Wed08152018

Last update06:57:12 AM GMT

Công trình dự án

LVS Hồng – Thái Bình: Các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra P2

LTS: Trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa và đánh giá nguồn tài liệu thu thập được khi xây dựng và thực hiện dự án Quy hoạch LVS Hồng – Thái Bình, nhóm tác giả thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ ra các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra như sau:

LVS Hồng – Thái Bình: Các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra P1

Trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa và đánh giá nguồn tài liệu thu thập được khi xây dựng và thực hiện dự án Quy hoạch LVS Hồng – Thái Bình, nhóm tác giả thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ ra các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra như sau:

Công tác khoan ĐCTV được thực hiện như thế nào ở dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long

+ Phương pháp khoan: Dự án chọn phương pháp khoan xoay lấy mẫu lõi và khoan doa mở rộng đường kính để kết cấu lỗ khoan. (Đối với cụm lỗ khoan, chỉ lấy mẫu lõi khoan ở lỗ khoan trung tâm các lỗ khoan còn lại trong cụm khoan phá mẫu)

Bảo vệ tài nguyên nước khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình: Những vấn đề cấp bách

Đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình chiếm một diện tích lưu vực lớn trong toàn bộ LVS Hồng – Thái Bình thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đây cũng là một trong những vùng phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về tài nguyên nước như chất lượng nguồn nước, sự xâm nhập mặn, ô nhiễm do sinh hoạt và sản xuất... Đây cũng được xem và vùng có nhu cầu sử dụng và phân bổ nguồn nước lớn nhất trên toàn bộ lưu vực.

Những vấn đề gặp phải khi thực hiện dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long

Dự án được thực hiện bao gồm thành phố Cần Thơ và 3 tỉnh: Kiên Giang, An Giang, Cà Mau. Chiếm phần lớn diện tích bán đảo Cà Mau. Quá trình thực hiện, dự án sẽ đối mặt với các vấn đề sau:

Cần có chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình.

LVS Hồng - Thái Bình được giới hạn từ 20023’ đến 25030’ vĩ độ Bắc và từ 1000 đến 107010’ kinh độ Đông: Phía Bắc giáp LVS Kim Sa của Trung Quốc; Phía Tây giáp LVS Mê-kông; Phía Nam giáp LVS Mã; Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ. Phần LVS Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý từ: 20023’ đến 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’ kinh độ Tây. Lưu vực hệ thống sông Thái Bình nằm trọn trong lãnh thổ nước ta.

Các phương pháp đánh giá trữ lượng nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long

Phương pháp đánh giá trữ lượng tiềm năng

Sự suy thoái, ô nhiễm nguồn nước dưới đất trên LVS Hồng – Thái Bình

Mạng lưới quan trắc quốc gia và kiểm soát nước dưới đất ở đồng bằng Bắc Bộ được thiết lập từ năm 1990 và hoàn thiện cơ bản năm 1995 trên diện tích 17.000 km2. Hiện nay có 77 trạm với 140 công trình quan trắc (mỗi trạm có từ 1 đến 3 công trình); 06 tuyến với 49 công trình quan trắc nghiên cứu quan hệ thủy lực giữa nước mặt và NDĐ (sông Hồng, sông Thái Bình và biển); 03 sân cân bằng; 10 trạm quan trắc nước mặt. Tầng chứa nước trong trầm tích Đệ tứ có 133 công trình và tầng chứa nước trước Đệ tứ có 7 công trình. Các công trình quan trắc được phân bố trên địa bàn của 12 tỉnh gồm: Vĩnh Phúc, Hà Tây - Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương và đạt mật độ 80 km2/công trình quan trắc. Trong vùng đồng bằng Bắc bộ, thành phố Hà Nội là nơi đã đầu tư xây dựng mạng lưới chuyên quan trắc động thái NDĐ gồm 67 trạm với 117 công trình. Trong đó, tầng chứa nước Holocen có 47 công trình; tầng chứa nước Pleistocen có 62 công trình; tầng chứa nước Neogen có 3 công trình và nước mặt có 5 công trình.