nam. Hàm lượng các mẫu còn lại đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.

B. Đồng bằng Nam Bộ

1. Mực nước bình quân: Mực nước trung bình năm 2009 so mực nước cùng kỳ năm 2008 của các tầng chứa nước Pleistocen thượng (qp3), Pleistocen hạ (qp1) có xu hướng tăng, riêng tầng chứa nước tầng chứa nước Pleistocen trung-thượng (qp2-3) và tầng chứa nước Pliocen trung (n22) có xu hướng hạ thấp hơn.

Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu hướng giảm dần,

- Độ sâu mực nước lớn nhất trong năm 2009 cách mặt đất của tầng chứa nước qp1 ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại công trình quan trắc Q015030 là 28,44m (ngày 6/5/2009) thấp hơn giá trị này năm 2008 là 0,42m. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2010 là 30,596m.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất: Kết quả đánh giá chất lượng nước theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT cho thấy một số thành phần trong nước vượt giới hạn; thường là TDS, NH4+ (tính theo Nitơ) và các thành phần vi lượng thường là Mn, As, Hg. Cụ thể các trường hợp vượt điển hình ở các đối tượng nghiên cứu, như sau:

+ Tầng qp3: chỉ tiêu TDS và NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q17701Z lần lượt là 26410mg/l và 24,34mg/l (Phường 9, TP Cà Mau, Cà Mau); Mn vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q409020M1 là 4,58mg/l (Phường 6, TP Sóc Trăng, Sóc Trăng);

+ Tầng qp2-3: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q822030M1 là 40280mg/l (Long Hoa, Cần Giờ, TP HCM); chỉ tiêu Mn và Hg vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q177020 là 7,44mg/l và 0,004mg/l (Phường 9, TP Cà Mau, Cà Mau); chỉ tiêu NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q224020 là  6,88mg/l (Thới Hoà, Bến Cát, Bình Dương);

+ Tầng qp1: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q21402ZM1 là 15980mg/l (Tân Long Hội, Măng Thít, Vĩnh Long); chỉ tiêu Mn vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q039030 là 1,53mg/l (Hiệp Phước, Nhơn Trạch, Đồng Nai); chỉ tiêu NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q004030 là 1,40mg/l (Thạnh Lộc, Quận 12, TP Hồ Chí Minh);

+ Tầng n22: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q406040 là 25300mg/l (Long Sơn, Cầu Ngang, Trà Vinh); chỉ tiêu Mn và Hg vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q17704T là 9,04mg/l và 0,003mg/l (Phường 9, TP Cà Mau, Cà Mau); chỉ tiêu Ni vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q80404T là 0,03mg/l (Đồng Dù, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh); chỉ tiêu NH4+ vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q714040 là 4,57mg/l (Bình Sơn, Long Thành, Đồng Nai);

+ Tầng n21: chỉ tiêu TDS vượt giới hạn lớn nhất tại công trình Q219040 là 24760mg/l (TT Ba Tri, Ba Tri, Bến Tre);

 C. Vùng Tây Nguyên

1. Mực nước bình quân

Nhìn chung mực nước dưới đất vùng Tây Nguyên có xu thế thấp hơn vào 4 tháng đầu năm và cao hơn vào những 8 tháng cuối năm so với cùng kỳ năm 2008, thay đổi không lớn so với trung  bình nhiều năm (0,9m) và cùng kỳ năm 2008 (0,5m). Tuy nhiên ở một số nơi có hiện tượng mực nước bị hạ thấp liên tục như công trình LK 134T, tầng chứa nước Plicocen (n) tại Ngọc Bay  thị xã Kon Tum, mực nước thấp nhất là  10.67m vào tháng 6 năm 2009.

2. Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá trung bình của nước dưới đất năm 2009 là 165mg/l (mùa khô) và 139mg/l(mùa mưa). Kết quả phân tích thành phần hoá học cho thấy, các nguyên tố vi lượng trong nước dưới đất hầu hết đạt tiêu chuẩn cho phép (QCVN 09:2008/BTNMT) trừ Mn và Hg. Hàm lượng Mn cao nhất là 0,94mg/l (mùa khô) tại công trình LK136T (Diên Bình - Đắc Tô - Kon Tum) và 0,92mg/l (mùa mưa) tại công trình LK18T (An Khê- Gia Lai). Hàm lượng Hg đạt cao nhất là 0,002 mg/l tại công trình C11a (Phường Lê Lợi- Thị xã Kon Tum).

