Fri06222018

Last update04:41:21 AM GMT

Công trình dự án

Đánh giá hiện trạng tình hình xâm nhập mặn vùng Đồng bằng công Cửu Long

Từ cuối năm 2014, El Nino đã ảnh hưởng đến nước ta, làm cho nền nhiệt độ tăng cao, thiếu hụt lượng mưa, là nguyên nhân gây ra tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, đã gây thiệt hại nặng nề và tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh. Các khu vực bị ảnh hưởng nặng là Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Tính riêng năm 2015, ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, đã có gần 40.000 ha lúa phải dừng sản xuất do thiếu nước, 122.000 ha cây trồng bị hạn hán, thiếu nước và hàng chục ngàn hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt. Theo dự báo, El Nino tiếp tục ảnh hưởng và kéo dài đến giữa năm 2016. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo tình hình và các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn ở khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Do mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm, dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông bị thiếu hụt, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua nên xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn so với cùng kỳ hàng năm gần 2 tháng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Cụ thể, tình trạng xâm nhập mặn hiện nay như sau:
-    Khu vực sông Vàm Cỏ: Độ mặn lớn nhất đạt 8,1÷20,3 g/l, cao hơn TBNN từ 5,9÷6,2 g/l; phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l (mức bắt đầu ảnh hưởng đến cây lúa) lớn nhất 90÷93 km, sâu hơn TBNN 10÷15 km.
-    Khu vực các cửa sông thuộc sông Tiền: Độ mặn lớn nhất đạt 14,6÷31,2 g/l, cao hơn TBNN từ 3,2÷12,4 g/l; phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 45÷ 65 km, sâu hơn TBNN 20÷25 km.
-    Khu vực các cửa sông thuộc sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 16,5÷20,5 g/l, cao hơn TBNN từ 5,9÷9,3 g/l; phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 55÷60 km, sâu hơn TBNN 15÷20 km.
-    Khu vực ven biển Tây (trên sông Cái Lớn): Độ mặn lớn nhất đạt 11,0÷ 23,8 g/l, cao hơn TBNN từ 5,1÷ 8,4 g/l; phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 60÷65 km, sâu hơn TBNN 5÷10 km.
Trong thời gian tới, mặn tiếp tục xâm nhập, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, khả năng kéo dài đến đầu mùa mưa (khoảng cuối tháng 5/2016). Cụ thể, như sau:
- Các vùng cách biển đến 45 km: Nguồn nước ngọt xuất hiện rất ít và gần như không có khả năng lấy nước ngọt từ cửa sông, gây ra tình trạng thiếu nước cho sản xuất và nước sinh hoạt.
- Các vùng cách biển từ 45÷65 km: Có khả năng bị mặn cao (>4g/l) xâm nhập. Nếu mưa đến chậm, xâm nhập mặn có thể kéo dài đến tháng 6/2016. Trong thời kỳ này, vào những đợt triều cường mặn sẽ xâm nhập sâu. Tuy nhiên, vào thời kỳ triều kém và chân triều có khả năng xuất hiện nước ngọt.
- Các vùng cách biển xa hơn 70÷75 km: Tuy ít gặp xâm nhập mặn 4g/l, nhưng cũng cần lưu ý trong các đợt triều cường, và vẫn là vùng xâm nhập của nước mặn nồng độ dưới 4g/l, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt.
Do ảnh hưởng của xâm nhập mặn, từ cuối năm 2015 đến nay, nhiều diện tích cây trồng đã bị ảnh hưởng. Ở vụ Mùa và Thu Đông năm 2015, có khoảng 90.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng suất, trong đó thiệt hại nặng khoảng 50.000 ha (Kiên Giang 34.000 ha, Sóc Trăng 6.300 ha, Bạc Liêu 5.800 ha,..). Vụ Đông Xuân 2015-2016, có 104.000 ha lúa bị ảnh hưởng nặng đến năng suất (chiếm 11% diện tích gieo trồng 8 tỉnh ven biển - đang bị ảnh hưởng nặng của xâm nhập mặn). Dự kiến, trong thời gian tới, diện tích bị ảnh hưởng khoảng 340.000 ha (chiếm 35,5% diện tích 8 tỉnh ven biển).

