Sat01202018

Last update06:04:02 AM GMT

Công trình dự án

Nghiên cứu ứng dụng mô hình SWAT đánh giá diễn biến tài nguyên nước mặt tại các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt.

Mặc dù đánh giá tài nguyên nước theo lưu vực/tỉnh/vùng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, kết quả của đánh giá tài nguyên nước hiện nay chưa đạt được hiệu quả cao nhiều do những hạn chế của dữ kiện đầu vào phục vụ đánh giá. Dữ kiện đầu vào bao gồm các số liệu đo đạc về lượng mưa, nhiệt độ, bốc hơi, dòng chảy, các thông tin về số đặc tính vật lý của mặt đệm, số liệu về nước dưới đất,….Mô hình SWAT đã được xây dựng, phát triển từ nhiều năm qua và xu hướng được ứng dụng rộng rãi trong bài toán quản lý bởi ưu điểm đánh giá diễn biến trên lưu vực thông qua số liệu đất và sử dụng đất đai trên lưu vực cũng như về chất lượng nước.

Mô hình SWAT (Soil and Water Assement Tools) là bộ mô hình vật lý, do tiến sỹ Dr. Jeff Arnold thuộc Trung tâm Phục vụ nghiên cứu nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ xây dựng từ những năm 90. Mô hình được xây dựng để mô phỏng ảnh hưởng của việc quản lý sử dụng nguồn đất và nguồn nước của hệ thống lưu vực sông trong một khoảng thời gian xác định. Mặc dù được xây dựng trên nền các quan hệ thể hiện bản chất vật lý của hiện tượng tự nhiên với việc sử dụng các phương trình tương quan để mô tả mối quan hệ giữa các biến vào và ra, SWAT còn yêu cầu các số liệu về thời tiết, sử dụng đất, địa hình, thực vật và tình hình quản lý tài nguyên đất trong lưu vực. Mô hình SWAT sẽ trực tiếp tính toán các quá trình tự nhiên liên quan tới chuyển động của nước, lắng đọng bùn cát, tăng trưởng mùa màng, chu trình chất dinh dưỡng,… dựa vào các thông số dữ liệu đầu vào. Trên cơ sở đó việc mô phỏng cho một lưu vực theo các chiến lược quản lý lưu vực khác nhau trở nên dễ dàng hơn.

Thực tế qua các nghiên cứu cho thấy mô hình SWAT cho những mô phỏng khá tốt, phản ánh đúng điều kiện vật lý của lưu vực. Phương pháp sử dụng các lưu vực nhỏ trong mô hình để mô phỏng dòng chảy là rất thuận lợi, đặc biệt là khi các lưu vực có đủ số liệu về sử dụng đất cũng như đặc tính của đất. Mô hình SWAT đã phản ánh được ảnh hưởng của điều kiện mặt đệm (vấn đề sử dụng đất trên lưu vực) và dòng chảy lưu vực sông. Mô hình có thể áp dụng để đánh giá sử dụng nguồn nước mặt trong các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, từ đó sẽ làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp sử dụng nguồn nước trên lưu vực một cách hợp lý, phục vụ phát triển kinh tế bền vững trên lưu vực.

Hiện nay, trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã xây dựng và đưa vào vận hành 7 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt bao gồm: Phú Ninh (sông Yên Thuận, Quảng Nam), An Thạnh (sông Kỳ Lộ, Phú Yên), Nha Phu (sông Dinh, Khánh Hoà), YaYun hạ (sông YaYun, Gia Lai), Đức Xuyên (Đăk Lắk ), Đại Ninh (sông Đa Nhim, Lâm Đồng), Cát Tiên (sông Đồng Nai, Lâm Đồng). Tuỳ theo mục đích, yêu cầu mà các trạm được đặt ở các điểm cụ thể nhằm đo đạc, xác định được tài nguyên nước tại các điểm yêu cầu phục vụ cho quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước. Các trạm trên được quan trắc từ năm 2010, các thông số quan trắc chủ yếu là lưu lượng, mực nước, nhiệt độ, lưu lượng chất lơ lửng trên sông và một số trạm quan trắc chất lượng nước. Số liệu quan trắc đã được tổng hợp, tính toán chỉnh lý, chỉnh biên và xây dựng bản tin, niên giám tài nguyên nước phục vụ cho công tác quản lý. Trên thực tế, số liệu quan trắc tài nguyên nước không chỉ phục vụ cho các mục đích nêu trên mà có thể được khai thác ở nhiều lĩnh vực với nhiều mục đích khác nhau.

