Sun02172019

Last update06:09:01 AM GMT

Tin tức sự kiện

Xây dựng nông thôn mới: Hành trình dài lâu: Bài 1: Giấc mơ nước sạch còn... xa

Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh - hiện đại là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra. Xong, từ mong muốn đến hiện thực vẫn còn một khoảng cách khá xa. Và để rút ngắn khoảng cách này, những đòi hỏi từ thực tiễn cũng như thay đổi tư duy hành động đang đặt ra không ít việc phải làm.

Một trong 19 tiêu chí theo chuẩn Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là làm sạch môi trường và cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch, hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế... Để thực hiện mục tiêu này, các ban, ngành và các địa phương ở Nghệ An, trong thời gian qua đã khẩn trương thực hiện các giải pháp, song cho đến thời điểm này, vấn đề nước sạch, không chỉ ở khu vực nông thôn mà các vùng ven đô vẫn còn hết sức nan giải.

Nhiều công trình nước sạch bị "treo" và... "hoang hóa"

Nghệ An, có 478 xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, mới chỉ có khoảng 30-40% số xã có nước sạch sinh hoạt. Tại hầu hết các huyện trong tỉnh, nước sạch đã trở thành vấn đề nan giải. Hơn 500 hộ dân khối chế biến lâm sản ở phường Quang Phong - thị  xã Thái Hòa (Nghệ An) hiện nay đang khốn khổ vì dự án nước sạch bị "treo", người dân phải đi xa hàng cây số mua nước về dùng và sinh hoạt.

Rác thải vẫn tràn ngập các hồ ao ở nông thôn

Căn nguyên của nỗi khổ đó là dự án nước sạch mà người dân nơi đây đã "cắn răng" đi vay ngân hàng để đầu tư hơn 4 năm nay đã bị "treo" khiến cho các hộ dân khối này hết sức bức xúc.

Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm",  Nhà nước hỗ trợ 60%, dân đóng góp 40%. Dân không có tiền nên Hội CCB đã đứng ra vay Ngân hàng chính sách được 500 triệu đồng. Chỉ có 120 hộ gia đình vay và đóng tiền cho dự án mỗi hộ 1,2 triệu đồng. Đơn vị thi công bắt đầu thi công lắp đặt đường ống dẫn nước cho khối ngày 27/12/2007. "Họ thi công rất chậm rồi sau đó dừng lại cho đến nay, vậy là 120 hộ chúng tôi 4 năm rồi phải cắn răng trả lãi ngân hàng mà nước không có lấy một giọt" - Một người dân bức xúc.

Hay như bất cập tại các dự án theo Chương trình 135 của Chính phủ đều nằm "đắp chiếu" nên người dân chỉ biết "kêu trời". Đơn cử như đường ống dẫn nước xã Thanh Đức (huyện Thanh Chương) được lắp đặt vào năm 2008. Công trình sử dụng nguồn vốn từ Chương trình 135, với số tiền lên đến 1,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, từ khi khánh thành đến nay, đã 3 năm nhưng công trình này chưa một lần vận hành bởi không có nguồn nước!

Theo tìm hiểu của chúng tôi, các xã Liên Thành, Sơn Thành (huyện Yên Thành); Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Lộc (huyện Quỳnh Lưu); Nghi Kiều, Nghi Văn, Nghi Lâm (Nghi Lộc), các công trình nước sạch cũng bị "treo" hoặc  có thì cũng hoạt động "ì ạch".

Lên huyện Quỳ Châu mới thấy hết nỗi "ấm ức" của người dân. Tại các xã được cho là "vùng sâu vùng xa" của huyện như xã Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm... các công trình nước sạch cũng được làm đi làm lại như chuyện cơm bữa. Thế nhưng, công trình hiệu quả nhất cũng chỉ hoạt động được vài tháng rồi người dân lại phải trở lại với thói quen hàng ngày là dùng nước suối vì... đã bị hỏng lúc nào không hay. Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng xã Châu Phong có ít nhất 30 bể nước bị cạn khô.

