Thu12132018

Last update05:56:55 AM GMT

Công trình dự án

Nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu ứng dụng mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN) trong tính toán lực chọn phương án bảo vệ tài nguyên nước mặt; thử nghiệm cho lưu vực sông Cầu”

20_09_tc_Thuan

Chiều ngày 20/9/2016, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu ứng dụng mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN) trong tính toán lực chọn phương án bảo vệ tài nguyên nước mặt; thử nghiệm cho lưu vực sông Cầu” do ThS. Luyện Đức Thuận - Trưởng phòng Quy hoạch TNN, Liên đoàn quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Bắc làm chủ nhiệm đề tài.

Ứng dụng công nghệ mã nguồn mở trong phát triển các công cụ, hệ thống hỗ trợ quản lý nhà nước ngành tài nguyên môi trường - tài nguyên nước

Ngày nay,lĩnh vực công nghệ mã nguồn mở đang là hướng phát triển mới trong việc xây dựng các công cụ, hệ thống hỗ trợ quản lý nhà nước ngành tài nguyên môi trường - tài nguyên nước. Phần mềm mã nguồn mở là phần mềm mà mã nguồn được sử dụng để tạo chương trình là miễn phí, và mọi người đều có thể xem, chỉnh sửa và tái phân phối. Bất kỳ loại phần mềm hoặc chương trình nào chũng ta cũng đều có thể mở mã nguồn, bao gồm các hệ điều hành (vd: Linux), cơ sở dữ liệu (vd: PostgreSQL), hay các ứng dụng, các trò chơi điện tử.v.v..

SP3

Những lợi ích khi ứng dụng công nghệ mã nguồn mở trong phát triển các công cụ, hệ thống hỗ trợ quản lý nhà nước ngành tài nguyên môi trường - tài nguyên nước là : PMNM miễn phí về bản quyền và nếu có chi phí thì cũng chỉ là chi phí cho đóng gói sản phẩm và dịch vụ cho sản phẩm. Vì vậy, chi phí rất thấp so với các phần mềm thương mại; PMNM không bị lệ thuộc vào bất kỳ một nhà cung cấp nào; Sự sẵn sàng của phần mềm nguồn mở và việc có quyền thay đổi chúng cũng là một yếu tố quan trọng; Tính thích ứng và sáng tạo: Thực tế đã cho thấy rất ít chương trình có thể tồn tại không cần thay đổi, nâng cấp trong một thời gian dài. Vì thế, khả năng cho phép lập trình viên xác định và sửa các lỗi cũng như thích ứng phần mềm với các yêu cầu mới phát sinh là một vấn đề rất quan trọng; Chất lượng tin cậy;- Tuân thủ các chuẩn: PMNM thông thường được phát triển tuân thủ theo các chuẩn tốt hơn. Đó là vì lợi ích của các nhà phát triển tự do cần thực hiện được những sản phẩm có tính liên tác tốt nhất; - Không bị hạn chế về quyền sử dụng: Quyền được dùng PMNM dưới bất kỳ hình thức nào làm yên tâm mọi nhà phát triển, nhà quản trị và người sử dụng;Tính lâu dài: PMNM không có một chủ sở hữu duy nhất là lý do bảo đảm để không ai có thể làm ngừng hoặc “giết chết” sản phẩm này;Tự do: Các kết quả phát triển PMNM theo yêu cầu của cộng đồng sẽ được quyết định bởi “đa số dân chủ”; Và cuối cùng là sự phát triển dễ dàng: Những dự án và phát triển phần mềm mới có thể được thực hiện mà không cần phải xin phép ai trước khi triển khai

SP4

 

Mô hình chung của ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý

Tuy nhiên Cùng với những ý kiến ủng hộ việc đẩy mạnh sử dụng PMNM, cũng còn có nhiều ý kiến e ngại dùng các phần mềm này, đó là: chưa có hỗ trợ kỹ thuật tin cậy; Số các thiết bị hỗ trợ PMNM còn hạn chế; Các ứng dụng chuyên nghiệp trên nền PMNM còn ít; Không có cam kết bắt buộc phải hoàn thành một sản phẩm cụ thể; Có một số hạn chế đối với các hệ thống cao cấp; Năng lực hạn chế của người sử dụng

