Sun04212019

Last update06:09:01 AM GMT

Tin tức sự kiện

Lập bộ phận chuyên trách chống thất thoát, thất thu nước sạch

Đây là một trong những nội dung nâng cao năng lực quản lý cho đơn vị cấp nước nằm trong Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch đến năm 2025 (Chương trình) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2147/QĐ-TTg ngày 24/11/2010.

Bộ phận chuyên trách này sẽ được thành lập tại các đơn vị cấp nước, đặc biệt tại các đô thị có tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch cao.

Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước (BCĐ) do Bộ trưởng Bộ Xây dựng làm Trưởng BCĐ. Bộ Xây dựng là cơ quan Thường trực của BCĐ Chương trình.
BCĐ có nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm thực hiện Chương trình; chỉ đạo thực hiện Chương trình; chỉ đạo và phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến Chương trình; đôn đốc, kiểm  tra, giám sát việc triển khai, thực hiện Chương trình tại các địa phương.
Lập lý lịch mạng lưới đường ống, đồng hồ đo nước.

s23

Mục tiêu đến năm 2025, giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch xuống dưới 15%

Một số nội dung đáng chú ý của Chương trình là việc lập lý lịch mạng lưới đường ống, đồng hồ đo nước, sử dụng việc quản lý mạng và đồng hồ nước bằng hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống thông tin địa lý (GIS); xây dựng cơ chế khoán cho đơn vị cấp nước giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch và hưởng lợi nhuận từ kết quả này.

Đồng thời, xây dựng chế độ khen thưởng các cá nhân phát hiện và thông báo về các sự cố, điểm rò rỉ nước. Chế tài đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng nước gian lận, không trả tiền, làm hư hỏng tuyến ống.

Được biết, với nhiều giải pháp chống thất thoát, thất thu nước sạch, tỷ lệ thất thoát nước bình quân toàn quốc đã giảm từ 42% (năm 1998) xuống còn 30% hiện nay. Tuy nhiên, so với các nước tiên tiến và các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ này vẫn còn cao.

Đặc biệt, tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch rất cao, trong khi lượng nước sản xuất của các đô thị này chiếm khoảng 40% tổng lượng nước sản xuất của các đô thị Việt Nam.

Nguyên nhân dẫn đến thất thu, thất thoát nước sạch cao là do ý thức của người sử dụng kém, tình trạng trộm cắp nước sạch diễn ra nhiều nơi; công tác quản lý và các yếu tố kỹ thuật chưa được quan tâm đúng mức; hệ thống đường ống cấp nước quá cũ kỹ;...

Cả nước hiện có khoảng 68 công ty cấp nước, cung cấp dịch vụ cho hơn 750 đô thị trên toàn quốc.

 

(Theo Hoàng Diên - baodientu.chinhphu.vn)

 

 

 

 

 

 



Biến đổi khí hậu “nung nóng” các hồ trên Trái đất

Nhiều hồ lớn nhất Trái đất đang bị ấm lên trong 25 năm qua do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cảnh báo của Phòng thí nghiệm JPL của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA).

Theo JPL, các nhà nghiên cứu của họ đã đi đến kết luận trên sau khi dùng dữ liệu thu thập từ vệ tinh để đo nhiệt độ bề mặt của 167 hồ lớn trên thế giới. JPL nói đây là cuộc khảo sát toàn cầu toàn diện đầu tiên về chiều hướng nhiệt độ tại các hồ lớn.

 

tnn14

Các hồ lớn trên Trái đất đang ngày càng ấm lên do biến đổi khí hậu - Ảnh: florida-photo-magazine.com

Cụ thể, họ phát hiện nhiệt độ trung bình của các hồ đã tăng 0,45 độ C mỗi thập kỷ, trong đó có một số hồ tăng trên 1 độ C. Riêng các hồ nằm ở bán cầu bắc có tốc độ tăng cao nhất.

