Sun09232018

Last update04:00:00 AM GMT

Tin tức sự kiện

Giải quyết nước sạch và nhà ở cho người nghèo nơi biên giới

      *  Thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trong giai đoạn mới, Tổng Cục Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) vừa có tờ trình số 26/TTrpTCTL-QLNN ngày 10/8/2010 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư các dự án quy hoạch cấp nước nông thôn các vùng kinh tế trọng điểm trong điều kiện biến đổi khí hậu. Theo đó, Tổng Cục Thủy lợi đề nghị Bộ NN&PTNT cho phép triển khai quy hoạch cấp nước 04 huyện vùng cao Hà Giang gồm Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ và Yên Minh theo đề nghị của Sở NN&PTNT tỉnh Hà Giang. Nguồn kinh phí triển khai các dự án này được lấy từ nguồn kinh phí sự nghiệp, chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đọan 2011 – 2015.  

            *  Uỷ ban Mặt trận tổ quốc tỉnh Kon Tum phối hợp với Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Kon Tum tổ chức bàn giao nhà Đại đoàn kết “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”. Đã có 50 căn nhà được giao cho 50 hộ dân ở 2 huyện biên giới Ngọc Hồi (40 căn) và Sa Thầy (10 căn). Theo đó, mỗi căn nhà có diện tích từ 36-42 mét vuông. Nhà đựơc xây dựng kiêng cố, có cửa sắt, lợp tôn, nền xi măng, lót gạch hoa…. mỗi căn nhà có giá trị khoảng 30 triệu đồng, trong đó Công ty TNHH 1 TV Xổ số kiến thiết Kon Tum tài trợ 20 triệu đồng/căn, còn lại là sự đóng góp về vật chất, ngày công của hộ gia đình, cộng đồng, chiến sỹ các đồn biên phòng đứng chân trên địa bàn. Ngoài ra, trong đợt xây dựng nhà lần này, có 5 hộ dân không có đất đã được người dân trong làng tự hiến đất xây nhà.   Ngay sau lễ bàn giao, các hộ dân cũng đã tiến hành nhận và dọn đến ở.

 

(Theo  Thu Hà, Cao Nguyên - Monre)

Dự án tái định cư thủy điện Tuyên Quang giúp 595 hộ thoát nghèo

 Theo kết quả điều tra của tỉnh Tuyên Quang về tình hình đời sống của các hộ dân sau 8 năm di chuyển đến sống tại các điểm tái định cư để nhường chỗ cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang, đời sống các hộ dân cơ bản đã ổn định, đặc biệt có 595 hộ đã thoát nghèo. Hiện tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm tái định cư giảm chỉ còn 15,65% (645 hộ nghèo), giảm một nửa tỷ lệ hộ nghèo so với thời điểm thời điểm trước khi di chuyển (hơn 30% hộ nghèo).

Được biết, để nhường chỗ cho Nhà máy thủy điện Tuyên Quang    4.139 hộ, với 20.138 nhân khẩu thuộc 88 thôn, ở 11 xã thuộc vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang đã phải di chuyển (trong đó có 4 xã phải di chuyển 100% số dân khỏi địa bàn). Số hộ di chuyển được bố trí ở tại 125 điểm tái định cư, trong đó, huyện Nà Hang có 31 điểm tái định cư, tiếp nhận 1.396 hộ, 6.349 nhân khẩu; huyện Chiêm Hóa có 33 điểm tái định cư, tiếp nhận 807 hộ với 4.197 nhân khẩu; huyện Hàm Yên có 28 điểm tái định cư tiếp nhận 481 hộ với 2.377 nhân khẩu…Để giúp các hộ dân có điều kiện sống tốt nhất, các điểm tái định cư đã xây dựng trên 4 triệu m2 mặt bằng; xây mới và nâng cấp trên 300 km đường giao thông; 14 đập tràn, 16 cầu bê tông cốt thép. Ngoài ra, để phục vụ nhu cầu sản xuất cho nhân dân, các điểm tái định cư còn đầu tư xây mới 2 trạm bơm điện; sửa chữa, nâng cấp và làm mới 45 đập dâng, 2 hồ chứa nước và xây mới 110 km kênh mương; xây dựng 88 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và 244 giếng đào. Hệ thống lưới điện tại các khu tái định cư đảm bảo cấp điện đến từng hộ dân. Cùng với đó là các công trình nhà văn hoá, nhà lớp học mầm non và tiểu học được đầu tư xây dựng theo quy định. Do vậy, các hộ dân khi chuyển đến các điểm tái định cư đã nhanh chóng hòa nhập với nơi ở mới, chuyên tâm lao động, có ý thức khắc phục khó khăn vươn lên xây dựng cuộc sống mới ngày càng ổn định.