Thành thị cũng khốn khổ vì hai chữ... "nước sạch"

Nam Đàn là một huyện điểm trong đề án xây dựng nông thôn mới, thế nhưng đến nay vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường vẫn là một giấc mơ mà người dân mong đợi từ lâu. Quyết định xây dựng nhà máy nước sạch ở huyện Nam Đàn đã được phê duyệt từ năm 2001 theo Quyết định 226 ngày 9/3/2001 của UBND tỉnh Nghệ An, thế nhưng đến nay người dân ở thị trấn Nam Đàn và vùng lân cận vẫn chưa có nước để dùng.

Ông Lê Văn Quý, Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch, huyện Nam Đàn, là một trong những thành viên ban chỉ đạo xây dựng Nhà máy Nước sạch Nam Đàn, cho biết: "Theo kế hoạch là tháng 3 năm 2011 sẽ hoàn thành, tuy nhiên trong khi thi công có những vấn đề phát sinh dẫn đến chậm tiến độ. Nguyên nhân cơ bản là do nguồn kinh phí hạn hẹp...".

Không chỉ ở Nam Đàn, mà ngay cả  một số huyện lân cận thành phố Vinh, đến nay nước sạch vẫn là một giấc mơ.

1/7/2008, các xã Nghi Ân, Nghi Đức, Nghi Kim, Nghi Liên (huyện Nghi Lộc) và xã Hưng Chính, Hưng Thịnh (huyện Hưng Nguyên) chính thức được sáp nhập vào thành phố Vinh (Nghệ An). Qua 2 năm được lên đời thành phố, cuộc sống người dân tưởng sẽ thay đổi, nhưng hóa ra vẫn chỉ là cái "mác".

Các xã thuộc huyện Nghi Lộc trước đây bao gồm: Nghi Đức, Nghi Ân, Nghi Liên…hoàn toàn chưa có hệ thống đường ống nước máy sinh hoạt, đồng nghĩa với việc 100% người dân chưa có nước máy sử dụng. "May mắn" nhất là xã Hưng Chính đã có hệ thống đường ống nhưng nằm cuối nguồn Nhà máy nước nên "họa chăng hay chớ" mới có nước dùng.

Dở khóc dở cười là các khối: 1, 2, Châu Hưng, Yên Cư thuộc phường Vinh Tân (TP Vinh). Các khối này dùng nước máy cùng đường ống nước của xã Hưng Thịnh từ năm 2002 đến nay. Nhà máy bán nước tính theo chỉ số ở đồng hồ tổng chứ không phải là đồng hồ tại gia đình. Mọi thu chi, cân đối và quản lý hệ thống đường ống đều thông qua HTX điện nước Hưng Thịnh.

Đường ống nước hiện đã xuống cấp nghiêm trọng gây rò rỉ, thêm tình trạng ăn cắp, lãng phí nước gây thất thoát một lượng nước lớn trên toàn hệ thống. Người dân dùng nước phải chi trả giá thành nước gấp đôi giá thông thường vì phải bù vào lượng nước thất thoát. Tình trạng này đã kéo dài nhiều năm. Hai năm qua, người dân 4 khối này đã kiến nghị lên các cấp, các ngành vấn đề này nhưng vẫn chưa được giải quyết.

Về vấn đề này, ông Phạm Duy Kỷ, Phó Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Nghệ An, cho biết: "Hiện toàn tỉnh Nghệ An có trên 100 xã có nước sạch sử dụng. Tuy nhiên, chất lượng thì vẫn chưa đảm bảo được theo tiêu chuẩn 02 của Bộ Y tế".

(Theo Phạm Tuân -   Quách Bình  -  Monre.gov.vn)

Bài 2: Rác thải - Nỗi lo không của riêng ai

 



Đoàn TNCS HCM Bộ TN&MT phát động cuộc thi “Tìm hiểu về biến đổi khí hậu”