Thông báo động thái nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2008

A.        Đồng bằng Bắc Bộ

Mực nước: Giá trị  bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối, m) hai tầng chứa nước Holocen (qh) và Pleistocen (qp) 6 tháng đầu năm 2008 có xu thế hạ thấp theo thời gian.

Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất tầng qp tiếp tục giảm dần như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng.

-          Vùng Hà Nội: mực nước sâu nhất cách mặt đất tại lỗ khoan quan trắc P.41a ở trung tâm bãi giếng Hạ Đình  là 35,35m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,8m Dự báo mực nước tháng 6 cuói năm 2008 là 35,7m.

-          Vùng Hải Hậu-Nam Định: Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.109a  là 9,17m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,20m. Dự báo 6 tháng cuối năm độ sâu mực nước khoảng 9,4m.

-          Vùng Kiến An - Hải Phòng: Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.167a  là 10,3m, xấp xỉ cùng kỳ năm trước. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 10,58m cách mặt đất.

Thành phần hoá học nước dưới đất:

     - Tầng chứa nước qh nằm trên cùng, tiếp xúc với khí quyển. Nước nhạt thường phân bố ở các dải ven sông, nước mặn thường phân bố ở khu vực ven biển. Có 13/33 mẫu có độ tổng khoáng hoá vượt quá chỉ tiêu cho phép cho ăn uống và sinh hoạt. Đây là tầng chứa nước trên cùng, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố đặc biệt là dân sinh, kết quả phân tích Amoni cho thấy có 4/5 mẫu có hàm lượng vượt quá TCCP.  

- Tầng chứa nước qp là tầng chứa nước chính ở đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên dưới tầng chứa nước qh. Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tổng hợp cho tầng qp mùa khô năm 2008 là 711mg/l tăng 57mg/l so với giá trị cùng kỳ năm trước. Theo tiêu chuẩn TCVN-5944-1995 (Tiêu chuẩn ô nhiễm nước ngầm của Bộ Khoa Học và Công Nghệ năm 1995), nguyên tố Mn có tỷ lệ mẫu vượt chỉ tiêu cho phép cao 13/26 mẫu; hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn là 4,64mg/l (Q.129b - Hưng Yên); nguyên tố As có 3/26 mẫu vượt chỉ tiêu cho phép hàm lượng cao nhất là 0,327mg/l (Q.58a – Hoài Đức-Hà Tây ). Có 9/15 mẫu nghiên cứu có hàm lượng NH4+ vượt quá chỉ tiêu cho phép. Hàm lượng cao nhất là 105,0mg/l (Q.69a - Hà Đông - Hà Tây). Các vùng có hàm lượng Amoni và Asen cao là Hà Nội, Hà Tây và Hà Nam.

 

 B.       Đồng bằng Nam Bộ

Hiện nay, ở vùng đồng bằng Nam Bộ các công trình quan trắc trong 8 tầng chứa nước Dưới đây chúng tôi đánh giá các thông số quan trắc của một số tầng chứa nước chính.

Mực nước: Giá trị bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối, m) được tổng hợp cho các nhận xét sau. Mực nước các tầng chứa nước Pleistocen thượng(qp3), Pleistocen trung-thượng (qp2-3), Pleistocen hạ (qp1), Pliocen trung trung (n22), Pliocen trung hạ (n21), Miocen (n13) 6 tháng đầu năm 2008 đều thấp hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước( trừ tầng chứa nước qp3).

- Mực nước sâu nhất cách mặt đất tầng chứa nước Pliocen trung (n22) ở vùng Cà Mau tại công trình quan trắc Q19904T (hình 4) là 10,32m cách mặt đất. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 10,4m cách mặt đất.

- Mực nước sâu nhất cách mặt đất ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại công trình quan trắc Q015030  là 28,26m cách mặt đất. Q015030 là công trình nằm trong vùng động thái khí tượng bị phá huỷ do khai thác, mực nước bị hạ thấp được hồi phục do được cung cấp tạo nên 2 chu kỳ dâng , hạ mực nước. Chu kỳ dâng mực nước xảy ra vào tháng 1-tháng 2. Do tầng chứa nước ở sâu, nên sự hồi phục xảy ra chậm pha từ 1-3 tháng so với mùa mưa. Dự báo 6 tháng cuối năm độ sâu mực nước đạt khoảng 27,93m cách mặt đất.

