Tue11212017

Last update02:00:00 PM GMT

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 9 năm 2016 vùng duyên hải Nam trung bộ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có 3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và 2016, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo mực nước tháng 10 và tháng 11 năm 2016 cho tầng chứa nước chính là tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp). Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Diễn biến tài nguyên nước dưới đất vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 

I.1. Tầng chứa nước Holocen (qh) 

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 9 so với mực nước trung bình tháng 8: mực nước có xu thế dâng, với 22/22 công trình có mực nước dâng. Giá trị dâng cao nhất là 1,54m tại xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (QT5a-QD)

Trong tháng 9: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 8,38m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN), mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,94m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT13a-QD).

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 9 so với cùng thời điểm 1 năm trước được thể hiện chi tiết trong bảng 1, 2 và hình 3.

QT10

Mực nước TB tháng cực trị qua các thời kỳ (m)

Thời gian

Mực nước TB tháng sâu nhất

Mực nước TB tháng nông nhất

Giá trị (m)

Địa điểm

Giá trị (m)

Địa điểm

Tháng 9

8,38

xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN)

0,94

TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD)

1 năm trước (2015)

8,64

xã Phổ An, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi (QT9a-QN)

0,96

TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam (QT13a-QD)

Diễn biến mực nước TB tháng 9/2016 so với cùng thời điểm năm trước (m)

Thời gian

Xu thế  chính

Giá trị hạ thấp nhất

Giá trị dâng cao nhất

Giá trị (m)

Địa điểm

Giá trị (m)

Địa điểm

1 năm trước (2015)

Dâng

0,08

Phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà , TP. Đà Nẵng (QT1-QD)

0,97

xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi (QT6a-QN)


Dự báo: Diễn biến mực nuớc tháng tiếp theo so với mực nuớc thực do tháng 9 có xu thế dâng. Mực nuớc dâng cao từ 2,0m dến 2,5m tập trung ở khu vực huyện Ðại Lộc tỉnh Quảng Nam.

I.2. Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)  

Diễn biến mực nuớc duới dất tháng 9 so với mực nuớc trung bình tháng 8: mựcnuớc có xu thế dâng, với 10/10 công trình có mực nuớc dâng. Giá trị dâng cao nhất là0,99m tại xã Bình Phục, huyện Thang Bình, tỉnh Quảng Nam (QT13a-QD).  Trong tháng 9: mực nuớc trung bình tháng sâu nhất là 8,30m tại xã Phổ An, huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9b-QN); mực nuớc trung bình tháng nông nhất là 0,90m tại xã Bình Quý, huyện Thang Bình, tỉnh Quảng Nam (QT14-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nuớc tháng tiếp theo so với mực nuớc thực do tháng 9 có xu thế dâng. Mực nuớc dâng cao từ 0,50m dến 1,00m tập trung ởTP. Tam Kỳ và huyện Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam




Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 9 năm 2016 vùng Bắc trung bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 10 và tháng 11 năm 2016. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tỉnh Thanh Hóa 

1. Tầng chứa nước Holocene (qh) 

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 9 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 8. Giá trị dâng cao nhất là 0,45m tại xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia (QT14-TH).

QT9

Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 9 năm 2016 tầng qh

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 9 năm 2016 và so với cùng thời điểm 1 năm trước và 5 năm trước được thể hiện chi tiết trong bảng 1, 2 và hình 2,3.

Bảng 1. Mực nước TB tháng cực trị cùng thời điểm năm trước và 5 năm trước

Thời gian

Mực nước TB tháng sâu nhất

Mực nước TB tháng nông nhất

Giá trị (m)

Địa điểm

Giá trị (m)

Địa điểm

Tháng 9/2016

7,84

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,72

Xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc (QT3-TH)

 

Dự báo: Trong tháng 10 mực nuớc tại các công trình có xu thế hạ thấp chiếm uu thế.

