Tue11212017

Last update02:00:00 PM GMT

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 7 năm 2016 vùng Nam Trung Bộ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có 3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và 2016, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo mực nước tháng 8 và tháng 9 năm 2016 cho tầng chứa nước chính là tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp).

Diễn biến tài nguyên nước dưới đất vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 

- Tầng chứa nước Holocen (qh): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với mực nước trung bình tháng 6: mực nước có giá trị dâng và hạ, với 9/22 công trình có mực nước hạ, 9/22 công trình có mực nước dâng, 4/22 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,26m tại xã Bình Minh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT12-QD), giá trị dâng cao nhất là 0,53m tại TT.Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

- Tầng chứa nước Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với mực nước trung bình tháng 6: mực nước có giá trị dâng và hạ, với 4/10 công trình có mực nước hạ, 4/10 công trình có xu thế dâng, 2/10 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,29m tại xã Tam Phú, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (QT11b-QD) và giá trị dâng cao nhất là 0,19m tại xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT14-QN).

- Chi tiết diễn biến và dự báo mực nước các tỉnh thành phố

Thành phố Đà Nẵng: Trong tháng 8 mực nước có xu thế hạ, đến tháng 9 mực nước có xu thế dâng.

Tỉnh Quảng Nam: Trong tháng 8 mực nước có xu thế hạ, đến tháng 9 mực nước có xu thế dâng

Tỉnh Quảng Ngãi: Trong tháng 8 mực nước có xu thế hạ, đến tháng 9 mực nước có xu thế dâng

NamtrungBoT7-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 7 năm 2016 vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 8, 9 năm 2016.

Tổng quan diễn biến mực nước

-Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6: mực nước có xu thế dâng chiếm ưu thế, có 24/31 công trình có mực nước dâng, 4/31 công trình có mực nước hạ và 3/31 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,18m tại TT.Đắk Tô-Đắk Tô- Kon Tum (LK135T) và giá trị hạ thấp nhất là 1,16m tại Ia Piar-Phú Thiện-Gia Lai (CR313) (xem hình 1). Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 9,72m tại Ninh Gia-Đức Trọng-Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,69m tại Tân Văn-Lâm Hà-Lâm Đồng (LK117T).

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng chiếm ưu thế so với mực nước thực đo tháng 7.

- Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6: mực nước có xu thế dâng chiếm ưu thế, có 20/27 công trình có mực nước dâng, 4/27 công trình có mực nước hạ và 3/27 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 3,06m tại Ea Nam-Ea H'leo-Đắk Lắk (LK29T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,30m tại Phú Hội-Đức Trọng-Lâm Đồng (LK113T).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 26,66m tại Chư Hrông- TP.Pleiku-Gia Lai (LK167T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 1,27m tại Biển Hồ- TP.Pleiku-Gia Lai (LK160T)

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 7

- Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6: mực nước có xu thế dâng, trong đó 66/69 công trình có mực nước dâng, 2/69 công trình có mực nước hạ và 1/69 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 6,17m tại Đắk Gằn-Đắk Min-Đắk Nông (LK41T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,26m tại Ia Dơk-Đức Cơ-Ga Lai (LK08T).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 126,18m tại P.2-TP.Bảo Lộc-Lâm Đồng (C10o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,16m tại Tâm Thắng- Cư Jut-Đắk Nông (LK45T).

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng chiếm ưu thế so với mực nước thực đo tháng 7

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6: mực nước có xu thế dâng chiếm ưu thế, có 13/21 công trình có mực nước dâng và 1/21 công trình có mực nước hạ và 7/21 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị giá trị dâng cao là 6,05m tại Vinh Quang-TP.Kon Tum-Kon Tum (LK140T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,16m tại Ia RSươn-Krông Pa-Gia Lai (LK31T).