SP8Hình 1: Bản đồ DEM trong mô hình SWAT và Hình 2: Bản đồ các loại đất trong mô hình SWAT

Đánh giá tài nguyên nước hiện nay thường dựa trên số liệu quan trắc tại các trạm KTTV, tuy nhiên số liệu KTTV chủ yếu để tính toán, xác định chế độ dòng chảy của sông ngòi tự nhiên và dự báo lũ, chưa xét tới vấn đề khai thác sử dụng. Do đó, để có được thông tin số liệu về tài nguyên nước một cách đầy đủ phản ánh được vấn đề khai thác sử dụng thì cần phải sử dụng số liệu quan trắc tài nguyên nước.

Từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng mô hình SWAT đánh giá tài nguyên nước mặt” được đề xuất. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ áp dụng công cụ mô hình SWAT trong kỹ thuật đánh giá diễn biến tài nguyên nước mặt tại các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt nhằm khai thác hiệu quả số liệu quan trắc tài nguyên nước mặt phục vụ công tác đánh giá tài nguyên nước.

Nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu phương pháp ước tính giá trị kinh tế sử dụng nước trong quy hoạch tài nguyên nước, áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Vệ”

20_09_tcHa

Chiều ngày 20/9/2016, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu phương pháp ước tính giá trị kinh tế sử dụng nước trong quy hoạch tài nguyên nước, áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Vệ” do ThS. Nguyễn Ngọc Hà - Trưởng ban Điều tra cơ bản tài nguyên nước mặt làm Chủ nhiệm đề tài.

Sự cần thiết để thành lập một Quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã chú trọng đầu tư nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chất lượng cao, tập trung phần lớn ở các trường đại học, viện nghiên cứu trong cả nước. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động và cách thức khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng về cơ sở vật chất và chưa thực sự khai thác được hết khả năng sáng tạo của nguồn nhân lực. Một trong các yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến việc khai thác phòng thí nghiệm chính là việc xây dựng được quy trình vận hành phòng thí nghiệm chuẩn, phù hợp với đặc thù, tính chất của lĩnh vực nghiên cứu. Phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia mới được thành lập và đang được từng bước trang bị các trang thiết bị tiên tiến, hiện đại. Do phòng thí nghiệm mới thành lập, nên việc nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành phòng thí nghiệm chuẩn sẽ giúp phòng thí nghiệm có cơ hội tập trung mọi nguồn lực để nâng cao năng lực, khẳng định độ tin cậy đối với kết quả các phép đo và phân tích. Tăng cường khả năng nghiên cứu thử nghiệm cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ phân tích cho các đơn vị trực thuộc. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước trở nên hết sức rất cấp thiết.

Từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước” được đề xuất. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ xây dựng các quy trình vận hành phòng thí nghiệm để nâng cao năng lực quản lý, năng lực kĩ thuật của các cán bộ làm việc trong phòng thí nghiệm đáp ứng được các yêu cầu phát triển của Trung tâm..

Việc quản lý và vận hành phòng thí nghiệm được tiến hành theo nhiều mô hình khác nhau, thể hiện ở hai hình thức: quản lý tập trung và phân cấp.