bai53_2aXâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực hiện nay đang bị ảnh hưởng nặng nhất của hạn hán, xâm nhập mặn và còn tiếp tục bị ảnh hưởng trong thời gian tới

Xây dựng quy trình đánh giá, dự báo tài nguyên nước mặt theo thời đoạn là một yêu cầu mới đặt ra

Tài nguyên nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa như nước ta hiện nay. Trong đó, công tác đánh giá, dự báo tài nguyên nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý và quy hoạch tài nguyên nước.

Tăng cường năng lực trang thiết bị phục vụ công tác cảnh báo dự báo tài nguyên nước vấn đề cấp thiết trong thời điểm hiện nay

Trong những năm gần đây nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp và sinh hoạt không ngừng tăng lên theo đà phát triển của công nghiệp, sự gia tăng dân số, mức sống của người dân và sự phát triển của các đô thị. Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng. Vì vậy, công tác cảnh báo dự báo tài nguyên nước đòi hỏi phải giải quyết được nhiều vần đề mới như: mở rộng phạm vi dự báo, dự báo chính xác tài nguyên nước, mức độ đáp ứng của nguồn nước cho các ngành khai thác,…

Đánh giá tác động của các công trình ngầm trên địa bàn thành phố Hà Nội đến tầng chứa nước Đệ tứ.

Thành phố Hà Nội được xem là đô thị có tốc độ phát triển tương đối nhanh, là nơi tập trung của nhiều cơ quan đầu não của Nhà nước, các tập đoàn tài chính, các công ty lớn... Cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ là sự ra đời của các công trình xây dựng đồ sộ như chung cư cao tầng, các cây cầu lớn, các tuyến đường sắt trên cao.

Áp dụng mô hình tính toán hiệu năng cao (High Performance Computing - HPC) giúp tăng độ chính xác trong công tác cảnh báo dự báo tài nguyên nước

Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi. Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây. Cùng với đó việc dự báo chính xác tài nguyên nước là yêu cầu cấp thiết được đặt ra.

Giải pháp ứng phó nào trong hỗ trợ đảm bảo an ninh nguồn nước vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồngthuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 10 tỉnh và thành phố như: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Vĩnh Phúc. Gần như đồng nghĩa với đồng bằng sông Hồng là vùng trung châu, khác với vùng chân núi trung du và núi cao thượng du. Không giống như vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 2 tỉnh Thái Bình và Hưng Yên là không có núi, do đó khu vực này thường được gọi là châu thổ sông Hồng.

Giải pháp nào cho việc ứng phó khan hiếm nước vùng cao để phục vụ đời sống và sản xuất

Hiện nay, con người đang tận dụng nguồn nước ngầm sẵn có mà không ý thức được rằng nguồn tài nguyên này đang bị khai thác quá tải và đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Trong khi lượng nước ngầm dự trữ có thể dùng được không nhiều thì con người lại gây lãng phí tới 30%, kéo theo nguy cơ khan hiếm nguồn nước.

Hòa Bình: Quản lý tài nguyên nước hợp lý, ổn định, bền vững đáp ứng sử dụng nước cho dân sinh và các ngành kinh tế

Ngày 26/5/2015, UBND tỉnh Hòa bình đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-UBND về việc tăng cường quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hòa Bình đã triển khai đồng bộ, tuyên truyền rộng rãi tới các cấp, các ngành và các tổ chức, cá nhân trong tỉnh hiểu rõ và biện pháp quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý, hiệu quả tránh thất thoát và phòng chống các tại hại của nước gây ra. Theo đó, việc lập quy hoạch tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh là rất quan trọng và cần thiết.