Trong tháng 7: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 19,82m tại Đắk Năng- TP.Kon Tum-Kon Tum (LK131T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,54m tại Ea Kmút-Ea Kar-Đắk Lắk (LK52T)

 

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng chiếm ưu thế so với mực nước thực đo tháng 7

TayNguyenT7-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước được ghi chi tiết trong bảng 1, 2 và các hình 2, 3 và 4. Mực nước suy giảm lớn nhất so với cùng kỳ năm trước, 5 năm trước, 10 năm trước lần lượt là 3,52m; 4,64m và 4,16m; tại Phú Thiện-Gia Lai

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng chiếmưu thế so với mực nước thực đo tháng 7. Mực nước dâng cao từ 0,05mđến 0,5m chủ yếu tập trung ở Tp.Kon Tum-Kon Tum, Đắk Tô-Kon Tum, Phú Thiện-Gia Lai, Krông Pa-Gia Lai, Đức Trọng-Lâm Đồng và Lâm Hà-Lâm Đồng. Mực nước hạ thấp từ 0,5 đến 1,1m tập trung ở huyện Đăk Pơ-Gia Lai và Krông Nô-Đắk Nông.

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 6 năm 2016 vùng Bắc Bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 7 và tháng 8

- Tầng chứa nước Holocene (qh): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với trung bình tháng 6: nhìn chung mực nước có xu thế dâng cao trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,10m. Do thời gian này là giữa mùa mưa nên trong tháng 7 đã có tới 24/41công trình quan trắc có mực dâng cao phân bố chủ yếu phía bắc đồng bằng hoặc dọc các con sông lớn và 10 công trình có mực nước biến động không đáng kể. Khu vực có mực nước còn hạ thấp với 7/41 công trình quan trắc phân bố ở phía nam đồng bằng tới vùng ven biển.

Giá trị mực nước dâng cao nhất là 0,86m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67) và hạ thấp nhất là 0,20m tại xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội (Q.33). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,12m trên mặt đất tại phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội (Q.65) và sâu nhất là 10,34m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

Dự báo mực nước tháng 8: mực nước có xu thế dâng cao so với tháng 7 trừ một điểm ở Hà Nội

- Tầng chứa nước Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 7 so với giá trị trung bình tháng 6: nhìn chung mực nước xu thế biến động không đáng kể trên toàn đồng bằng. Do thời gian này là thời kỳ mùa mưa nên tầng chứa nước này có 30/64 công trình quan trắc có mực nước dâng cao thuộc các vùng ven sông lớn phía bắc, tây bắc đồng bằng và 14/64 công trình mực nước biến động không đáng kể. Vùng phía nam Hà Nội, và ven biển thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định có 20/64 công trình quan trắc có mực nước hạ thấp.

Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 1,18m tại xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội (Q.57a) và dâng cao nhất là 0,48m tại P. Đồng Tâm, TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.5). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,54m tại phường Lê Hồng Phong, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là 28,73m tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).

Dự báo mực nước tháng 8: mực nước có xu thế dâng cao chiếm ưu thế. Tuy nhiên tại các vùng trung tâm Hà Nội và các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc, mực nước một số nơi vẫn hạ thấp.

Bacbot6-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 6 năm 2016 vùng Bắc Trung Bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 7 và tháng 8 năm 2016.

- Tỉnh Thanh Hóa

+ Tầng chứa nước Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ thấp là chính so với trung bình tháng 5. Giá trị dâng hạ thấp nhất là 0,41m tại xã Đông Hải, TP. Thanh Hóa (QT8-TH).

Dự báo: Trong tháng 7 mực nước tại các công trình có xu thế dâng chiếm ưu thế trừ một công trình hạ thấp nhẹ là QT14-TH tại xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia (QT14-TH)

+ Tầng chứa nước Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ thấp so với trung bình tháng 5. Giá trị dâng hạ thấp nhất là 0,41m tại xã Đông Hải, TP. Thanh Hóa (QT8a-TH).

Dự báo: Trong tháng 7 mực nước tại các công trình có xu thế dâng chiếm ưu thế trừ một công trình hạ thấp nhẹ là QT5a-TH tại xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân (QT5a-TH).