Ví dụ mô hình quản lý phòng thí nghiệm tập trung thường có quy trình như sau:

SP6Mô hình quản lý phòng thí nghiệm tập trung

Mô hình quản lý phân cấp thường có quy trình như sau:

SP7Mô hình quản lý phân cấp

Là một Trung tâm đầu ngành về lĩnh vực tài nguyên nước thuộc bộ TN&MT, việc có một Trung tâm kiểm định và đánh giá chất lượng nước là một điều hết sức quan trọng là có ý nghĩa. Nó trực tiếp phục vụ cho các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực tài nguyên nước mà Trung tâm đã, đang và sẽ thực hiện. Với hệ thống này, Trung tâm có thể chủ động trong công tác đánh giá chất lượng nguồn nước; phân tích, thí nghiệm chất lượng nước của các vùng nghiên cứu, đề xuất giải pháp xử lý, cải tạo, phục hồi và bảo vệ nguồn nước cũng như tiến hành các dự án quy hoạch, luân chuyển và phục hồi, bổ sung nguồn nước….

Bên cạnh đó, việc xây dựng một quy trình vận hành phòng thí nghiệm đạt chuẩn với hệ thống trang thiết bị hiện đại sẽ giúp cho việc kiểm định chất lượng nước được chính xác, tạo niềm tin và nâng cao vị thế của Trung tâm. Trên thực tế, đã có rất nhiều phòng thí nghiệm cũng như Trung tâm kiểm định chất lượng nước nhưng do trang thiết bị lạc hậu, quy trình phân tích chưa đạt chuẩn nên đã xảy ra hiện trạng các mẫu phân tích chưa thực sự chính xác dẫn đến việc đánh giá chất lượng nguồn nước bị sai lệch gây khó khăn cho việc xử lý, cải tạo và phục hồi nguồn nước.

Với những phân tích trên, chúng ta thấy cần thiết phải thành lập một Quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước. Việc ra đời của quy trình này sẽ giúp các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý TNN có một công cụ hỗ trợ đắc lực trong các vấn đề chuyên môn cũng như quản lý. Từ đó, tạo ra một quy trình chuẩn để có thể lấy đó làm quy chuẩn trong việc xây dựng, quản lý và vận hành các phòng thí nghiệm về chất lượng nước trên toàn quốc.



Nghiên cứu phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước

Tại Việt Nam công tác nghiên cứu, quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước mới bắt đầu được thực hiện trong những năm gần đây bằng các quy hoạch chuyên ngành liên quan  như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch thủy điện, quy hoạch cấp nước ....Đối với công tác phân bổ tài nguyên nước trong Quy hoạch tài nguyên nước nhìn chung đã đề suất được một số nguyên tắc ưu tiên và thứ tự ưu tiên cấp nước cho các ngành dùng nước chủ yếu là: Sinh hoạt, Công nghiệp, Nông nghiệp và Môi trường và đưa ra tỷ lệ cấp nước cho các ngành dùng nước. Tuy nhiên các quy hoạch đó đều chưa có cơ sở xác định lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi đem phân bổ cho các ngành dùng nước.

Hiện nay, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đang thực hiện và triển khai dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng thuộc 2 tỉnh Lạng Sơn Và Cao Bằng, việc đưa ra phương pháp xác định lượng nước có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước là cần thiết để thực hiện dự án trên. Tại 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, Trung tâm đã thực hiện và hoàn thành dự án Quy hoạch tài nguyên nước trên địa bàn 2 tỉnh; các thành phần tính toán liên quan đến việc xác định lượng nước có thể phân bổ cũng được tính toán nhưng lượng lũ không kiểm soát và lượng nước đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của con người chưa được xem xét và đề cập tới.

SP5

 

Từ thực tế đó, đề tài: Nghiên cứu phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước.” được đề xuất. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ đưa ra phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước. Và áp dụng xác định được lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng trên lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng.

Nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu ứng dụng mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN) trong tính toán lực chọn phương án bảo vệ tài nguyên nước mặt; thử nghiệm cho lưu vực sông Cầu”

20_09_tc_Thuan

Chiều ngày 20/9/2016, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu ứng dụng mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN) trong tính toán lực chọn phương án bảo vệ tài nguyên nước mặt; thử nghiệm cho lưu vực sông Cầu” do ThS. Luyện Đức Thuận - Trưởng phòng Quy hoạch TNN, Liên đoàn quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Bắc làm chủ nhiệm đề tài.