Sáng 20/11, tại Hà Nội, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ TN&MT đã tổ chức Lễ Phát động Cuộc thi “Tìm hiểu về biến đổi khí hậu” cho trên 7.000 đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) đang công tác, học tập tại Hà Nội. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Kế hoạch truyền thông về biến đổi khí hậu (BĐKH) của Bộ TN&MT.
Phát động cuộc thi, đồng chí Trương Đức Trí, Bí thư Đoàn Bộ TN&MT nêu rõ, mục đích của cuộc thi nhằm nâng cao nhận thức, cung cấp những kiến thức cơ bản về BĐKH và các tác động của chúng đối thức từng ngành, lĩnh vực mà các ĐVTN đang công tác. Từ những kiến thức đó, thanh niên xác định các hành động ứng phó thích hợp với các tác động tiệu cực của BĐKH, đồng thời tận dụng các cơ hội của BĐKH mang lại. Ngoài ra, cuộc thi còn là diễn đàn để các ĐVTN tiếp cận cách nhìn mới, hướng tới việc thay đồi hành vi, nhận thức và các ứng xử của con người đối với thiên nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh BĐKH.
b1
Bí thư Đoàn TNCSHCM Bộ TN&MT Trương Đức Trí phát động cuộc thi
Tham dự và chỉ đạo tại Lễ Phát động, đồng chí Nguyễn Mạnh Hiển – Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ TN&MT đánh giá cao sáng kiến tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu về biến đổi khí hậu” của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ TN&MT. Theo đồng chí Nguyễn Mạnh Hiển, để có hướng đi và hành động đúng trong công tác ứng phó với BĐKH và tác động của chúng, trong những năm qua, Bộ TN&MT đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức xã hội đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về BĐKH. Một trong các hoạt động thiết thực đó là cuộc thi “Sáng tạo Việt Nam” với chủ đề “Biến đổi khí hậu” do Bộ TN&MT phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Ngân hàng thế giới tổ chức và Chiến dịch “Giờ Trái đất” do Bộ phối hợp với Bộ Công Thương và Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên tổ chức. “Các thành quả bước đầu đạt được trong Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH có sự đóng góp đáng kể của thế hệ trẻ Bộ TN&MT”, Thứ trưởng nhấn mạnh. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hiển tin tưởng rằng, các tập thể, cá nhân đật giải trong cuộc thi “Tìm hiểu về biến đổi khí hậu” sẽ đưa ra những mô hình, sáng kiến góp phần thích ứng hoặc giảm nhẹ các tác động tiêu cực do BĐKH gây ra, từ đó có thể nhân rộng mô hình để triển khai trong toàn ngành TN&MT, rộng hơn là áp dụng triển khai trên phạm vi toàn quốc. Đồng chí đề nghị, cấp ủy và thủ trưởng các đơn vị chỉ đạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các ĐVTN trong đơn vị tham gia đầy đủ với tinh thần trách nhiệm cao trong cuộc thi.
b2
Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển chỉ đạo tại Lễ Phát động
Về thể lệ cuộc thi, nội dung cuộc thi gồm 20 câu hỏi trắc nghiệm và 1 câu hỏi tự luận do các chuyên gia đầu ngành biên soạn. Nội dung đề thi được đăng tải chi tiết trên website của Bộ: http://www.monre.gov.vn. GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ - Trưởng Ban Giám khảo nhấn mạnh, Ban Tổ chức khuyến khích ĐVTN ở các cơ quan, đơn vị, trường học thuộc Bộ TN&MT thảo luận tập thể, thảo luận nhóm, trao đổi, tìm kiếm thông tin trên mọi phương tiện thông tin đại chúng và trả lời các câu hỏi của cuộc thi một cách trung thực, trí tuệ, sáng tạo, thể hiện trách nhiệm của mình với vấn đề nóng bỏng của đất nước.
Thời gian nhận bài dự thi từ ngày 20/11 – 4/12. Cơ cấu giải thưởng gồm 2 loại: Giải Cá nhân và Giải Tập thể. Giải Cá nhân gồm: 1 giải Nhất trị giá 2 triệu đồng; 2 giải Nhì mỗi giải 1,5 triệu đồng; 2 giải Ba mỗi giải 1 triệu đồng và 5 giải Khuyến khích mỗi giải 500 nghìn đồng. Giải tập thể gồm: 1 giải Nhất trị giá 3 triệu đồng; 1 giải Nhì trị giá 2 triệu đồng; 1 giải Ba trị giá 1 triệu 500 nghìn đồng và 1 giải Khuyến khích trị giá 1 triệu đồng. Giải tập thể được trao cho những tập thể có tỷ lệ tham gia nhiều nhất và nộp bài dự thi sớm nhất. Lễ trao giải cuộc thi sẽ được tổ chức vào tháng 12/2010 tại Hà Nội.
b3
Ban Thường vụ Đoàn Bộ, Bí thư các cơ sở đoàn trực thuộc cam kết tham gia cuộc thi