Theo các nhà nghiên cứu, nhiệt độ nước tăng có thể làm gia tăng đáng kể các loài tảo khiến hồ bị nhiễm độc gây nguy hại cho loài cá, hoặc tạo điều kiện cho các loài sinh vật ngoại lai sinh sôi nảy nở, lấn át loài bản địa và làm biến đổi hệ sinh thái tự nhiên của các hồ.

“Các phân tích của chúng tôi sẽ cung cấp một cơ sở dữ liệu mới và độc lập để đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên đất liền trên phạm vi toàn thế giới”, Philipp Schneider - tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Kết quả này cũng hàm ý rằng các hệ sinh thái ao hồ có thể bị ảnh hưởng bất lợi từ những thay đổi nhiệt độ mặt nước, dù ở mức nhỏ nhất”.

 

 

(Theo DWRM)


Thống nhất quy trình điều tiết nước của hồ chứa nước Cửa Đạt (Thanh Hóa) phù hợp phát điện và chống hạn

Trước tình trạng hồ chứa nước Cửa Đạt (kết hợp thủy điện) lớn nhất Bắc Trung Bộ chưa tích đủ nước đến cao trình theo thiết kế, UBND tỉnh Thanh Hóa yêu cầu Công ty cổ phần Thủy điện Cửa Đạt và các đơn vị có liên quan thống nhất quy trình điều tiết phù hợp phát điện và chống hạn. Theo đó, chỉ xả nước hồ Cửa Đạt để phục vụ mục tiêu đẩy mặn cho hạ du vào tháng 3 và tháng 4/2011 là 2 tháng có mực nước kiệt nhất với lưu lượng xả 30,42 m3/s, tương đương tổng lượng nước xả 160.33 triệu m3.
Kết thúc mùa mưa năm 2010, lượng mưa trên địa bàn Thanh Hóa chỉ đạt 80,90% lượng mưa trung bình nhiều năm (TBNN). Hiện tại mực nước hồ Cửa Đạt đạt + 95,89 m, tương đương với dung tích trữ 680,5 triệu m3 so với cao trình thiết kế là +110 m, dung tích chứa nước là 1.450 triệu m³.
Trong điều kiện thiếu nước, nếu vận hành nhà máy thủy điện Cửa Đạt với công suất lắp máy là 97 MW, ứng với lưu lượng thiết kế qua tuabin của Thủy điện Cửa Đạt là 156,26 m3/s thì lượng nước trong hồ Cửa Đạt sẽ không đủ. Mặt khác, theo nhận định của Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Bắc Trung bộ, tổng lượng mưa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011 chỉ đạt xấp xỉ và thấp hơn lượng mưa TBNN. Để đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp (50.000 ha lúa) và sinh hoạt cho hệ thống thủy nông Bái Thường, Chủ tịch UBND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm việc với Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 3, Công ty cổ phần Thủy điện Cửa Đạt và các đơn vị có liên quan thống nhất quy trình điều tiết nước của hồ chứa nước Cửa Đạt trong thời gian từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011 theo nguyên tắc: lưu lượng nước xả qua hồ Cửa Đạt (phục vụ phát điện) phải theo nhu cầu tưới hàng tháng của hệ thống thủy nông Bái Thượng. Cụ thể, từ tháng 12/2010 đến tháng 2/2011, lượng nước qua tuabin = 50 m3/s; từ tháng 3/2011 đến tháng 5/2011, lưu lượng nước qua tuabin = 44/m3/s đến 45 m3/s và khống chế mực nước tại thượng lưu đập Bái Thượng không được vượt quá cao trình + 17,20m (cao trình đỉnh tràn của đập Bái Thượng).
(Theo Monre.gov.vn)