Ứng dụng công nghệ mã nguồn mở trong phát triển các công cụ, hệ thống hỗ trợ quản lý nhà nước ngành tài nguyên môi trường - tài nguyên nước

Ngày nay,lĩnh vực công nghệ mã nguồn mở đang là hướng phát triển mới trong việc xây dựng các công cụ, hệ thống hỗ trợ quản lý nhà nước ngành tài nguyên môi trường - tài nguyên nước. Phần mềm mã nguồn mở là phần mềm mà mã nguồn được sử dụng để tạo chương trình là miễn phí, và mọi người đều có thể xem, chỉnh sửa và tái phân phối. Bất kỳ loại phần mềm hoặc chương trình nào chũng ta cũng đều có thể mở mã nguồn, bao gồm các hệ điều hành (vd: Linux), cơ sở dữ liệu (vd: PostgreSQL), hay các ứng dụng, các trò chơi điện tử.v.v..

SP3

Những lợi ích khi ứng dụng công nghệ mã nguồn mở trong phát triển các công cụ, hệ thống hỗ trợ quản lý nhà nước ngành tài nguyên môi trường - tài nguyên nước là : PMNM miễn phí về bản quyền và nếu có chi phí thì cũng chỉ là chi phí cho đóng gói sản phẩm và dịch vụ cho sản phẩm. Vì vậy, chi phí rất thấp so với các phần mềm thương mại; PMNM không bị lệ thuộc vào bất kỳ một nhà cung cấp nào; Sự sẵn sàng của phần mềm nguồn mở và việc có quyền thay đổi chúng cũng là một yếu tố quan trọng; Tính thích ứng và sáng tạo: Thực tế đã cho thấy rất ít chương trình có thể tồn tại không cần thay đổi, nâng cấp trong một thời gian dài. Vì thế, khả năng cho phép lập trình viên xác định và sửa các lỗi cũng như thích ứng phần mềm với các yêu cầu mới phát sinh là một vấn đề rất quan trọng; Chất lượng tin cậy;- Tuân thủ các chuẩn: PMNM thông thường được phát triển tuân thủ theo các chuẩn tốt hơn. Đó là vì lợi ích của các nhà phát triển tự do cần thực hiện được những sản phẩm có tính liên tác tốt nhất; - Không bị hạn chế về quyền sử dụng: Quyền được dùng PMNM dưới bất kỳ hình thức nào làm yên tâm mọi nhà phát triển, nhà quản trị và người sử dụng;Tính lâu dài: PMNM không có một chủ sở hữu duy nhất là lý do bảo đảm để không ai có thể làm ngừng hoặc “giết chết” sản phẩm này;Tự do: Các kết quả phát triển PMNM theo yêu cầu của cộng đồng sẽ được quyết định bởi “đa số dân chủ”; Và cuối cùng là sự phát triển dễ dàng: Những dự án và phát triển phần mềm mới có thể được thực hiện mà không cần phải xin phép ai trước khi triển khai

SP4

 

Mô hình chung của ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý

Tuy nhiên Cùng với những ý kiến ủng hộ việc đẩy mạnh sử dụng PMNM, cũng còn có nhiều ý kiến e ngại dùng các phần mềm này, đó là: chưa có hỗ trợ kỹ thuật tin cậy; Số các thiết bị hỗ trợ PMNM còn hạn chế; Các ứng dụng chuyên nghiệp trên nền PMNM còn ít; Không có cam kết bắt buộc phải hoàn thành một sản phẩm cụ thể; Có một số hạn chế đối với các hệ thống cao cấp; Năng lực hạn chế của người sử dụng

Xu hướng dùng mã nguồn mở trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý nhà nước đang là ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam. Bằng những phân tích đã nêu trên, có thể thấy rằng với công cụ mã nguồn mở, có thể xây dựng mới hoàn toàn hoặc cải tiến các ứng dụng chuyên biệt sẵn có để hỗ trợ quản lý tài nguyên môi trường, tài nguyên nước một cách hiệu quả. Sử dụng các công cụ nguồn mở cũng là cách để tiết kiệm chi phí trong khi vẫn tôn trọng bản quyền phần mềm.