 Trong khuôn khổ cuộc thi này, Đoàn Bộ TN&MT cũng tổ chức nhiều hoạt động truyền thông thiết thực về BĐKH thông qua các tài liệu, tờ rơi, poster, pano, áp phích với những thông điệp dễ hiểu; triển lãnh ảnh về tác động của thiên tai, BĐKH cũng là cơ hội tốt để ĐVTN cảm nhận rõ hơn về tác động của BĐKH đến mọi mặt của đời sống xã hội.
 
b4
ĐVTN xem triển lãm tranh
b5
1 tác phẩm tham dự triển lãm tranh về tác động của thiên tai, BĐKH
(Theo Phương Lan - Monre)
 

 

Câu hỏi và thể lệ cuộc thi "Tìm hiểu về biến đổi khí hậu"

Câu hỏi và thể lệ cuộc thi "Tìm hiểu về biến đổi khí hậu" bạn có thể download tại đây

Giới trẻ hành động chống biến đổi khí hậu

Những bức ảnh về biến đổi khí hậu được trưng bày tại Hội thảoThực tế cho thấy, sự thay đổi về khí hậu đang ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống con người. Đáng chú ý, trẻ em thường là đối tượng thụ động và 50% nạn nhân thiên tai là trẻ em.
"Biến động khí hậu và tác động của nó tới cuộc sống của tôi" là tên cuộc hội thảo được tổ chức sáng 21/11 tại Viện Goethe (Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Đây là sự kiện khởi động cuộc thi Vietdocs - một dự án phát triển phim tài liệu của Viện Goethe, dành cho các bạn trẻ từ 18- 30 tuổi có mong muốn thực hiện các bộ phim tài liệu ngắn về các chủ đề sinh thái.

 

Hội thảo đã thu hút nhiều diễn giả là những chuyên gia hàng đầu về vấn đề môi trường như ông Hứa Chiến Thắng (Trung tâm Quy hoạch, điều tra đánh giá tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, Tổng cục biển và hải đảo Việt Nam), PGS.TS Trần Việt Liễn (Trung tâm Khoa học Công nghệ Khí tượng Thủy văn và Môi trường), ông Dirk Euler (Nhà sinh học DED Việt Nam),... và đông đảo những người quan tâm tới cuộc thi Vietdocs và biến đổi khí hậu.

Nhà báo chuyên viết về môi trường Trần Thị Mỹ Hằng (Báo Tiền Phong) đã đề cập tới tác động của biến đổi khí hậu thông qua hai câu chuyện của cá nhân chị khi tham gia tác nghiệp.

Câu chuyện thứ nhất “Đói vì biến đổi khí hậu”, dựa trên chuyến đi thực tế cùng các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Phát triển Nông thôn – Bộ NN&PTNT tại huyện Vũ Quang và Lộc Hà (Hà Tĩnh). Thực tế cho thấy, người dân hai huyện này chính là nạn nhân trực tiếp của biến đổi khí hậu. Thời tiết khắc nghiệt và thiên tai đã khiến họ dần lâm vào cảnh túng thiếu, đói ăn.

Câu chuyện thứ hai “Khi cơn bão đi qua” là khi chị cùng ba cán bộ của Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia vào Đà Nẵng để “đón” bão Xangsane. Cơn bão đi qua đã để lại những thiệt hại lớn về người và của.

Còn theo ông Trần Việt Liễn, biến đổi khí tác động mạnh mẽ đến sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam, bao gồm tác động trực tiếp (tác động của nhiệt và tác động của các hiện tượng khí tượng cực đoan) và tác động gián tiếp (tác động của nước biển dâng, tác động gây ra do nhiễu loạn các hệ sinh thái – hệ thống dịch bệnh, ô nhiễm…).