Đăk Lăk: Tích đủ nước các nhà máy thủy điện hoạt động công suất tối đa

Sau một thời gian dài nắng nhiều, mưa ít, lượng nước tích trử trong hồ chứa    ít, các nhà máy thủy điện trong tỉnh Đăk Lăk phát điện chỉ đạt từ 50 đến 60% công suất thiết kế. Từ đầu tháng đến giữa tháng 11/2010 mưa nhiều, hồ chứa đã tích đầy nước, các nhà máy thủy điện đã tăng công suất phát điện đến mức cao nhất, góp phần cải thiện nguồn cung cấp điện quốc gia.          
Trong 20 ngày đầu tháng 11/2010, Nhà máy thủy điện Buôn Kuôp (trên sông Sê Rê Pốc) với 2 tổ máy đã phát công suất theo thiết kế 280 MW, mỗi ngày sản xuất trung bình trên 6 triệu KW giờ điện. Sau hơn 1 năm đưa vào hoạt động, Nhà máy thủy điện Buôn Tua Sarh thượng nguồn sông Sê Rê Pốc đã tích lương nước đạt cao trình 487,5 m theo thiết kế. Trong 10 ngày qua, nhà máy chạy cả 2 tổ máy và đã phát điện với công suất cao nhất là 86 MW. Tuy mới đưa vào hoạt động, nhưng nhờ chủ động tích nước, từ cuối tháng 9/2010 đến nay, Nhà máy thủy điện Sê Rê Pốc 3 đã đưa cả 2 tổ máy phát điện công suất    tối đa 220 KW.            
Ngoài việc điều chỉnh và nâng dần công suất phát điện hợp lý để đạt công suất tối đa, các nhà máy thuỷ điện đã vận hành các hồ chứa và xả lũ với lưu lượng nước hợp lý, nên bảo đảm các nhà máy hoạt động hết công suất và an toàn, không gây ngập úng cho phía hạ du của sông Sê Rê Pốc. 
(Theo Monre.gov.vn)
 
 

      

Quy hoạch xây hồ điều tiết trữ nước, chống ngập ở TP. HCM

 
Trước tình trạng ngập nước trên địa bàn TP gần đây có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng đến sinh hoạt và cuộc sống của nhân dân, TP Hồ Chí Minh sẽ kiểm tra, rà soát, xác định những vùng đất trũng, các địa điểm có điều kiện xây dựng các hồ điều tiết nhằm giải quyết yêu cầu vừa trữ nước chống ngập vừa tạo cảnh quan, môi trường.
Căn cứ vào quy hoạch xây dựng chung của thành phố được duyệt và quy hoạch xây dựng của các quận-huyện, Sở Quy hoạch - Kiến trúc được giao nhiệm vụ chủ trì, kiểm tra, rà soát, xác định những vùng đất trũng, các địa điểm có điều kiện xây dựng các hồ điều tiết. 

UBND tỉnh cũng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị cần tổ chức khai thông kênh mương, khôi phục lại hệ thống thoát nước, kênh rạch bị lấn chiếm, lấp kín dòng chảy tại địa bàn các khu dân cư… để lập quy hoạch xây dựng các hồ điều tiết, đề xuất giải pháp đầu tư trong kế hoạch năm 2011 và những năm tiếp theo.
tnn13
Hồ Kỳ Hòa được thiết kế là một trong những hồ điều tiết nước của thành phố


Hiện nay, để ứng phó với tình hình lụt, bão, thiên tai, UBND TP Hồ Chí Minh cũng đã ra quy định về công tác trực ban trên địa bàn thành phố theo chế độ 24/24 giờ. Theo đó, hàng năm, Ban Chỉ huy Phòng, chống lụt, bão và Tìm kiếm cứu nạn TP, các cấp tổ chức bộ phận trực ban từ ngày 1/6 đến hết 31/12 theo chế độ 24/24 giờ trong mùa mưa, bão.
Ngoài thời gian trên, từ ngày 1/1 đến 31/5, trường hợp xảy ra thiên tai, tai nạn, thảm họa hoặc khi có sự cố hư hại công trình phòng, chống lụt, bão, thiên tai thì các cấp, các ngành phải kịp thời tổ chức trực ban đột xuất 24/24 giờ để tổ chức ứng phó và xử lý có hiệu quả các tình huống.






(Theo Chinhphu.vn)

Bảo vệ tài nguyên nước: Không thể chậm trễ!