Xu hướng dùng mã nguồn mở trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý nhà nước đang là ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam. Bằng những phân tích đã nêu trên, có thể thấy rằng với công cụ mã nguồn mở, có thể xây dựng mới hoàn toàn hoặc cải tiến các ứng dụng chuyên biệt sẵn có để hỗ trợ quản lý tài nguyên môi trường, tài nguyên nước một cách hiệu quả. Sử dụng các công cụ nguồn mở cũng là cách để tiết kiệm chi phí trong khi vẫn tôn trọng bản quyền phần mềm.

Áp dụng và cải tiến các chuẩn Metadata đã nghiên cứu để xây dựng khung Metadata dạng XML cho từng dự án

Việc nhận thức được tầm quan trọng của địa lý và những vấn đề liên quan đến không gian nên ngày càng có nhiều các cá nhân và tổ chức ngoài ngành khoa học địa lý và công nghệ thông tin bắt đầu đi vào sản xuất, nâng cao và chỉnh sửa dữ liệu địa lý số. Do số lượng ngày càng lớn và phức tạp của các tệp dữ liệu địa lý nên phương pháp cung cấp sự hiểu biết về tất cả các khía cạnh của dữ liệu này dần trở thành cấp thiết.

Ngày nay bằng cách phân tích máy tính và hiển thị đồ họa, dữ liệu địa lý số được sử dụng để tạo mô hình và mô tả thế giới thực. Tuy nhiên dữ liệu không gian địa lý cũng chỉ là có khả năng thể hiện được một cách tương đối, vì hiếm khi nào chúng ta có được dữ liệu hoàn hảo, đầy đủ và chính xác. Vì để đảm bảo các dữ liệu không bị lạm dụng, các nhà sản xuất (hoặc các nhà lập trình) luôn đặt ra các quy định và hạn chế tối đa nhằm giảm những tác động trực tiếp của người dùng vào dữ liệu, và bất kỳ sự can thiệp trực tiếp nào vào dữ liệu đều được ghi chép lại đầy đủ. Việc tạo ra siêu dữ liệu (metadata) cho phép nhà sản xuất mô tả một tệp dữ liệu đầy đủ giúp người dùng có thể hiểu được các quy định, hạn chế và đánh giá khả năng ứng dụng của tệp dữ liệu để từ đó phục vụ cho mục đích sử dụng của họ mà không cần phải can thiệp quá sâu vào đó.

Thông thường, dữ liệu địa lý được sử dụng chủ yếu bởi những người ngoài ngành, cho nên cần phải có bộ tài liệu thích hợp để cung cấp cho những người không biết rõ về dữ liệu địa lý có sự hiểu biết đầy đủ hơn và cho phép họ sử dụng đúng cách dữ liệu này. Do các dữ liệu địa lý ngày càng nhiều và phức tạp nên việc xây dựng tài liệu thích hợp sẽ cung cấp chi tiết cho họ những kiến ​​thức về dữ liệu và cho phép họ quản lý tốt hơn trong việc sản xuất, lưu trữ, cập nhật, và tái sử dụng dữ liệu.

SP1

Để giúp người sử dụng hiểu rõ nguyên tắc cơ bản và các yêu cầu chung về chuẩn thông tin địa lý, các nhà phân tích, phát triển hệ thống thông tin, và cộng đồng người sử dụng đã xây dựng nên bộ tiêu chuẩn quốc tế về thông tin dữ liệu địa lý(ISO 19115). Cụ thể các tiêu chuẩn quốc tế này sẽ cung cấp những thông tin thích hợp để mô tả đúng dữ liệu địa lý của họ; tạo thuận lợi cho việc tổ chức và quản lý siêu dữ liệu của dữ liệu địa lý; cho phép người dùng biết đặc điểm cơ bản của dữ liệu địa lý và ứng dụng nó một cách hiệu quả nhất; tạo điều kiện cho việc phát hiện, phục hồi và tái sử dụng dữ liệu. Người sử dụng có thể xác định vị trí, truy cập, đánh giá, mua và sử dụng dữ liệu địa lý có hiệu quả hơn; cho phép người dùng xác định tổ chức nắm giữ dữ liệu mà họ sẽ sử dụng.