       Thành phần hoá học nước dưới đất: Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất tổng hợp cho các tầng chứa nước có xu hướng thay đổi so với năm 2007 và so với trung bình nhiều năm (1995-2008).

Hầu hết yếu tố vi lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước đều nằm dưới chỉ tiêu cho phép trừ Mangan. Trong đó, tầng qp­3 có 4/7 mẫu có hàm lượng Mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 2,55mg/l (công trình Q409020 - Phường 6 TX Sóc Trăng - Sóc Trăng). Kết quả phân tích mẫu nhiễm bẩn cho thấy có 4/13 mẫu có hàm lượng Amoni vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 45,20mg/l (công trình Q808020 - Thanh Bình - Đồng Tháp). Tầng qp2-3 có 2/8 mẫu có hàm lượng Mangan vượt quá TCCP, hàm lượng 8,50mg/l (công trình Q177020 - TX Cà Mau - Cà Mau ). Tầng qp­1 có 4/9 mẫu có hàm lượng Mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 1,80mg/l (công trình Q02204T - Thạnh Hoá - Long An); có 1/9 mẫu có hàm lượng Crôm, Đồng và Niken vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt lần lượt là 0,079mg/l; 1,237mg/l; 0,029mg/l (công trình Q220040 - Tân Biên - Tây Ninh). Tầng n22 có 2/9 mẫu có hàm lượng Mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 0,69mg/l (công trình Q011040 - Quận 12 - TP HCM).

C.        Vùng Tây Nguyên

Mực nước: Giá trị bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối, m) vùng Tây Nguyên   tháng trong sáu tháng đầu năm 2008 cao hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước, có lẽ do biến đổi khí hậu, năm khô hạn, năm mưa nhiều làm biến đổi mực nước.

-          Tại các vùng khai thác với lưu lượng lớn như Buôn Ma Thuột, Kon Tum,... mực nước có xu hướng suy giảm. Mực nước sâu nhất cách mặt đất ở vùng Kon Tum tại công trình quan trắc C5o là 33,37m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 33,99m cách mặt đất.

Thành phần hoá học nước dưới đất: Độ tổng khoáng hoá trung bình mùa khô năm 2008 là 153mg/l, giảm 3 mg/l so với trung bình cùng kỳ năm trước .

Các yếu tố vi lượng trong nước dưới đất đều nằm trong giới hạn cho phép trừ Mangan. Hàm lượng Mangan cao nhất đạt 0,59mg/l (công trình LK18T - TT. An Khê - Gia Lai).

Báo cáo diễn biến động thái nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2007

A.   Đồng bằng Bắc Bộ


- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) tầng chứa nước Pleistocen trung-thượng (qp) 6 tháng đầu năm thấp hơn giá trị cùng kỳ năm trước và trung bình nhiều năm.  

Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất tầng qp tiếp tục giảm dần như Hà Nôi, Nam Định, Hải Phòng.

-          Vùng Hà Nội:  mực nước sâu  nhất cách mặt đất tại lỗ khoan quan trắc P.41a ở trung tâm bãi giếng Hạ Đình là 34,54m,  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là 34,61m.

-           Vùng Hải Hậu-Nam Định:  Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.109a  là 8,97m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,28m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 9,07m.

-          Vùng Kiến An - Hải Phòng : Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.167a  là 10,28m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,22m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 10,58m cách mặt đất.


-          Thành phần hoá học nước dưới đất:

+ Tầng chứa nước qh nằm trên cùng, tiếp xúc với khí quyển. Nước nhạt thường phân bố ở các dải ven sông, nước mặn thường phân bố ở khu vực ven biển. Có 8/32 mẫu có độ tổng khoáng hoá vượt quá chỉ tiêu cho phép cho ăn uống và sinh hoạt.  Đây là tầng chứa nước trên cùng, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố đặc biệt là dân sinh, kết quả phân tích amoni cho thấy có 16/21 mẫu có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP ).