Nhà ông Trung ở xã Ngọc Định (huyện Định Quán) cách sông La Ngà hơn 1km nhưng vào mùa khô năm 2010 đã phải mua từng líBiến đổi khí hậu làm mưa ở Đồng Nai ít dẫn đến lượng nước mặt, nước ngầm sụt giảm đáng kể. Nếu mỗi người dân không góp sức bảo vệ tài nguyên nước thì khả năng thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất là khó tránh khỏi.
* Nguy cơ khi nước mặt, nước ngầm giảm

Khoảng 3 năm gần đây, khu vực Đồng Nai chịu ảnh hưởng khá nặng nề của biến đổi khí hậu. Cụ thể, thời tiết trong tỉnh diễn biến phức tạp, lượng mưa giảm và có nhiều thay đổi. Trước đây, vào đầu mùa mưa chủ yếu ở phía Bắc tỉnh là Tân Phú và Định Quán, đến giữa và cuối mùa mưa di chuyển về phía Nam tỉnh gồm: TP.Biên Hòa, Long Thành, Trảng Bom và Nhơn Trạch. Song, 3 năm lại đây mưa chủ yếu ở phía Nam tỉnh, còn phía Bắc tỉnh mưa rất ít và lũ ở đầu nguồn đang giảm dần. Riêng mùa mưa năm 2010, không xảy ra lũ trên sông Đồng Nai. Do mưa ít nên lượng nước mặt, nước ngầm sụt giảm khá lớn dẫn đến chất lượng nước nhiều sông, suối không đảm bảo cho cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu.


Ông Lê Văn Bình, Phó giám đốc Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường (Sở TN-MT), cho biết: "Kết quả quan trắc tài nguyên nước mặt trên địa bàn tỉnh 6 tháng cuối năm nay kém hơn 6 tháng đầu năm. Nguyên nhân từ tháng 7 đến nay dòng chảy bị xáo trộn liên tục kéo theo yếu tố bị rửa trôi, pha trộn chất thải từ đất liền làm chất lượng nước không ổn định. Đồng Nai có 17 sông, suối lớn, song chỉ 2 suối có chất lượng nước đạt yêu cầu cấp nước sinh hoạt; 7 sông, suối đủ điều kiện cung cấp nước cho tưới tiêu thủy lợi".


Trong quý III-2010, Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường thực hiện 13 mũi khoan thăm dò lượng nước ngầm ở 2 huyện Định Quán, Nhơn Trạch và TX.Long Khánh, hầu hết các địa điểm thăm dò cao độ mực nước ngầm đều giảm từ 1-6m. Hiện nay, người dân ở vùng sâu, vùng xa trong tỉnh đa số đào, khoan giếng lấy nước ngầm để sinh hoạt và sản xuất nên nước ngầm bị sụt giảm mạnh, điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống.


Do hạn hán, nước về các sông, suối ít nên ngoài ảnh hưởng đến trữ lượng nước mặt, nước ngầm, còn làm chất lượng nước mặt, nước ngầm suy giảm. Vì dòng chảy các sông, suối bị hạn chế khả năng tự làm sạch kém nên tình trạng ô nhiễm sẽ tăng, đồng thời lượng nước ngọt ít sẽ khiến nước mặn xâm nhập vào sâu trong đất liền.


* Để không bị "khát" nước


Hiện nay, bảo vệ tài nguyên nước (TNN) đã trở nên cấp bách với Việt Nam, bởi biến đổi khí hậu làm gia tăng các yếu tố bất thường như: mùa khô kéo dài, mùa mưa đến muộn và ngắn hơn, lượng mưa suy giảm hoặc tăng bất thường và chỉ tập trung trong thời gian ngắn. Do đó, những năm gần đây trên các sông như: Hồng, Mê Kông, Đồng Nai... dòng chảy giảm sút gây ra hạn hán, thiếu nước ở khu vực đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng Nam bộ... Ông Lê Hữu Thuần, Phó cục trưởng Cục Tài nguyên nước (thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường) khẳng định: "Tổng lượng nước mặt phát sinh và chảy qua lãnh thổ nước ta khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó cả nước sử dụng gần 81 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, lượng nước phân bổ không đều nên vào mùa khô có 2/3 lưu vực sông bị khai thác ở mức căng thẳng. Sông Đồng Nai là một trong 6 sông khai thác đến mức rất căng thẳng. Để bảo vệ nước mặt, nước ngầm Việt Nam đã xây dựng Luật Tài nguyên nước, đồng thời ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn khai thác sử dụng tiết kiệm nguồn nước".