Bà Đỗ Vân Nguyệt (Tổ chức Live and Learn) đề cập khía cạnh giới trẻ Việt Nam đang phải chịu đựng các hậu quả từ sự thiếu hiểu biết “mù chữ sinh thái”. Ngoài ra, trẻ em thường là đối tượng thụ động và 50% nạn nhân thiên tai là trẻ em. Theo đó, để trẻ em tham gia từ việc đánh giá tình hình thiên tai đến việc xây dựng kế hoạch trường học an toàn, giám sát hoạt động thiên tai vừa đem lại hiệu quả cao vừa ít tốn kém./.

(Theo VOV)

Sông Thames bị chê bẩn

1290393528.nvCon sông Thames nổi tiếng của Anh đã "được" đưa vào danh sách 5 con sông bẩn nhất nước Anh và Xứ Wales trong một cuộc bình chọn trên mạng do các nhóm môi trường ở Anh phát động.

Cuộc bình chọn nằm trong chiến dịch "Những con sông của chúng ta", thu hút sự tham gia của hàng ngàn người. Theo những người bình chọn, sông Thames đã bị ô nhiễm nặng do chất thải từ đường phố.

Con sông Thames nổi tiếng của Anh vừa bị đưa vào danh sách 5 con sông bẩn nhất nước Anh và Xứ Wales -Ảnh: travelblog.viator.com

"Rác rưởi và ô nhiễm ở vài khúc sông đã phá hủy toàn bộ vẻ đẹp con sông. Thật đáng buồn", một người bình chọn phát biểu trên trang web ourrivers.org.uk. Ngoài ra bờ sông cũng bị xói mòn và lối đi dọc bờ sông "rất tệ".

Trước đó, một báo cáo của Cơ quan môi trường Anh hồi đầu tháng 11 cho biết trong số các con sông ở Anh và Xứ Wales, có đến 72% sẽ không đạt được mục tiêu các dòng sông sạch của châu Âu. Theo đó, đến năm 2015, toàn bộ sông ở châu Âu sẽ đạt chuẩn "tốt" hoặc "tốt hơn".

"Chúng tôi biết sức ép mà các dòng sông đang đối mặt, nhưng Cơ quan môi trường cần điều tra nguồn gốc khiến các sông ô nhiễm và giải quyết chúng triệt để. Họ cần làm việc với các nhà môi trường, các nông dân, chủ đất, những người câu cá và các nhóm lợi ích khác để đảm bảo môi trường khỏe mạnh cho các loài sống dựa vào các con sông" - một người phát ngôn của chiến dịch "Những con sông của chúng ta" nói.



(Theo TTO)

UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND quy định rõ quyền hạn của các cơ quan chức năng trong việc cấp giấy phép sử dụng tài nguyên nước.

Theo đó, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là đơn vị được cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp: thăm dò, khai thác nước dưới đất đối với công trình có lưu lượng từ 10 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm; khai thác và sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng từ 1 m3/giây đến dưới 2 m3/giây; khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích không phải cho sản xuất nông nghiệp và phát điện với lưu lượng từ 5.000 m3/ngày đêm đến dưới 50.000 m3/ngày đêm; xả nước thải vào lưu vực nguồn nước với lưu lượng từ 10 m3/ngày đêm đến dưới 5.000 m3/ngày đêm; xả nước thải bệnh viện vào lưu vực nguồn nước với lưu lượng dưới 5.000 m3/ngày đêm.

Đồng thời, được cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất quy mô vừa và nhỏ cho các tổ chức, cá nhân có địa chỉ thường trú trên địa bàn thành phố theo quy định.             

UBND các quận, huyện, thị xã được cấp giấy phép đối với tổ chức và hộ cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn cho mục đích không phải sinh hoạt. Cụ thể, cấp giấy phép khai thác và sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng dưới 1 m3/giây; khai thác và sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng dưới 1 m3/giây; khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích không phải cho sản xuất nông nghiệp và phát điện với lưu lượng dưới 5.000 m3/ngày đêm; xả nước thải (sinh hoạt, sản xuất, nhà hàng, khách sạn) vào lưu vực nguồn nước với lưu lượng dưới 10 m3/ngày đêm.     