+ Tầng chứa nước  qp là tầng chứa nước chính ở đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên dưới tầng chứa nước qh. Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tổng hợp cho tầng qp mùa khô năm 2007 là 654mg/l giảm 336mg/l so với giá trị cùng kỳ năm trước. Nguyên tố Mn có tỷ lệ mẫu vượt chỉ tiêu cho phép cao 9/25 mẫu  theo tiêu chuẩn TCVN-5944-1995 (Tiêu chuẩn ô nhiễm nước ngầm của Bộ Khoa Học và Công Nghệ năm 1995); hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn là 1,85mg/l (Q.127a - Hưng Yên). Nguyên tố As có 2/25 mẫu vượt chỉ tiêu cho phép hàm lượng cao nhất là  0,608mg/l (Q.58a – Hoài Đức-Hà Tây ). Có 11/13 mẫu nghiên cứu có hàm lượng NH4+ vượt quá chỉ tiêu cho phép. Hàm lượng cao nhất là 97,5mg/l (Q.69a - Hà Đông - Hà Tây). Các vùng có hàm lượng amoni và asen cao là Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam.

B.         Đồng bằng Nam Bộ


- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) các tầng chứa nước Pleistocen thượng (qp3), Pleistocen trung - thượng (qp2-3), Pleistocen hạ (qp1), Pliocen trung (n22), Pliocen hạ (n21), Miocen thượng (n13) 6 tháng đầu năm được tổng hợp cho thấy có xu hướng suy giảm so với giá trị cùng kỳ năm trước và giá trị trung bình nhiều năm (1995-2007). 

- Mực nước sâu nhất cách mặt đất tầng chứa nước Pliocen trung (n22) ở vùng Cà Mau tại công trình quan trắc Q17704T là 16,73m cách mặt đất. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 16,97m cách mặt đất.

-          Mực nước sâu nhất cách mặt đất ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại công trình quan trắc Q015030  là 28,36m cách mặt đất, thấp hơn cùng kỳ năm trước 2,02m.  Q015030 là công trình nằm trong vùng động thái khí tượng bị phá huỷ do khai thác, mực nước bị hạ thấp được hồi phục do được cung cấp tạo nên 2 chu kỳ dâng , hạ mực nước. Chu kỳ dâng mực nước xảy ra vào tháng 1-tháng 2.  Do tầng chứa nước ở sâu, nên sự hồi phục xảy ra chậm pha từ 1-3 tháng so với mùa mưa. Dự báo 6 tháng cuối năm độ sâu mực nước đạt khoảng 28,31m cách mặt đất.

Thành phần hoá học nước dưới đất: Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất tổng hợp cho các tầng chứa nước có xu hướng thay đổi so với năm 2006 và so với trung bình nhiều năm (1995-2007).

Hầu hết yếu tố vi lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước đều nằm dưới chỉ tiêu cho phép trừ Mangan và Asen. Trong đó, tầng qp­3 có 3/6 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 2,39mg/l (công trình Q031020 - Thanh Bình - Đồng Tháp); 1/6 mẫu có hàm lượng Asen vượt quá TCCP đạt 0,057mg/l ( công trình Q409020 - TX Sóc Trăng - Sóc Trăng); Kết quả phân tích mẫu nhiễm bẩn cho thấy có 2/10 mẫu có hàm lượng amoni vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 5,99mg/l (công trình Q031020 - Thanh Bình - Đồng Tháp). Tầng qp2-3 có 1/8 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, có hàm lượng 0,55mg/l (công trình Q598020 - TX Sóc Trăng - Sóc Trăng). Tầng qp­1 có 2/8 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 1,56mg/l (công trình Q02204T - Thạnh Hoá - Long An); có 1/8 mẫu có hàm lượng Crôm, Đồng và Niken vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt lần lượt là 0,716mg/l; 0,4mg/l; 0,113mg/l (công trình Q220040 - Tân Biên - Tây Ninh). Tầng n22 có 3/9 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 38,7mg/l (công trình Q17704T - TX Cà Mau - Cà Mau).

C.         Vùng Tây Nguyên


- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) vùng Tây Nguyên được tổng hợp tính toán cho thấy giá trị trung bình tháng trong sáu tháng đầu năm 2007 cao hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, có lẽ do biến đổi khí hậu, năm khô hạn, năm mưa nhiều làm biến đổi mực nước.

            - Tại các vùng khai thác với lưu lượng lớn như Buôn Ma Thuột, Kon Tum,... mực nước có xu hướng suy giảm. Mực nước sâu nhất cách mặt đất ở vùng Kon Tum tại công trình quan trắc C5o (hìình 5) là 33,19m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 32,99m cách mặt đất


Thành phần hoá học nước dưới đất: Độ tổng khoáng hoá trung bình mùa khô năm 2007 là 150mg/l, tăng 48mg/l so với trung bình cùng kỳ năm trước và so với trung bình nhiều năm.