- Tỉnh Hà Tĩnh

+ Tầng chứa nước Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ thấp và biến động không đáng kể so với trung bình tháng 5. Giá trị hạ thấp nhất là 0,43m tại Xã Thạch Kênh, huyện Thạch Hà (QT2-HT).

Dự báo: Trong tháng 7 mực nước tại các công trình có cả hai xu thế hạ thấp và dâng cao so với tháng trước, tháng 8 mực nước có xu thế dâng cao

+ Tầng chứa nước Pleistocene (qp) Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 6 có xu thế hạ thấp là chính so với trung bình tháng 5. Giá trị giá trị hạ thấp nhất là 0,63m tại xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê (QT4a-HK).

Dự báo: Trong tháng 7 và tháng 8 mực nước tại các công trình có xu thế hạ thấp so với tháng trước

Bactrungbot6-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 6 năm 2016 vùng Nam Bộ

Vùng Nam Bộ có 5 tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n22), tầng chứa nước Pliocene hạ (n21). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và năm 2016 diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 7 và 8 năm 2016.

- Tầng chứa nước Pleistocene thượng (qp3) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5 mực nước có xu thế dâng là chính, có 23/41 công trình mực nước dâng, 6/41 công trình mực nước hạ và 12/41 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,18m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902C) và giá trị dâng cao nhất là 1,10m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302CM1).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 11,40m tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q09902A). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,99m tại xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh (Q01302F).

Dự báo diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng là chính so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 1,00m đến 1,50m chủ yếu tập trung ở huyện Củ Chi - TP Hồ Chí Minh. Mực nước hạ thấp tập trung ở Dương Minh Châu - Tây Ninh.

- Tầng chứa nước Pleistocene trung-thượng (qp2-3)Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5 mựcnước có xu thế dâng là chính, có 17/27 công trình mực nước dâng, 4/27 công trìnhmực nước hạ và 4/27 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhấtlà 0,58m tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh (Q007030) và giá trịdâng cao nhất là 0,83m tại phường 7, TX Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (Q597030M1).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 41,87m tại phường Đông Hưng, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q019340). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 3,03m tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

Dự báo diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 1,00m đến 2,00m tập trung ở Bến Cầu, Châu Thành - Tây Ninh. Mực nước hạ thấp từ 0,10m đến 0,50m tập trung ở Tân Biên - Tây Ninh và Thạnh Hóa - Long An.

- Tầng chứa nước Pleistocene hạ (qp1) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5 mực nước có xu thế dâng là chính, có 10/19 công trình mực nước dâng, 3/19 công trình mực nước hạ và 6/19 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,08m tại xã Tân Long Hội, huyện Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long (Q21402ZM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,64m tại TT Trảng Bàng, huyện Trảng Bảng, tỉnh Tây Ninh (Q02304TM1).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 27,58m tại phường Tân Thời Hiệp, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q017030M1). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 3,06m tại xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Q040020).

Dự báo diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 0,50m đến 1,50m chủ yếu tập trung ở Củ Chi - TP Hồ Chí Minh, Trảng Bàng - Tây Ninh và Long Thành - Đồng Nai. Mực nước hạ thấp tập trung ở Bến Lục - Long An.

- Tầng chứa nước Pliocene trung (n22) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5 mực nước có xu thế dâng là chính, có 16/26 công trình mực nước dâng, 6/26 công trình mực nước hạ và 4/26 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,20m tại phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q011040) và giá trị dâng cao nhất là 1,68m tại xã Phước Hòa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (Q22504TM1).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 32,37m tại phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TP Hồ Chí Minh (Q011040). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 3,26m tại phường 1, TX Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (Q22104Z)

Dự báo diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng là chính so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 0,50m đến 1,00m chủ yếu tập trung ở Bến Cát, Tân Uyên - Bình Dương; Bình Chánh, Củ Chi – TP Hồ Chí Minh và Long Thành - Đồng Nai. Mực nước hạ thấp từ 0,10m đến 0,25m tập trung ở TP Sóc Trăng - Sóc Trăng và Thạnh Hóa, Thủ Thừa – Long An.