Cảnh báo: không có cảnh báo.  

2.  Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nuớc trung bình tháng 9 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 8. Giá trị dâng cao nhất là 0,48m tại Xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa (QT2a-TH).

Dự báo: Trong tháng 10 mực nuớc tại các công trình có xu thế dâng cao nhẹ và biến dộng không dáng kể chiếm uu thế

II. Tỉnh Hà Tinh  

1. Tầng chứa nuớc Holocene (qh)

Trong phạm vi tỉnh, mực nuớc trung bình tháng 9 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 8. Giá trị dâng cao nhất là 1,16m tại xã Thạch Ðỉnh, huyện Thạch  Hà(QT7-HT).

Dự báo: Trong tháng 10 mực nuớc tại các công trình có xu thế dâng cao so với tháng truớc

Cảnh báo: không có cảnh báo.

2. Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nuớc trung bình tháng 9 có xu thế dâng cao là chính so với trung bình tháng 8. Giá trị giá trị dâng cao nhất là 3,13m xã Huong Thủy, huyện Huong Khê (QT2a-HK).

Dự báo: Trong tháng 10 mực nuớc tại các công trình có cả hai xu thế dâng cao và hạ thấp so với tháng truớc

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 9 năm 2016 vùng Bắc Bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 10 và tháng 11. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước 

I.1. Tầng chứa nước Holocene (qh) 

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 9 so với trung bình tháng 8: nhìn chung mực nước có xu thế hạ thấp trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,11m. Do thời gian này là cuối mùa mưa nên trong tháng 9 đã có tới 24/41 công trình quan trắc có mực nước hạ thấp, phân bố hầu hết trên đồng bằng và 9 công trình có mực nước biến động không đáng kể. Chỉ có 8/41 công trình quan trắc mực nước dâng cao nằm ở các tỉnh Hà Nôi, Quảng Ninh và khu vực nam đồng bằng. Giá trị mực nước dâng cao nhất là 1,11m tại xã Thọ an, huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội (Q.56) và hạ thấp nhất là 1,78m tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc (Q.10M1).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,17m trên mặt đất tại phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội (Q.65) và sâu nhất là 9.63m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

QT8

Dự báo mực nuớc tháng 10: mực nuớc có xu thế hạ thấp trên toàn dồng bằng, tuy nhiên một số diểm phía tây nam Hà Nội, Nam Ðịnh, mực nuớc có xu thế biến dộng không dáng kể hoặc dâng chút ít  

Tầng chứa nước Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 9 so với giá trị trung bình tháng 8: nhìn chung mực nước có xu thế hạ thấp không đáng kể trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,05m. Do thời gian này là cuối mùa mưa nên tầng chứa nước này có 22/64 công trình quan trắc có mực nước dâng cao thuộc các vùng ven biển, phía nam đồng bằng và 15/64 công trình mực nước biến động không đáng kể. Vùng phía bắc đồng bằng, và TP. Hà Nội có 27/64 công trình quan trắc có mực nước hạ thấp. Giá trị mực nước hạ thấp nhất là 1,67m tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1aM1) và dâng cao nhất là 1,27m tại xã Thọ An, huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội (Q.217).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,57m tại phường Lê Hồng Phong, TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là 28,84m tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).

Dự báo mực nuớc tháng 10: mực nuớc có xu thế hạ thấp ở phần lớn phần trung tâm lên phía bắc dồng bằng. Tuy nhiên tại các vùng xa các sông lớn và ven biển, mực nuớc có xu thế biến dộng ít hoặc dâng cao

 


Thông báo tài nguyên nước mặt 09/2016 vùng Duyên hải Nam trung bộ và Tây nguyên

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2204/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 6 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2007-2010”.  Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được bố trí như sau:

Trạm Ya Yun Hạ (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 1.150 km2; được quan trắc từ tháng 1 năm 2012.

Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011;

Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034’ vĩ độ Bắc, 107021’ kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 2 năm 2012.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Tài nguyên nước sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh

Chế độ nước sông Yên Thuận biến đổi theo mùa; mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8, mùa lũ từ tháng 9 đến hết tháng 12.

Theo liệt số liệu quan trắc (từ năm 2012 - 2016) cho thấy trong mùa cạn, vị trí tuyến quan trắc bị ảnh hưởng bởi nước dềnh của hồ Phú Ninh, do đó không thông báo kết quả quan trắc H, Q và ; chỉ thông báo kết quả quan trắc chất lượng nước sông Yên Thuận.

Kết quả quan trắc chất lượng nước tháng 9 năm 2016 được tổng hợp, đánh giá như sau:

Theo kết quả quan trắc chất lượng nước tại trạm Phú Ninh trong tháng 9 năm 2016 cho thấy các chỉ tiêu đều nằm trong giá trị giới hạn cho phép (theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT).

QT7

1.2. Hiện trạng trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt khu vực Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt duợc xây dựng theo Quyết dịnh số 2204/QÐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi truờng về việc phê duyệt dự án dầu tu xây dựng công trình “Xây dựng mới 6 trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt khu vực Tây Nguyên giai doạn 2007-2010”.  Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt dộ nuớc, mực nuớc, luu luợng, hàm luợng chất lo lửng và chất luợng nuớc.

Các trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt duợc bố trí nhu sau:

- Trạm Ya Yun Hạ (tọa dộ dịa lý: 13o42’ vi dộ Bắc, 108o10’ kinh dộ Ðông) 

nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chu Sê tỉnh Gia Lai; thuộc luu vực sông Ba, diện tích luu vực khống chế là 1.150 km2; duợc quan trắc từ tháng 1 nam 2012.

- Trạm Ðức Xuyên (tọa dộ dịa lý: 12º10’ vi dộ Bắc 108º07’ kinh dộ Ðông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Ðắk Lắk; thuộc luu vực sông Srê Pốk, diện tích luu vực khống chế là 980 km; duợc quan trắc từ tháng 4 nam 2011;

- Trạm Ðại Ninh (tọa dộ dịa lý: 11043’ vi dộ Bắc, 108022’ kinh dộ Ðông) duợc xây dựng ở bờ phải sông Ða Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Ðức Trọng tỉnh Lâm Ðồng; thuộc luu vực sông Ðồng Nai, diện tích luu vực khống chế là 1.380 km2 ; duợc quan trắc từ tháng 7 nam 2011;

- Trạm Cát Tiên (tọa dộ dịa lý: 11034’ vi dộ Bắc, 107021’ kinh dộ Ðông) nằm trên bờ trái sông Ðồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Ðồng; thuộc luu vực sông Ðồng Nai, diện tích luu vực khống chế là 1.980 km ; duợc quan trắc từ tháng 2 nam 2012

 



Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng duyên hải Nam trung bộ

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hiện có 41 công trình quan trắc, trong vùng có 3 tầng chứa nước lỗ hổng và 2 tầng chứa nước khe nứt tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2015 và 2016, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo mực nước tháng 9 và tháng 10 năm 2016 cho tầng chứa nước chính là tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp). Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Diễn biến tài nguyên nước dưới đất vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

I.1. Tầng chứa nước Holocen (qh)

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 so với mực nước trung bình tháng 7: nhìn chung mực nước có xu thế hạ là chính, với 14/22 công trình có mực nước hạ, 2/22 công trình có mực nước dâng, 6/22 công trình có mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,36m tại xã Bình Minh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (QT3b-QN), giá trị dâng cao nhất là 0,40m tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (QT6a-QN)

Trong tháng 8: mực nước trung bình tháng sâu nhất là 8,59m tại xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9a-QN), mực nước trung bình tháng nông nhất là 1,02m tại TT. Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (QT13a-QD).