Các yếu tố vi lượng trong nước dưới đất đều nằm trong giới hạn cho phép trừ Thuỷ ngân và Mangan. Hàm lượng Mangan cao nhất đạt 0,59mg/l ( công trình LK18T - TT. An Khê - Gia Lai), hàm lượng thuỷ ngân cao nhất đạt 0,003mg/l ( 32S - TX Kon Tum - Kon Tum).

Thông báo động thái nước dưới đất năm 2006

A.        Đồng bằng Bắc Bộ

1.         Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) hai tầng chứa nước Holocen và  Pleistocen (qp) năm 2006  có xu thế giảm dần so với trung bình nhiều namư và năm 2005. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất tầng qp tiếp tục giảm dần như Hà Nôi, Nam Định, Hải Phòng.

- Vùng Hà Nội:  mực nước sâu  nhất cách mặt đất tại lỗ khoan quan trắc P.41a ở trung tâm bãi giếng Hạ Đình là 35,12m,  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là 35,4m.

-  Vùng Hải Hậu-Nam Định: mực nước sâu nhất cách mặt đất  tại lỗ khoan quan trắc Q.109a  là 8,92m. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là  9,1m.

- Vùng Kiến An-Hải Phòng: Mực nước sâu nhất cách mặt đất  tại lỗ khoan quan trắc Q.167a  là 10,44m.  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007  là  10,64m.

-          Thành phần hoá học nước dưới đất: Tầng chứa nước qh nằm trên cùng, tiếp xúc với khí quyển nên chất lượng nước có sự khác biệt giữa hai mùa mưa và mùa khô. Các giá trị thường cao hơn và mùa khô và giảm đi vào mùa mưa do bị bốc hơi vào mùa khô và được làm loãng vào mùa mưa. Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tầng qp trung bình mùa khô năm 2006 là 990mg/l, mùa mưa là 646mg/l, trung bình năm là 826mg/l tăng giảm không đáng kể so với năm 2005. Các nguyên tố Mn, As, amoni có tỷ lệ mẫu vượt  tiêu chuẩn cho phép -TCCP (so với tiêu chuẩn TCVN 5502:2003 – Nước cấp sinh hoạt-Yêu cầu chất lượng)  lần lượt là 33-50%, 8-22%, 46-69% ; hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn, As, mùa khô và mùa mưa lần lượt là: 3,1mg/l (Q129b–TX Hưng Yên), 2,28mg/l (Q33a-Đông Anh –Hà Nội); 0,25mg/l (Q.88b-Phủ Lý -Hà Nam) và 0,47mg/l (Q58a-Hoài Đức-Hà Tây). Hàm lượng NH4+ cao nhất mùa khô và mùa mưa lần lượt là  54mg/l (Q58a-Hoài Đức-Hà Tây); 37,6mg/l (Q.88b – Phủ Lý -Hà Nam).  

 

B.        Đồng bằng Nam Bộ

- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) được tổng hợp thống kê trong bảng 4. Mực nước các tầng chứa nước Pleistocen trung-thượng (qp2), tầng chứa nước Pleistocen hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocen (N2), tầng chứa nước Miocen (N13) năm 2006 đều thấp hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu hướng giảm dần như TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau,…

- Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất tầng chứa nước Pliocen (N2) ở vùng Cà Mau tại lỗ khoan quan trắc Q17704T  là 16,1m, thấp hơn năm 2005 là 1,30m, giá trị này thường xuất hiện vào mùa hè khi nhu cầu dùng nước tăng cao. Dự báo tháng 6 năm 2006 mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 16,3m.

- Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại lỗ khoan quan trắc Q015030 là 26,34 thấp hơn năm 2005 là 0,05m. Dự báo tháng 6 năm 2006 mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 26,5m.

- Thành phần hoá học nước dưới đất:  Hầu hết các nguyên tố vi lượng trong các tầng chứa nước đều ở dưới mức chỉ tiêu cho phép trừ Mn và NH4+. Trong đó, tầng qp2-3 có 5/13 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất đạt 0,74mg/l (lỗ khoan Q031020-Thanh Bình - Đồng Tháp),  tầng qp1 có 2/9 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất đạt 0,74mg/l (lỗ khoan Q015030-Bình chánh- TP. HCM) tầng N2 3/17 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất là 1,31mg/l (lỗ khoan Q02204T -Thạnh hoá- Long An). Hàm lượng amoni cao nhất đạt 7,36mg/l (Lỗ khoan Q224020-Bến Cát - Bình Dương).