Áp dụng và cải tiến các chuẩn Metadata đã nghiên cứu để xây dựng khung Metadata dạng XML cho từng dự án

Việc nhận thức được tầm quan trọng của địa lý và những vấn đề liên quan đến không gian nên ngày càng có nhiều các cá nhân và tổ chức ngoài ngành khoa học địa lý và công nghệ thông tin bắt đầu đi vào sản xuất, nâng cao và chỉnh sửa dữ liệu địa lý số. Do số lượng ngày càng lớn và phức tạp của các tệp dữ liệu địa lý nên phương pháp cung cấp sự hiểu biết về tất cả các khía cạnh của dữ liệu này dần trở thành cấp thiết.

Ngày nay bằng cách phân tích máy tính và hiển thị đồ họa, dữ liệu địa lý số được sử dụng để tạo mô hình và mô tả thế giới thực. Tuy nhiên dữ liệu không gian địa lý cũng chỉ là có khả năng thể hiện được một cách tương đối, vì hiếm khi nào chúng ta có được dữ liệu hoàn hảo, đầy đủ và chính xác. Vì để đảm bảo các dữ liệu không bị lạm dụng, các nhà sản xuất (hoặc các nhà lập trình) luôn đặt ra các quy định và hạn chế tối đa nhằm giảm những tác động trực tiếp của người dùng vào dữ liệu, và bất kỳ sự can thiệp trực tiếp nào vào dữ liệu đều được ghi chép lại đầy đủ. Việc tạo ra siêu dữ liệu (metadata) cho phép nhà sản xuất mô tả một tệp dữ liệu đầy đủ giúp người dùng có thể hiểu được các quy định, hạn chế và đánh giá khả năng ứng dụng của tệp dữ liệu để từ đó phục vụ cho mục đích sử dụng của họ mà không cần phải can thiệp quá sâu vào đó.

Thông thường, dữ liệu địa lý được sử dụng chủ yếu bởi những người ngoài ngành, cho nên cần phải có bộ tài liệu thích hợp để cung cấp cho những người không biết rõ về dữ liệu địa lý có sự hiểu biết đầy đủ hơn và cho phép họ sử dụng đúng cách dữ liệu này. Do các dữ liệu địa lý ngày càng nhiều và phức tạp nên việc xây dựng tài liệu thích hợp sẽ cung cấp chi tiết cho họ những kiến ​​thức về dữ liệu và cho phép họ quản lý tốt hơn trong việc sản xuất, lưu trữ, cập nhật, và tái sử dụng dữ liệu.

SP1

Để giúp người sử dụng hiểu rõ nguyên tắc cơ bản và các yêu cầu chung về chuẩn thông tin địa lý, các nhà phân tích, phát triển hệ thống thông tin, và cộng đồng người sử dụng đã xây dựng nên bộ tiêu chuẩn quốc tế về thông tin dữ liệu địa lý(ISO 19115). Cụ thể các tiêu chuẩn quốc tế này sẽ cung cấp những thông tin thích hợp để mô tả đúng dữ liệu địa lý của họ; tạo thuận lợi cho việc tổ chức và quản lý siêu dữ liệu của dữ liệu địa lý; cho phép người dùng biết đặc điểm cơ bản của dữ liệu địa lý và ứng dụng nó một cách hiệu quả nhất; tạo điều kiện cho việc phát hiện, phục hồi và tái sử dụng dữ liệu. Người sử dụng có thể xác định vị trí, truy cập, đánh giá, mua và sử dụng dữ liệu địa lý có hiệu quả hơn; cho phép người dùng xác định tổ chức nắm giữ dữ liệu mà họ sẽ sử dụng.