QT4

Dự báo: Diễn biến mực nuớc tháng tiếp theo so với mực nuớc thực do tháng 8

có xu thế dâng. Mực nuớc dâng cao từ 0,50m dến 1,00m tập trung chủ yếu ở TP. Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam và huyện Bình Son - tỉnh Quảng Ngãi

I.2. Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)  

Diễn biến mực nuớc duới dất tháng 8 so với mực nuớc trung bình tháng 7: dang trong thời kỳ chuyển dần sang mùa mua nên xu thế không rõ ràng, với 6/10 công trình có mực nuớc hạ, 6/10 công trình có xu thế dâng, 2/10 công trình có mực nuớc dâng hạ không dáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,41m tại xã Phổ An, huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9b-QN) và giá trị dâng cao nhất là 0,31m tại xã Ðiện Phong, huyện  Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam (QT8b-QD).

Trong tháng 8: mực nuớc trung bình tháng sâu nhất là 8,70m tại xã Phổ An, huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (QT9b-QN); mực nuớc trung bình tháng nông nhất là 1,53m tại xã Bình Quý, huyện Thang Bình, tỉnh Quảng Nam (QT14-QD).

Dự báo: Diễn biến mực nuớc tháng tiếp theo so với mực nuớc thực do tháng 8 có xu thế dâng. Mực nuớc dâng cao từ 0,50m dến 1,00m tập trung ở huyện Thang Bình, tỉnh Quảng Nam

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng Bắc trung bộ

Vùng Bắc Trung Bộ, hiện có các công trình quan trắc ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Các tầng chứa nước chính theo thứ tự từ trên xuống gồm tầng chứa nước lỗ hổng Holocene (qh) và Pleistocene (qp). Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích và đánh giá để dự báo cho tháng 9 và tháng 10 năm 2016. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tỉnh Thanh Hóa 

1. Tầng chứa nước Holocene (qh) 

Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 8 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 7. Giá trị dâng cao nhất là 0,31m tại xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc (QT3-TH).

QT3

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 8 năm 2016 và so với cùng thời điểm 1 năm trước và 5 năm trước được thể hiện chi tiết trong bảng 1, 2 và hình 2,3.

Bảng 1. Mực nước TB tháng cực trị cùng thời điểm năm trước và 5 năm trước

Thời gian

Mực nước TB tháng sâu nhất

Mực nước TB tháng nông nhất

Giá trị (m)

Địa điểm

Giá trị (m)

Địa điểm

Tháng 8/2016

8,11

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,81

Xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc (QT3-TH)

1 năm trước (8/2015)

8,05

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,77

Xã Trung Chính, huyện Nông Cống (QT11-TH)

5 năm trước (8/2011)

6,70

Xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân (QT4-TH)

0,76

Xã Trung Chính, huyện Nông Cống (QT11-TH)

Dự báo: Trong tháng 9 mực nuớc tại các công trình có xu thế dâng chiếm uu thế trừ một công trình hạ thấp nhẹ là QT2-TH tại xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa

Cảnh báo: không có cảnh báo.

2.  Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)

Trong phạm vi tỉnh, mực nuớc trung bình tháng 8 có xu thế dâng cao so với trung bình tháng 7. Giá trị dâng cao nhất là 0,30m tại xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân (QT5a-TH).

Dự báo: Trong tháng 9 mực nuớc tại các công trình có xu thế dâng chiếm uu thế trừ.