C.        Vùng Tây Nguyên

- Mực nước bình quân  Do đặc thù riêng của vùng Tây Nguyên, mực nước dưới đất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là khí tượng, sự biến động mực nước tuỳ theo lượng mưa của từng năm và sự phân bố lượng mưa trong các tháng. Có sự lệch pha của dao động mực nước dưới đất và lượng mưa.  Một số điểm mực nước có xu thế giảm dần như Ban lỗ khoan C5o ở ban Mê Thuột.

-          Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất ở vùng Ban Mê Thuột tại lỗ khoan quan trắc C5o  là 33,98m cách mặt đất, thấp hơn năm 2005 là 0,08m. Dự báo tháng 6 năm 2006 độ sâu mực nước có thể là 33,30m cách mặt đất.

- Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá trung bình của nước dưới đất mùa khô năm 2006 là 110mg/l, mùa mưa là 129mg/l, thay đổi không đáng kể so với giá trị tương ứng cùng kỳ năm 2005. Các nguyên tố vi lượng trong nước dưới đất đều chưa vượt quá chỉ tiêu cho phép trừ Hg và Mn. Hàm lượng Hg và Mn cao nhất lần lượt là 0,002mg/l (C4a- Buôn Hồ- Đắk Lắk) và 1,43mg/l ( LK18T- An Khê - Gia Lai).

Giới thiệu mạng lưới quan trắc Tài nguyên nước

Động thái nước dưới đất (NDĐ) là một quá trình tự nhiên phản ánh sự hình thành & đặc trưng cho sự biến đổi về trữ lượng, chất lượng NDĐ bao gồm: Mực nước, lưu lượng, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ, thành phần hoá học, khí, vi trùng... theo thời gian. Nghiên cứu động thái NDĐ nhằm mục đích xác định các nhân tố hình thành NDĐ, từ đó làm rõ được các quy luật biến đổi của chúng trong không gian & theo thời gian. Trên cơ sở đó xây dựng mô hình khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên NDĐ, quản lý sự biến đổi của chúng theo hướng cần thiết của con người.

Công tác quan trắc nghiên cứu động thái NDĐ ở nước ta được bắt đầu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm: Đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Công tác xây dựng mạng lưới được Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam tiến hành từ năm 1990 đến 1995 với kết quả như sau.

Đồng bằng Bắc Bộ: diện tích 17.000km2 nằm ở miền Bắc Việt Nam cấu tạo bởi các trầm tích Đệ tứ bở rời nằm trên các trầm tích Neogen gắn kết yếu và các đá cổ cố kết. Mạng lưới quan trắc gồm 77 trạm quan trắc khu vực, 3 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập cho nước dưới đất, 6 tuyến nghiên cứu quan hệ thuỷ lực giữa nước mặt và nước dưới đất với tổng số 202 công trình quan trắc.

Đồng bằng Nam Bộ: là đồng bằng châu thổ của hệ thống sông Mê Công và Đồng Nai, diện tích 57.000km2 nằm ở miền Nam Việt Nam cấu tạo bởi các trầm tích Đệ tứ và Neogen bở rời có chiều dày từ vài chục đến 500-600m, nằm trên các thành tạo cố kết Mezozoi -Paleozoi. Mạng lưới quan trắc gồm 101 trạm quan trắc khu vực, 3 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập với tổng số 224 công trình quan trắc.

Vùng Tây Nguyên: bao gồm cao nguyên trung phần nằm ở miền Trung, diện tích 55.000km2. Cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo phun trào bazan nằm xen kẽ với các đá cổ Mezozoi, paleozoi hoặc các khối xâm nhập cổ. Mạng lưới quan trắc gồm 132 trạm quan trắc khu vực, 4 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập với tổng số 210 công trình quan trắc.

Từ năm 1996 tiến hành quan trắc cố định liên tục các yếu tố động thái NDĐ. Các dữ liệu được cập nhật, tổng hợp thành lập cơ sở dữ liệu. Xuất bản các đặc trưng và niên giám, dự báo phục vụ các mục đích khác nhau của các nghành kinh tế quốc dân có liên quan đến NDĐ.

sdmlqt