Tiêu chuẩn quốc tế này mô tả các thông tin địa lý  và dịch vụ ở mức sử dụng chung nhất. Nó cung cấp thông tin về việc nhận dạng, quy mô, chất lượng, các lược đồ không gian và thời gian, tham chiếu không gian và phân phối dữ liệu địa lý số. Nguyên tắc của nó có thể được mở rộng với nhiều hình thức dữ liệu địa lý khác như bản đồ, biểu đồ và các tài liệu văn bản cũng như các dữ liệu phi địa lý.

SP2

Việc áp dụng và cải tiến các chuẩn Metadata đã nghiên cứu để xây dựng khung Metadata dạng XML cho từng dự án đã và đang hỗ trợ trực tiếp trong công tác quản lý nhà nước thông qua hệ thống thông tin trực tuyến được xây dựng nhằm cung cấp thông tin cơ bản các dự án lĩnh vực tài nguyên nước đến từng người sử dùng.

Những yêu cầu thiết thực đối với các thông tin cơ bản của dự án lĩnh vực tài nguyên nước phục vụ công tác quản lý nhà nước

Quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách trong trong thời gian gần đây. Bên cạnh những chính sách, quy định của nhà nước về việc quản lý đã được thông qua bằng những luật, nghị định, thông tư về tài nguyên nước thì những công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước cũng được hết sức chú trọng phát triển.

Thu thập và nghiên cứu thông tin là một công tác quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đọc và tra cứu tài liệu, thông tin có trước để làm nền tảng cho nghiên cứu khoa học của mình. Đây luôn là nguồn kiến thức quí giá được tích lũy qua các quá trình nghiên cứu khoa học mang tính lịch sử lâu dài. Vì vậy, việc thu thập và nghiên cứu tài liệu, thông tin giúp ta có thể hiểu rõ được các vấn đề, tiết kiệm được chi phí và thời gian.

Với mục tiêu hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong việc lưu trữ, khai thác thông tin cơ bản của các dự án trong lĩnh vực tài nguyên nước, nên bước đầu tiên phải thực hiện khi xây dựng hệ thống là cần phải hiểu rõ yêu cầu thực tế các thông tin cơ bản trong lĩnh vực này. Khi các thông tin được thu thập qua các phương pháp như: quan sát, phỏng vấn, thảo luận, nghiên cứu tài liệu,…Bước tiếp theo là phân loại và xử lý các thông tin trên: Một là xử lý logic đối với các thông tin định tính là bằng cách đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện đồng thời thể hiện những logic của các sự kiện, các phân hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét; Hai là xử lý các thông định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê hoặc kết quả quan sát, thực nghiệm bằng cách sắp xếp chúng để làm bộc lộ ra các mối liên hệ và xu thế của sự vật (các số liệu có thể được trình bày dưới nhiều dạng, từ thấp đến cao)

Các dự án thuộc lĩnh vực tài nguyên nước có các đặc thù riêng của ngành chính vì vậy một hệ thống trực tuyến cung cấp dữ liệu các dự án phục vụ công tác quản lý nhà nước cần phải làm rõ được những yêu cầu sau: Tính liên tục theo thời gian đối với từng loại tài liệu, thông tin; Tính đồng nhất: đảm bảo theo định hướng đã được phê duyệt; Tính xác thực: được cơ quan chuyên môn, có thẩm quyền xác nhận, tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; Tính phù hợp: tài liệu thu thập cung cấp thông tin về đối tượng điều tra đánh giá tài nguyên nước; Tính cấp thiết: nhằm đạt được yêu cầu nội dung hồ sơ sản phẩm và mục tiêu đề tài, dự án. 