Cảnh báo: không có cảnh báo

 

Thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 8 năm 2016 vùng đồng bằng Bắc bộ

Các trầm tích đệ tứ vùng đồng bằng Bắc Bộ được phân chia thành 2 tầng chứa nước chính. Theo thứ tự từ trên xuống, tầng chứa nước Holocene nằm ở phía trên và tầng Pleistocene nằm ở phía dưới. Trên cơ sở kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất, diễn biến tài nguyên nước dưới đất được phân tích, đánh giá để dự báo cho tháng 9 và tháng 10. Kết quả được thể hiện chi tiết như sau:

I. Tổng quan diễn biến mực nước 

I.1. Tầng chứa nước Holocene (qh) 

Diễn biến mực nước dưới đất tháng 8 so với trung bình tháng 7: nhìn chung mực nước có xu thế dâng cao trên toàn đồng bằng với giá trị trung bình là 0,47m. Do thời gian này là giữa mùa mưa nên trong tháng 8 đã có tới 35/41 công trình quan trắc có mực dâng cao, phân bố hầu hết trên đồng bằng5 công trình có mực nước biến động không đáng kể. Chỉ có 1/41 công trình quan trắc mực nước hạ thấp nằm ở tỉnh Hà Nam. Giá trị mực nước dâng cao nhất là 1,58m tại Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc (Q.10M1) và hạ thấp nhất là 0,14m tại xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, Tỉnh Hà Nam (Q.87).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,36m trên mặt đất tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (Q.1) và sâu nhất là 10,14m tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội (Q.67).

QT2

Dự báo mực nuớc tháng 9: mực nuớc có xu thế dâng cao so với tháng 8

I.2. Tầng chứa nuớc Pleistocene (qp)

Diễn biến mực nuớc duới dất tháng 8 so với giá trị trung bình tháng 7: nhìn chung mực nuớc có xu thế dâng cao trên toàn dồng bằng với giá trị trung bình là 0,43m. Do thời gian này là thời kỳ mùa mua nên tầng chứa nuớc này có 53/64 côngtrình quan trắc có mực nuớc dâng cao thuộc các vùng ven sông lớn phía bắc, tây bắcdồng bằng và 6/64 công trình mực nuớc biến dộng không dáng kể. Vùng phía nam Hà

Nội, và ven biển thuộc tỉnh Thái Bình có 5/64 công trình quan trắc có mực nuớc hạthấp. Giá trị mực nuớc hạ thấp nhất là 2,42m tại phuờng Phú Lãm, quận Hà Ðông, TPHà Nội (Q.69a) và dâng cao nhất là 1,97m tại P. Ðồng Tâm, TP. Vinh Yên, tỉnh VinhPhúc (Q.5).

Mực nuớc trung bình tháng nông nhất là 0,53m tại phuờng Lê Hồng Phong, TP.Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Q.82a) và sâu nhất là 28,69m tại phuờng Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội (Q.63aM).


Dự báo mực nuớc tháng 9: mực nuớc có xu thế dâng cao. Tuy nhiên tại các

vùng khai thác nuớc tập trung, lớn nhu trung tâm Hà Nội và TP. Vinh Yên, mực nuớc một có xu thế hạ thấp


Thông báo tài nguyên nước mặt 08/2016 vùng Duyên hải Nam trung bộ và Tây nguyên

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được xây dựng theo Quyết định số 2204/QĐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Xây dựng mới 6 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2007-2010”. Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước.

Các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt được bố trí như sau:

Trạm Ya Yun Hạ (tọa độ địa lý: 13o42’ vĩ độ Bắc, 108o10’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai; thuộc lưu vực sông Ba, diện tích lưu vực khống chế là 1.150 km2; được quan trắc từ tháng 1 năm 2012.

Trạm Đức Xuyên (tọa độ địa lý: 12º10’ vĩ độ Bắc 108º07’ kinh độ Đông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Đắk Lắk; thuộc lưu vực sông Srê Pốk, diện tích lưu vực khống chế là 980 km2; được quan trắc từ tháng 4 năm 2011;

Trạm Đại Ninh (tọa độ địa lý: 110 43’ vĩ độ Bắc, 1080 22’ kinh độ Đông) được xây dựng ở bờ phải sông Đa Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.380 km2; được quan trắc từ tháng 7 năm 2011;

Trạm Cát Tiên (tọa độ địa lý: 11034’ vĩ độ Bắc, 107021’ kinh độ Đông) nằm trên bờ trái sông Đồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng; thuộc lưu vực sông Đồng Nai, diện tích lưu vực khống chế là 1.980 km2; được quan trắc từ tháng 2 năm 2012.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 

Tài nguyên nước sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh

Chế độ nước sông Yên Thuận biến đổi theo mùa; mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8, mùa lũ từ tháng 9 đến hết tháng 12.

