Sun10212018

Last update03:47:34 AM GMT

Công trình dự án

Hợp tác giữa Việt Nam – Lào trong công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt tại vùng biên giới

Tài nguyên nước có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Việt Nam có 8/13 hệ thống sông lớn là sông có liên quan đến nước ngoài, trên 1.100 km đường biên giới là sông, suối mà nhân dân Việt Nam cùng nhân dân các nước láng giềng đang sử dụng chung cả dòng sông và nguồn nước.

Điều tra và quy hoạch tài nguyên nước dưới đất còn nhiều bất cập do chưa có đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước

Hiện nay, nhóm công tác điều tra, quy hoạch tài nguyên nước đã và đang được tiến hành rộng khắp trên toàn quốc, hiện chiếm 22,28% khối lượng công việc toàn ngành tài nguyên nước

Hoàn tất quá trình khoan khai thác và bàn giao công trình cho nhà máy MSL

Công ty TNHH Kỹ thuật điện tử MSL Việt Nam có trụ sở tại Xóm 5, xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Việc tìm kiếm thăm dò nguồn nước với lưu lượng và chất lượng tốt để cấp nước lâu dài phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh cũng như sinh hoạt của cán bộ nhân viên trong công ty là hết sức cần thiết.

Công tác điều tra đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của công tác quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất

Ở Việt nam, vấn đề đánh giá khả năng tự bảo vệ tầng chứa nước cũng đã được đề cập đến từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước

Công tác điều tra đánh giá khả năng tự bảo vệ nước dưới đất đã và đang được triển khai rộng rãi trên thế giới và là một nhiệm vụ của điều tra cơ bản về tài nguyên nước

Điều tra và đánh giá khả năng tự bảo vệ nước dưới đất trên thế giới được thực hiện ngày càng phổ biến và đã trở thành một phần quan trọng trong điều tra cơ bản về tài nguyên nước dưới đất.

Cần thiết phải điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - Pha 4

Thực hiện chỉ thị 200TTg của Thủ tướng chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đề án điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 1 (1995 - 1997), đã thi công 38 lỗ khoan, trong đó bàn giao đưa vào khai thác cung cấp nước sạch 34 lỗ khoan với lưu lượng 43.495m3/ngày, số dân được sử dụng nước sạch 463.733 người

Hạn chế trong công tác áp dụng mô hình trong công tác dự báo trữ lượng, dự báo mực nước tại Việt Nam

Trong nước, có rất nhiều công trình của các tác giả trong nước đã ứng dụng phương pháp mô hình để dự báo trữ lượng, dự báo mực nước. Tuy nhiên phần lớn các công trình này trong quá trình chỉnh lý mô hình chủ yếu là dùng phương pháp chỉnh lý thủ công do đó rất mất thời gian trong quá trình chỉnh lý. Các công trình đại diện có ứng dụng mô hình:

Cần thiết phải ứng dụng công cụ tự động chỉnh lý các thông số cho mô hình dòng chảy nước dưới đấ

Việc chỉnh lý mô hình là chỉnh lý các thông số về môi trường thấm và trữ nước của đất đá, các điều kiện biên để kết quả tính toán từ mô hình phù hợp với kết quả đo được trong thực tế. Việc dự báo có chính xác hay không chính xác phụ thuộc rất nhiều vào công tác chỉnh lý mô hình, đây là một trong những bước rất quan trọng trong công tác dự báo. Đối với những mô hình cũ thì việc chỉnh lý thường được thực hiện thủ công, tuy nhiện hiện nay dưới sự phát triển của khoa học công nghệ, các mô hình như GMS phiên bản 9.0 trở lên hoặc Visual MODFLOW phiên bản 2011 trở lên việc chỉnh lý mô hình có thể thực hiện được theo 2 cách: thực hiện hiệu chỉnh thủ công và chỉnh lý tự động.