Thông tin cơ bản của dự án lĩnh vực tài nguyên nước là những thông tin quan trọng để quản lý dự án trong công tác quản lý nhà nước, vì vậy việc đi sâu, nghiên cứu, khai thác và tổng hợp các yêu cầu thực tế các thông tin cơ bản dự án lĩnh vực tài nguyên nước, là một trong những bước đầu tiên phải làm để tìm ra những phương pháp vừa tiết kiệm chi phí - thời gian mà lại đem lại hiệu quả tốt nhất nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước.

 

120614kptiticaca04_99797

Nghiệm thu cấp quản lý kết quả thực hiện dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước”

toan_cnhNgày 12/9/2016, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức nghiệm thu cấp quản lý kết quả thực hiện dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước” do Liên đoàn quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Nam, Liên đoàn quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Trung và Trung tâm Kỹ thuật và Tư vấn tài nguyên nước thực hiện.

Kiểm tra tiến độ thực hiện và giải ngân tài chính dự án:” Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao và khan hiếm nước”

Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra tiến độ thực hiện và giải ngân tài chính dự án:” Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao và khan hiếm nước”.

Từ ngày 08 đến 10 tháng 9 năm 2016, Vụ Tài chính thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Lãnh đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức đi thị sát, kiểm tra tiến độ thực hiện cũng như quy trình giải ngân, sử dụng vốn của dự án:” Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao và khan hiếm nước”.

Tham gia đoàn công tác có ông Nguyễn Xuân Trường, Vụ trưởng Vụ Tài chính thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia; ông Vũ Văn Sơn, Trưởng ban Kế hoạch tài chính, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia; ông Phạm Văn Khoa, Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam; ông Vũ Mạnh Tùng, Chủ nhiệm hợp phần dự án cùng một số cán bộ kỹ thuật thuộc Trung tâm và Liên đoàn.

Trong những ngày làm việc tại Liên đoàn, đoàn kiểm tra đã đi thị sát và kiểm tra các lỗ khoan thi công thuộc ba tỉnh: Bạc Liêu, Cà Mau và Sóc Trăng. Đây là một phần trong công tác kiểm tra của Đoàn. Các lỗ khoan đã được hoàn thành và đạt tiêu chí kỹ thuật, yêu cầu của dự án đề ra.

Sau đây là một số hình ảnh tại lỗ khoan VCST10, VCST11 tại xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú do Đoàn tài nguyên nước Sông Vàm Cỏ thực hiện:

unnamed_1

unnamed_2

unnamed

(TT Dữ liệu Quy hoạch và điều tra TNN)

Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng dự báo tài nguyên nước dưới đất, phục vụ cảnh báo, dự báo tài nguyên nước dưới đất.

Hiện nay công tác dự báo tài nguyên nước nói chung và dự báo tài nguyên nước dưới đất nói riêng có tầm quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt trong công tác chủ động phòng tránh thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại do nước gây ra. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đòi hỏi số liệu quan trắc và thông tin về dự báo diễn biến tài nguyên nước ngày càng cao, không chỉ phong phú về mặt nội dung mà cả về độ chính xác của bản tin dự báo. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng bản tin dự báo tài nguyên nước dưới đất là một việc rất cần thiết và ngày càng được các Cơ quan quản lý tài nguyên nước và các hộ dùng nước quan tâm chú ý hơn.

Hệ thống thông tin trực tuyến cung cấp thông tin cơ bản Metadata – Công cụ đột phá trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước

Metadata – Dữ liệu của dữ liệu, siêu dữ liệu – là một khái niệm không hề mới. Tuy nhiên, việc ứng dụng nó vào công tác quản lý trong lĩnh vực tài nguyên nước lại là một cách làm đầy sáng tạo và mang tính đột phá, giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể để có thể hỗ trợ việc ra quyết định một cách nhanh chóng và chính xác.