Theo liệt số liệu quan trắc (từ năm 2012 - 2016) cho thấy trong mùa cạn, vị trí tuyến quan trắc bị ảnh hưởng bởi nước dềnh của hồ Phú Ninh, do đó không thông báo kết quả quan trắc H, Q và ; chỉ thông báo kết quả quan trắc chất lượng nước sông Yên Thuận.

Kết quả quan trắc chất lượng nước tháng 8 năm 2016 được tổng hợp, đánh giá như sau:

QT1

Theo kết quả quan trắc chất lượng nước tại trạm Phú Ninh trong tháng 8 năm 2016 cho thấy các chỉ tiêu đều nằm trong giá trị giới hạn cho phép (theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT).

Kết quả tính toán chất lượng nước sông theo chỉ số WQI cho thấy: trong tháng 8 năm 2016, chất lượng nước sông Yên Thuận tại trạm Phú Ninh sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Hiện trạng trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt khu vực Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên hiện có 04 trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt duợc xây dựng theo Quyết dịnh số 2204/QÐ-BTNMT ngày 31/10/2008 của Bộ Tài nguyên vàMôi truờng về việc phê duyệt dự án dầu tu xây dựng công trình “Xây dựng mới 6 trạmquan trắc tài nguyên nuớc mặt khu vực Tây Nguyên giai doạn 2007-2010”.  Các yếu tốquan trắc chủ yếu là nhiệt dộ nuớc, mực nuớc, luu luợng, hàm luợng chất lo lửng vàchất luợng nuớc.

Các trạm quan trắc tài nguyên nuớc mặt duợc bố trí nhu sau:

- Trạm Ya Yun Hạ (tọa dộ dịa lý: 13o42’ vi dộ Bắc, 108o10’ kinh dộ Ðông)nằm trên bờ phải sông YaYun, thuộc làng Chép xã AYun huyện Chu Sê tỉnh Gia Lai;thuộc luu vực sông Ba, diện tích luu vực khống chế là 1.150 km2; duợc quan trắc từ tháng 1 nam 2012.

- Trạm Ðức Xuyên (tọa dộ dịa lý: 12º10’ vi dộ Bắc 108º07’ kinh dộ Ðông) nằm trên bờ phải sông KrôngNô, thuộc buôn PhiDihJa B xã KrôngNô huyện Lắk tỉnh Ðắk Lắk; thuộc luu vực sông Srê Pốk, diện tích luu vực khống chế là 980 km; duợc quantrắc từ tháng 4 nam 2011;

- Trạm Ðại Ninh (tọa dộ dịa lý: 110 43’ vi dộ Bắc, 108022’ kinh dộ Ðông)duợc xây dựng ở bờ phải sông Ða Nhim, thuộc thôn Phú Hòa xã Phú Hội huyện Ðức Trọng tỉnh Lâm Ðồng; thuộc luu vực sông Ðồng Nai, diện tích luu vực khống chế l1.380 km2; duợc quan trắc từ tháng 7 nam 2011;

- Trạm Cát Tiên (tọa dộ dịa lý: 11034’ vi dộ Bắc, 107021’ kinh dộ Ðông) nằm trên bờ trái sông Ðồng Nai, thuộc thôn I xã Phù Mỹ huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Ðồng; thuộc luu vực sông Ðồng Nai, diện tích luu vực khống chế là 1.980 km; duợc quan trắc từ tháng 2 nam 2012