Cũng theo Quyết định này, giấy phép sẽ bị thu hồi trong trường hợp được cấp nhưng không sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc chủ giấy phép vi phạm nội dung quy định của giấy phép, gây cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước.

 

(Theo DWRM)    

Cần khẩn trương xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hương - sông Bồ (Thừa Thiên - Huế)

Ông Võ Phi Hùng, Giám đốc Sở Công Thương Thừa Thiên - Huế cho biết: Các công trình xây dựng thủy điện trên địa bàn đều đảm bảo ba mục tiêu là phát điện, tham gia vào việc cắt giảm lũ vào mùa mưa cho vùng hạ lưu và chống hạn vào mùa khô.
Đến nay, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 10 công trình thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn; trong đó có 4 dự án đã được triển khai, gồm: Thủy điện Bình Điền công suất 44MW nằm ở đầu nguồn sông Hương; đã xây dựng hoàn thành và đi vào hoạt động từ 19/5/2009. Thủy điện Hương Điền công suất 81MW nằm đầu nguồn sông Bồ đã phát tổ máy số 1 (27MW) vào tháng 10/2010, hiện đang hoàn thành đưa 2 tổ máy còn lại phát điện vào cuối quý IV/2010 và đầu quý I/2011. Dự án thuỷ điện A Lưới 170MW, đã hoàn thành khoảng 70% công việc; dự kiến tích nước vào quý IV/2011, phát điện năm 2012. Riêng công trình thủy điện A Lin B1(40MW) vừa được khởi công ngày 30/8/2010; dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2012-2013.      
Điều đáng chú ý là các dự án thủy điện nói trên đều nằm trên lưu vực sông Hương - sông Bồ. Mùa lũ năm 2009 và 2010 vừa qua, thủy điện Bình Điền và Hương Điền thực hiện xả lũ theo quy trình vận hành hồ chứa thủy điện được Bộ Công Thương phê duyệt, và yêu cầu xả lũ khẩn cấp của Ban Chỉ huy PCLB&TKCN tỉnh Thừa Thiên - Huế. Kết quả là các đợt lũ vào tháng 9, 10, 11/2010 vừa qua, các công trình này đã góp phần không nhỏ vào việc cắt giảm mực nước trên sông Bồ và sông Hương, tránh không gây ngập lụt cho hạ du. Riêng đợt lũ xảy ra từ 14-17/11 mới đây, kết quả quan trắc cho thấy, tại hồ thủy điện Bình Điền, lưu lượng nước về hồ lúc lớn nhất là 1.442 m3/s, nhưng mức điều tiết nước sau khi mở 5 cửa van với lưu lượng về hạ du là 826 m3/s. Tương tự tại hồ thủy điện Hương Điền lưu lượng nước về hồ lúc lớn nhất là 4.700 m3/s, nhưng mức điều tiết nước khi vận hành mở 2 cửa van điều tiết nước về hạ du với lưu lượng 1.200 m3/s. Với mức nước xả lũ nhỏ hơn mức nước đổ về các hồ chứa như hiện nay, có thể nhận thấy là các hồ thủy điện đã thực hiện đúng quy trình vận hành và góp phần không nhỏ cho việc giảm ngập úng cho vùng hạ lưu các con sông Hương và sông Bồ.
 Mới đây, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) phối hợp với Viện Tài nguyên môi trường và Công nghệ sinh học - Đại học Huế vừa tổ chức tại thành phố Huế một cuộc hội thảo khoa học "Đánh giá tác động và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý, khai thác hiệu quả các hồ chứa nước ở Bắc Trung bộ". Trong đó, khuyến nghị Thừa Thiên - Huế cần khẩn trương xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hương - sông Bồ. Bởi lẽ, bên cạnh những lợi ích hiển nhiên do khai thác, sử dụng tài nguyên nước các hồ chưa mang lại, thực tế cho thấy do còn nhiều tồn tại, bất cập trong quy hoạch phát triển, trong xây dựng, quản lý, bảo vệ, khai thác hồ chứa.
Việc phát triển nóng và xây dựng thiếu quy hoạch thống nhất các hồ chứa thủy lợi và nhất là các hồ chứa thuỷ điện của các thành phần kinh tế đang gây ra tình trạng huỷ hoại nghiêm trọng tài nguyên đất, rừng đầu nguồn, khoáng sản, đa dạng sinh học và nhiều tài nguyên thiên nhiên khác. Theo đó, việc lập quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện ngoài qui trình vận hành của từng hồ chứa riêng biệt, cần sớm xây dựng và thực hiện qui trình vận hành liên hồ trên địa bàn để vận hành và quản lý một cách tổng thể, khoa học và hiệu quả hơn...Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Quyết định số 1879/QĐ-TTg ngày 13/10/2010 giao Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa thuộc lưu vực sông Hương, sông Bồ gồm 4 hồ: Bình Điền, Hương Điền, Tả Trạch và A Lưới. Ngoài ra, một giải pháp phòng ngừa từ xa là tiến hành trồng rừng nhằm góp phần đảm bảo độ che phủ và chống xói lở ở thượng nguồn, bù đắp lại diện tích rừng bị ngập do các hồ thuỷ điện gây ra...
(Theo Monre.gov.vn)