Tại Đồng Nai, với những nơi có nước máy, tỉnh chỉ đạo không cho khai thác nước ngầm nhằm bảo vệ TNN. Ông Trần Thanh Dũng, Trưởng phòng Tài nguyên nước (Sở TN-MT), cho hay: "Hiện tỉnh đang yêu cầu các địa phương điều tra, thống kê các giếng không sử dụng để tiến hành trám lấp tránh ô nhiễm nguồn nước ngầm. Có 7 huyện, thị đã hoàn thành việc thống kê và lên phương án trám lấp". Ngoài ra, Đồng Nai cũng tăng cường quản lý nguồn nước mặt bằng cách thường xuyên kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp xả thải gây ô nhiễm nguồn nước.


Bà Trần Minh Phượng, chuyên gia dự án Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý TNN Việt Nam (Do Cơ quan phát triển Bỉ tài trợ), nói: "Bảo vệ TNN là công việc chung của tất cả mọi người dân, do đó trong sinh hoạt hàng ngày nếu mỗi người tập thói quen sử dụng tiết kiệm nguồn nước sẽ giảm bớt khả năng thiếu nước trong tương lai. Bởi, biến đổi khí hậu đang làm trái đất nóng lên kéo theo nước biển dâng và nguồn nước ngọt giảm mạnh".


Thực tế ở Đồng Nai, vào mùa khô nhiều vùng cao thiếu nước sinh hoạt, sản xuất trầm trọng, người dân phải mua đong từng lít với giá 50-150 ngàn đồng/m3. Cá biệt có những vùng ngay ven sông vẫn thiếu nước, vì nguồn nước sông bị ô nhiễm không thể sử dụng. Vì vậy, bảo vệ TNN là công việc của cả cộng đồng và không thể chậm trễ.





(Theo Hương Giang - Báo Đồng Nai)

Quản lý tài nguyên nước: Cần có chế tài luật và quy chế

Vùng quê yên bình ở Hà Lan.Mô hình quản lý lưu vực sông của Pháp, lồng ghép đánh giá môi trường chiến lược, khung quản lý tài nguyên nước vào chế tài luật và quy chế quốc gia, chiến lược quốc gia của Đức hay xác định 16 điểm trọng yếu để quản lý vùng ven biển của Hà Lan... là những kinh nghiệm hay của các quốc gia trong việc quản lý tài nguyên nước. Điển hình nhất ở Châu Âu phải kể đến là Cộng hoà Pháp với mô hình quản lý lưu vực sông, nhiều nước trong cộng đồng Châu Âu đã công nhận đây là mô hình quản lý hợp lý nhất và áp dụng theo mô hình này.

Đây là mô hình quản lý tài nguyên nước gắn kết trách nhiệm giữa chính phủ, chính quyền địa phương với cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp trên lưu vực sông, trong đó đặc biệt coi trọng vai trò của người dân và của các doanh nghiệp trong việc tham gia vào công tác quản lý cũng như giải quyết các vấn đề về nguồn nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước.

Quản lý tài nguyên nước của Cộng hoà Pháp được thể hiện tập trung ở quản lý lưu vực sông. Toàn bộ lãnh thổ Cộng hoà Pháp được chia thành 6 lưu vực sông lớn, gồm: Seine - Normandie, Artois - Picardie, Rhin - Meuse, Loire - Bretagne, Adour - Garonne và Rhone - Mediterranée - Corse. Mỗi lưu vực sông có uỷ ban lưu vực sông và cơ quan lưu vực sông


Cộng hoà Pháp cũng quản lý tài nguyên nước theo nguyên tắc người sử dụng nước và người gây ô nhiễm nguồn nước phải trả tiền. Nguyên tắc được đề ra là “mỗi giọt nước được cung cấp, mỗi giọt nước thải ra đều phải đóng tiền” để sử dụng vào việc cấp nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước.