- Tầng chứa nước Pliocene hạ (n21) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5 mực nước có cả ba xu thế, có 9/24 công trình mực nước hạ, 7/24 công trình mực nước dâng và 8/24 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,33m tại xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (Q405050M1) và giá trị dâng cao nhất là 0,85m tại TT Tân Túc, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh (Q605060).

Dự báo diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng là chính so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 0,50m đến 0,10m tập trung ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh. Mực nước hạ thấp từ 0,10m đến 0,25m tập trung ở Thạnh Hóa - Long An ; Long Mỹ - Hậu Giang và Trà Cú – Trà Vinh

 

Nambot6-2016 

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 6 năm 2016 vùng Nam Trung Bộ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có 3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và 2016, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo mực nước tháng 7 và tháng 8 năm 2016 cho tầng chứa nước chính là tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp).

- Tầng chứa nước Holocen (qh) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với mực nước trung bình tháng 5: mực nước có xu thế hạ là chính, với 12/22 công trình có mực nước hạ, 8/22 công trình có mực nước dâng, 2/22 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,71m tại xã Bình Minh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT12-QD), giá trị dâng cao nhất là 0,53m tại xã Nghĩa Dõng, TP Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (QT5a-QN).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 8,12m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN), mực nước trung bình tháng nông nhất là 1,57m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT13a-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước tháng tiếp theo so với mực nước thực đo tháng 6 có xu thế hạ là chính. Mực nước hạ thấp từ 0,05 đến 0,5m tập trung chủ yếu ở TP. Tam Kỳ và huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với mực nước trung bình tháng 5: mực nước có xu thế hạ là chính, với 7/10 công trình có mực nước hạ, 2/10 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể, 1/10 công trình có xu thế dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,76m tại xã Tam Phước, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (QT17-QN) và giá trị dâng cao là 0,22m tại xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT14-QN).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 8,01m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9b-QN); mực nước trung bình tháng nông nhất là 1,64m tại xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT14-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nước tháng tiếp theo so với mực nước thực đo tháng 6 có xu thế hạ là chính. Mực nước hạ thấp nhất tập trung chủ yếu ở TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và các huyện Đức Phổ và Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

NamtrungBoT6-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 6 năm 2016 vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên gồm có 4 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trẻ đến già gồm: tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N).

Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 7, 8 năm 2016.

- Tầng chứa nước lỗ hổng bồi tích hiện đại (Q): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5: mực nước có xu thế dâng là chính, có 28/32 công trình có mực nước dâng, 4/32 công trình có mực dâng hạ không đáng kể và không có công trình nào có mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,24m tại Hà Tam-Đăk Pơ-Gia Lai (LK14T).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 9,81m tại Ninh Gia-Đức Trọng-Lâm Đồng (LK107aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,02m tại Ea Kly-Krông Păk-Đắk Lắk (LK51T).

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng là chính so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 0,5m đến 1,5m chủ yếu tập trung ở Tp.Kon Tum-Kon Tum, Đắk Tô-Kon Tum, Phú Thiện-Gia Lai, Đăk Pơ-Gia Lai và Krông Nô-Đắk Nông. Mực nước hạ thấp tập trung ở huyện Phú Thiện và Krông Pa tỉnh Gia Lai và huyện Đức Trọng và Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng .

- Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa (βQII) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5: mực nước có xu thế dâng là chính, có 20/27 công trình có mực nước dâng, 6/27 công trình có mực nước hạ và 1/27 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể.

Giá trị dâng cao nhất là 3,35m tại Ea Nam-Ea H'leo-Đắk Lắk (LK29T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,55m tại Chư Hrông-TP.Pleiku-Gia Lai (LK167T).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 26,82m tại Chư Hrông- TP.Pleiku-Gia Lai (LK167T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 2,67m tại Phú Hội-Đức Trọng-Lâm Đồng (LK113T).

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 3,5m đến 5,0m tập trung ở TP.Pleiku-Gia Lai.

- Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới (βN2-QI): Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5: mực nước có xu thế dâng chiếm ưu thế, trong đó có 61/69 công trình có mực nước dâng, 4/69 công trình có mực nước hạ và 4/69 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 6,13m tại Đắk Gằn-Đắk Min-Đắk Nông (LK41T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,80m tại Ia Dơk-Đức Cơ-Ga Lai (LK08T).

Trong tháng 6: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 126,20m tại P.2-TP.Bảo Lộc-Lâm Đồng (C10o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,49m tại Tâm Thắng-Cư Jut-Đắk Nông (LK45T).

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng là chính so với mực nước thực đo tháng 6. Mực nước dâng cao từ 3,0m đến 4,5m chủ yếu tập trung ở Đức Cơ-Gia Lai, Chư Prông-Gia Lai, Chư Sê-Gia Lai, Krông Pắk-Đắk Lắk, và Bảo Lâm-Lâm Đồng. Mực nước hạ thấp từ tập trung ở Tp.Kon Tum- Kon Tum, Buôn Ma Thuật- Đắk Lắk và Bảo Lâm-Lâm Đồng.

- Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (N) Diễn biến mực nước dưới đất tháng 6 so với giá trị trung bình tháng 5: mực nước có xu thế dâng chiếm ưu thế, có 14/21 công trình có mực nước dâng và 2/21 công trình có mực nước hạ và 5/21 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể.

Dự báo: diễn biến mực nước dưới đất tháng tiếp theo có xu hướng dâng là chính so với mực nước thực đo tháng 6 (xem hình 20). Mực nước dâng cao từ 2,0m đến 4,5m chủ yếu tập trung ở TP.Kon Tum-Kon Tum và Đắk Tô-Kon Tum. Mực nước hạ thấp chủ yếu tập trung ở TP.Kon Tum-Kon Tum, Đắk Hà-Kon Tum, Krông Pa-Gia Lai và EAKAR-Đắk Lắk .

TayNguyenT6-2016

Kết quả được thể hiện chi tiết: Tại đây

THÔNG BÁO TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT THÁNG 5 NĂM 2016 VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được bố trí như sau:

- Trạm An Thạnh (tọa độ địa lý: 12º10' vĩ độ Bắc 108º07' kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Kỳ Lộ, thuộc thôn Phú Mỹ, xã An Dân, huyện TuyAn, tỉnh Phú Yên; thuộc lưu vực sông Kỳ Lộ, diện tích lưu vực khống chế là 1180 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

Chế độ nước sông Kỳ Lô ̣được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8, mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12. Lũ thường xuất hiện dạng lũ đơn, cường suất trung bình.

- Trạm Ya Yun Hạ (tọa độ địa lý: 13o42' vĩ độ Bắc, 108o10' kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 1.150 km2; được quan trắc từ tháng 1 năm 2012.

Chế độ nước sông YaYun được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa cạn từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10. Lũ thường xuất hiện thất thường do chiụ ảnh hưở ng củ a thủy điện HMun taị đầu nguồn cách trạm 12km đổ về, dạng lũ đơn, cường suất lớn, thời gian lũ ngắn.

- Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12º10' vĩ độ Bắc 108º07' kinh độ Đông)nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

Chế độ nước sông Ea Krông Nô được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa cạn từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, dòng chảy ổn định, mực nước trong sông đôi khi biến đổi đột ngột là do chế độ xả nước của đập thủy điện Krông Nô 2 & Krông Nô 3 trên thượng nguồn cách trạm khoảng 45km và thủy điện Buôn tua Srah ở phía hạ lưu cách trạm khoảng 20km.

- Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 110 43' vĩ độ Bắc, 1080 22' kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011;

Chế độ nước sông Đa Nhim được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa cạn từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, dạng lũ đơn, cường suất lớn, thời gian lũ ngắn.

- Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034' vĩ độ Bắc, 107021' kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 2 năm 2012.

Chế độ nước sông Đồng Nai được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa cạn từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, dạng lũ đơn, cường suất lớn, thời gian lũ ngắn.

Btint5-2015ntb-tn

Xem Chi Tiết: Tại Đây