Tiêu chuẩn quốc tế này mô tả các thông tin địa lý  và dịch vụ ở mức sử dụng chung nhất. Nó cung cấp thông tin về việc nhận dạng, quy mô, chất lượng, các lược đồ không gian và thời gian, tham chiếu không gian và phân phối dữ liệu địa lý số. Nguyên tắc của nó có thể được mở rộng với nhiều hình thức dữ liệu địa lý khác như bản đồ, biểu đồ và các tài liệu văn bản cũng như các dữ liệu phi địa lý.

SP2

Việc áp dụng và cải tiến các chuẩn Metadata đã nghiên cứu để xây dựng khung Metadata dạng XML cho từng dự án đã và đang hỗ trợ trực tiếp trong công tác quản lý nhà nước thông qua hệ thống thông tin trực tuyến được xây dựng nhằm cung cấp thông tin cơ bản các dự án lĩnh vực tài nguyên nước đến từng người sử dùng.

Những yêu cầu thiết thực đối với các thông tin cơ bản của dự án lĩnh vực tài nguyên nước phục vụ công tác quản lý nhà nước

Quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách trong trong thời gian gần đây. Bên cạnh những chính sách, quy định của nhà nước về việc quản lý đã được thông qua bằng những luật, nghị định, thông tư về tài nguyên nước thì những công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước cũng được hết sức chú trọng phát triển.

Thu thập và nghiên cứu thông tin là một công tác quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đọc và tra cứu tài liệu, thông tin có trước để làm nền tảng cho nghiên cứu khoa học của mình. Đây luôn là nguồn kiến thức quí giá được tích lũy qua các quá trình nghiên cứu khoa học mang tính lịch sử lâu dài. Vì vậy, việc thu thập và nghiên cứu tài liệu, thông tin giúp ta có thể hiểu rõ được các vấn đề, tiết kiệm được chi phí và thời gian.

Với mục tiêu hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong việc lưu trữ, khai thác thông tin cơ bản của các dự án trong lĩnh vực tài nguyên nước, nên bước đầu tiên phải thực hiện khi xây dựng hệ thống là cần phải hiểu rõ yêu cầu thực tế các thông tin cơ bản trong lĩnh vực này. Khi các thông tin được thu thập qua các phương pháp như: quan sát, phỏng vấn, thảo luận, nghiên cứu tài liệu,…Bước tiếp theo là phân loại và xử lý các thông tin trên: Một là xử lý logic đối với các thông tin định tính là bằng cách đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện đồng thời thể hiện những logic của các sự kiện, các phân hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét; Hai là xử lý các thông định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê hoặc kết quả quan sát, thực nghiệm bằng cách sắp xếp chúng để làm bộc lộ ra các mối liên hệ và xu thế của sự vật (các số liệu có thể được trình bày dưới nhiều dạng, từ thấp đến cao)

Các dự án thuộc lĩnh vực tài nguyên nước có các đặc thù riêng của ngành chính vì vậy một hệ thống trực tuyến cung cấp dữ liệu các dự án phục vụ công tác quản lý nhà nước cần phải làm rõ được những yêu cầu sau: Tính liên tục theo thời gian đối với từng loại tài liệu, thông tin; Tính đồng nhất: đảm bảo theo định hướng đã được phê duyệt; Tính xác thực: được cơ quan chuyên môn, có thẩm quyền xác nhận, tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; Tính phù hợp: tài liệu thu thập cung cấp thông tin về đối tượng điều tra đánh giá tài nguyên nước; Tính cấp thiết: nhằm đạt được yêu cầu nội dung hồ sơ sản phẩm và mục tiêu đề tài, dự án. 

Thông tin cơ bản của dự án lĩnh vực tài nguyên nước là những thông tin quan trọng để quản lý dự án trong công tác quản lý nhà nước, vì vậy việc đi sâu, nghiên cứu, khai thác và tổng hợp các yêu cầu thực tế các thông tin cơ bản dự án lĩnh vực tài nguyên nước, là một trong những bước đầu tiên phải làm để tìm ra những phương pháp vừa tiết kiệm chi phí - thời gian mà lại đem lại hiệu quả tốt nhất nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước.

 

120614kptiticaca04_99797