TS Fritz Holzwarth, Bộ Liên bang Đức về  Môi trường, Bảo tồn thiên nhiên và An toàn hạt nhân cho biết, muốn quản lý hiệu quả tài nguyên nước cần xác định 4 mục tiêu cốt lõi: nguồn cung an toàn, xử lý hiệu quả, sử dụng bền vững và chia sẻ kinh nghiệm.


Ông Fritz Holzwarth cũng nêu số sáng kiến của Chính phủ Đức đã phát huy được hiệu quả tốt như lồng ghép đánh giá môi trường chiến lược, khung quản lý tài nguyên nước vào luật và quy chế quốc gia, chiến lược quốc gia; sử dụng chiến lược phát triển công nghệ cao; kêu gọi công chúng và các hiệp hội cùng chung tay tham gia bảo vệ tài nguyên nước.


Hà Lan là một nước ven biển và là cửa ngõ vào EU, có phần lớn đất đai nằm dưới mực nước biển và những phần đất thấp thường bị ngập, chính đặc điểm đó đã làm cho Hà Lan trở thành chuyên gia đứng đầu thế giới về xây dựng đê, đập, giữ cho đất khô ráo, đặc biệt là mực nước biển dâng lên dưới tác động của biến đổi khí hậu ngày càng tạo ra nhiều thách thức.


Hà Lan cũng là một quốc gia thành công trong việc quản lý, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, đặc biệt là vùng ven biển. Quản lý tổng hợp vùng ven biển tại Hà Lan dựa trên phương pháp tiếp cận ưu tiên. Vấn đề về an toàn lũ lụt và quản lý xói lở giữ vai trò quyết định và được Chính phủ Hà Lan đặt hàng đầu.


Do vậy phương pháp tiếp cận của quản lý tổng hợp vùng ven biển tại Hà Lan là phương pháp tiếp cận theo các điểm xung yếu tại vùng ven biển. Có tất cả 16 điểm xung yếu được xác định tại Hà Lan.


Đối với mỗi điểm xung yếu đó, chính quyền các tỉnh xây dựng quy hoạch tổng hợp không chỉ nhằm tăng cường bảo vệ bờ biển khỏi lũ mà còn nhằm cải thiện chất lượng môi trường vùng ven biển. Do ưu tiên về an toàn bờ biển, các biện pháp quản lý vùng ven biển khác cũng phải dựa trên cơ sở lồng ghép với các biện pháp an toàn bờ biển.

 

(Theo Báo Lao Động tổng hợp)

Tác hại của đập thủy điện trên sông MêKông

Sau một thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, tháng qua, Ủy ban sông Mêkông (MRC) đã đưa ra báo cáo về môi trường sông Mêkông, trong đó cảnh báo về những tác động nguy hại về việc xây các đập thủy điện.  

Theo nhận định của các chuyên gia đúc kết trong báo cáo (của MRC) thì Campuchia là quốc gia chịu tổn thất nặng nề về sản lượng cá. Tài liệu viết, hơn một triệu người dân sống tùy thuộc vào đánh bắt cá thiệt hại rất nhiều do mất đi 300.000 tấn cá mỗi năm.

Eric Baran, nhà khoa học nghiên cứu lâu năm về cá tại Trung tâm Cá thế giới có văn phòng tại Phnôm Pênh, đưa ra nhận định như sau: Sự tổn thất về lượng cá là nghiêm trọng cho nhiều gia đình sống lệ thuộc vào con cá và dòng sông và còn có thể tạo ra nguy hại cho chương trình an ninh thực phẩm của cả quốc gia bởi vì hơn 50% chất đạm tiêu thụ tại Campuchia có nguồn gốc từ con cá sinh sống trong dòng sông Mêkông.