Tương lai gần - VN sẽ khan hiếm nước

abNước sạch - nguồn tài nguyên quý giá của con người đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm, biến chất. Lượng nước mặt tính bình quân đầu người (tính theo lượng nước sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam) hiện nay khoảng 3.840m3/người/năm, dự báo đến năm 2015 chỉ còn 2.830m3/người/năm. Tương lai gần, VN sẽ khan hiếm nước.

 

Tài nguyên nước có hạn song nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, làm sao quản lý tổng thể để sử dụng hiệu quả là bài toán mà cộng đồng phải chung tay giải.

Tài nguyên bị "lạm dụng"

Ông Martin Junker - Cố vấn trưởng của Dự án Nâng cao năng lực quản lý và đánh giá tài nguyên nước VN - đã gọi tình trạng sử dụng nước bất hợp lý là "lạm dụng tài nguyên nước" tại hội thảo quản lý tổng hợp tài nguyên ở VN và LB Đức vào đầu tháng 11 tại Hà Nội.

Các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước đã đưa ra khuyến cáo ngưỡng khai thác được phép tại các quốc gia nên giới hạn phạm vi 30% lượng dòng chảy nhưng tại hầu hết các tỉnh miền trung, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên... đang khai thác hơn 50%. Cá biệt có một số tỉnh như Ninh Thuận đã khai thác tới 70-80% lượng dòng chảy về mùa khô. Khai thác quá mức cho phép đã làm số lượng và chất lượng tài nguyên nước trên các lưu vực sông lớn của Việt Nam như sông Hồng, Thái Bình, Ðồng Nai... suy thoái nghiêm trọng.

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng không song hành với công tác bảo vệ môi trường đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn nước.

Rõ thấy nhất là chất lượng nước ba lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Ðáy, Ðồng Nai - Sài Gòn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, có những đoạn sông đã "chết" hoàn toàn, nhất là ở các vùng hạ lưu.

Cục trưởng Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên - Môi trường), Nguyễn Hoà Bình nêu ví dụ, sức ép lên môi trường nước lưu vực sông Cầu ngày càng lớn do phát triển kinh tế xã hội. Sản phẩm từ công nghiệp, xây dựng ở các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, khai thác khoáng sản ở Bắc Kạn, Thái Nguyên đã dẫn đến tình trạng nước mặt tại các vùng trung lưu của lưu vực sông Cầu đang bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng và ô nhiễm cục bộ do dầu mỡ.

Nạn khai thác, đốt rừng bừa bãi gây xói mòn, thoái hoá đất và đồng thời làm cho nguồn nước cạn kiệt, lũ lụt, hạn hán đang có xu thế gia tăng và nghiêm trọng hơn. Hiện nay, nhiều người dân vẫn còn coi nước là "của trời cho", sử dụng bừa bãi, thiếu ý thức tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước. Khai thác, sử dụng nước dưới đất không hợp lý đã gây ra sụt lún đất, hạ thấp mực nước ngầm ở một số nơi, nhiễm mặn khá phổ biến ở nhiều vùng ven biển, ảnh hưởng tới tầng chứa nước ngọt.

7 thách thức

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên - Môi trường) Lê Hữu Thuần, 7 thách thức đối với tài nguyên nước của Việt Nam là sự phụ thuộc vào các nguồn nước bên ngoài lãnh thổ; phân bố nguồn nước không đồng đều theo không gian và thời gian; gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội; suy thoái ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên nước do khai thác sử dụng quá mức và không hợp lý các nguồn nước; thiên tai liên quan đến tài nguyên nước; ảnh hưởng do khai thác sử dụng nước ở các quốc gia đầu nguồn; tác động của biến đổi khí hậu.

Cụ thể, hơn 60% tổng lượng nước chảy qua lãnh thổ VN sản sinh từ nước ngoài và trên 70% diện tích lưu vực các hệ thống sông ngòi nằm ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh đó, tài nguyên nước phân bố không đều theo thời gian (lượng nước trung bình trong 3-5 tháng mùa lũ chiếm khoảng 70-80%, trong khi 7-9 tháng mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 20-30% lượng nước cả năm). Tài nguyên nước cũng phân bố không đều giữa các vùng (trên 60% nguồn nước sông tập trung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long).

Ông Thuần cảnh báo: "Lượng nước mặt tính bình quân đầu người (tính theo lượng nước sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam) hiện nay khoảng    3.840m3/người/năm, dự báo đến năm 2015 chỉ còn 2.830m3/người/năm. Tương lai gần Việt Nam sẽ trở thành quốc gia khan hiếm nước".

6.000 tỉ đồng cho 10 năm

Tài nguyên nước có hạn trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng. Do đó, ngoài việc cấp phép và kiểm tra việc sử dụng nước của các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, khai thác khoáng sản, các cơ quan quản lý tài nguyên nước cần có nghiên cứu về quy hoạch sử dụng nước.

Chương trình mục tiêu quốc gia Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước đang được xây dựng để trình Chính phủ. Theo Dự thảo "Chương trình mục tiêu quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước", mục tiêu trong 10 năm tới tiết kiệm từ 8-10% tổng mức sử dụng nước so với dự báo hiện nay về nhu cầu sử dụng nước của các ngành; chủ động ngăn ngừa, hạn chế tình trạng ô nhiễm, hạn hán, thiếu nước trong mùa khô trên 13 lưu vực sông ưu tiên của VN.

Trong 10 năm tới cần tập trung nguồn lực trên cơ sở thực hiện các dự án liên quan đến tài nguyên nước. Dự kiến tổng kinh phí thực hiện chương trình khoảng 6.000 tỉ đồng, được phân bổ: 60% từ vốn ODA; 30% từ ngân sách trung ương; 5% từ ngân sách địa phương; 5% là đóng góp của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Khi Chương trình này được phê duyệt, sẽ là cơ sở để các nhà tài trợ quốc tế xây dựng chiến lược đầu tư, tài trợ cho ngành nước ở VN trong 10 năm tới.

Bên cạnh những chiến lược đem lại hiệu quả bền vững, lâu dài cũng rất cần những chương trình cụ thể, áp dụng thực tế để bảo vệ và quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

Trưởng phòng Dự báo thuỷ văn Bắc Bộ (Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn Trung ương) Đặng Ngọc Tĩnh đề xuất, có thể xây dựng các mô hình chia sẻ tài nguyên nước cho lưu vực sông Hồng để làm cơ sở xây dựng các quy trình vận hành liên hồ chứa, chia sẻ tài nguyên nước giữa những đối tượng sử dụng một cách hợp lý.

Theo đó, các hồ chứa thuỷ điện cần bổ sung, sửa đổi quy trình vận hành, điều tiết mùa cạn, trong đó cần tính tới nhu cầu dùng nước của các hộ sử dụng khác như nông nghiệp, giao thông thuỷ, cấp nước sinh hoạt… Các nhà máy thuỷ điện phải cung cấp thường xuyên kế hoạch phát điện, xả nước xuống hạ du cho các cơ quan quản lý nước ở địa phương và Trung ương.

(Theo Hà Linh - Báo Lao động 18/11)