Hiện tại có 12 dự án xây đập thủy điện ở vùng hạ lưu sông Mêkông nằm ở 3 nước Thái Lan, Lào và Campuchia. Riêng ở Campuchia, chính quyền đang bàn bạc có thể tiến hành thực hiện xây dựng hai đập thủy điện, một là đập Sambor thuộc huyện Sambor tỉnh Kratie, hai là đập Stung Treng thuộc địa phận tỉnh Stung Treng ở sát Nam Lào. Do có thể gây nên các hiểm họa trong tương lai, nên nhiều chuyên gia về môi trường đã đề nghị với các quốc gia thuộc khu vực hạ nguồn Mêkông nên trì hoãn trong thời hạn 10 năm bất cứ quyết định nào liên hệ đến dự án xây dựng đập để có thời gian nghiên cứu thêm ảnh hưởng đến môi trường sống.

tn3

Một số loài cá lớn sẽ bị đẩy tới bờ tuyệt chủng nếu xây dựng Nhà máy thủy điện trên sông Mê Kông

Khi đến Hà Nội cuối tháng 10/2010 trong tư cách khách mời của Diễn đàn Đông Á (EAS), Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đồng ý với các khuyến cáo trong tài liệu nghiên cứu về ảnh hưởng của đập và bà nói nên tạm ngưng xây dựng để có thời giờ khảo sát thêm cho  chắc chắn. Tuy nhiên, nhiều người vận động tích cực bảo vệ môi trường sông Mêkông phát biểu là chương trình xây bất kỳ con đập nào trên sông Mêkông đều ngầm chứa sự phá hủy các nỗ lực của khu vực trong chương trình giảm bớt nghèo khó và nạn thiếu ăn.

Bà Ame Trandem, người vận động cho sông Mêkông thuộc tổ chức "Các Con sông Quốc tế" kêu gọi toàn khu vực tạm ngưng xây dựng các đập thủy điện, bởi vì các công trình này sẽ làm thay đổi dòng chảy tự nhiên và là bức tường ngăn chặn tuyến đường di thực của nhiều loài cá quan trọng đang sinh sống. Bà Ame Trandem còn cho biết cố gắng thay thế nguồn đạm kiếm được từ cá bằng các nguồn dinh dưỡng khác là việc làm hết sức tốn kém và phức tạp. Cạnh đó khi xây dựng đập có thể tạo ra một số lợi nhuận nhất định nhưng tiếc thay nó lại không đến tay dân nghèo.

Alan Brooks, Giám đốc Văn phòng "Trung tâm Cá Thế giới" ở Phnôm Pênh nói các sáng kiến đưa ra nhằm giảm bớt tác động tiêu cực gây ra từ các đập thủy điện sẽ đòi hỏi vốn đầu tư rất nhiều. Ngay cả nếu sự cung cấp cá được gia tăng bằng cách nhập khẩu với giá rẻ hay bằng các phương cách khác thì người nghèo từ trước đến nay sống tùy thuộc vào cá và dòng Mêkông cũng không hưởng được lợi ích. Châu thổ Mêkông là một vùng nước vừa có môi trường thiên nhiên tươi đẹp vừa có nguồn cung cấp cá và thủy sản dồi dào lại rẻ, nay nếu xây dựng đập thủy điện tương tự như hành động hủy diệt nhiều loài cá và buộc dân cư phải chọn một sinh kế khác mà họ không thích, không quen như làm ruộng, chăn nuôi gia cầm.

Nao Thouk, Giám đốc Tổng cục Ngư nghiệp nói cơ quan ông đã nghiêm chỉnh đón nhận bản báo cáo của Ủy ban Sông Mêkông và chính quyền cũng đã cho thành lập nhóm nghiên cứu tất cả ảnh hưởng do các đập gây nên một khi tiến hành xây dựng. Ông cũng nói chính quyền đã tổ chức một hội nghị thảo luận về tác động của dự án đập thủy điện.

 

(Theo Monre.gov.vn)