Ông Chẩu Văn Lâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tuyên Quang cho biết: Tỉnh Tuyên Quang sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách bổ sung để hỗ trợ ổn định đời sống như: bổ sung thêm quỹ đất sản xuất cho các hộ tái định cư, đào tạo nghề giải quyết việc làm, hỗ trợ khoa học công nghệ, vốn cho sản xuất. Đồng thời, tỉnh Tuyên Quang cũng đang chỉ đạo củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền, đoàn thể tại các xã, thôn có khu tái định cư với cơ cấu hợp lý để tạo điều kiện cho các hộ nhân dân tái định cư hoà nhập toàn diện với nơi ở mới.

 

( Theo Vũ Quang Đán - Monre)

Mưa đầu mùa, TP.HCM ngập 20 điểm

          Chiều 26-6, một cơn mưa kéo dài khoảng 40 phút đã làm nhiều tuyến đường ở TP.HCM bị ngập nặng. Theo Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước TP, lượng mưa đo được khoảng 50mm trải đều toàn TP gây ngập tại 20 điểm.

          Đến gần 19g, các hẻm trên đường Kỳ Đồng (Q.3) vẫn còn ngập hơn 30cm. Không chỉ khu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè, các công trình khác đang thi công làm bít đường thoát nước đã gây ngập nặng trên các tuyến đường như Nguyễn Văn Luông, Bà Hom, Hùng Vương (Q.6), Hòa Bình (Q.11)...

          Theo ông Đỗ Tấn Long - Trưởng phòng Quản lý thoát nước thuộc Trung tâm điều hành chương trình chống ngập, hiện còn đến 71 vị trí bị các công trình thi công làm bít đường thoát nước. Thời gian qua UBND TP.HCM cũng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng, chủ đầu tư các dự án có phương án xử lý, khai thông các điểm bị bít đường thoát nước nhưng đến nay tình trạng này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

(Theo QUANG KHẢI - Monre)

Đề án “Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn”: Cần tập trung vào các đô thị trọng tâm


 

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chủ trì buổi làm việc với Trung tâm QH&ĐTTNN

          Sáng 25/6, tại Hà Nội, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chủ trì buổi làm việc với Trung tâm QH&ĐTTNN về Đề án “Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn”.Tham dự có Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy; Giám đốc Trung tâm QH&ĐTTNN Đỗ Tiến Hùng; đại diện Vụ Tài chính, Vụ Kế hoạch, Vụ Khoa học công nghệ, Liên đoàn Điều tra Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước …

          Đề án “Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn” thuộc danh mục Đề án, dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2010 (Đề án số 06) được xây dựng theo Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về “Chiến lược Quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020” ngày 14/4/2006 và Quyết định số 1323/2007/QĐ-BTNMT ngày 4/9/2007 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về việc phê duyệt nội dung và dự toán nhiệm vụ “Xây dựng Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thi lớn”.

          Đề án được xây dựng nhằm bảo vệ nước dưới đất của các đô thị, thành phố lớn như: TP.Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Ban Mê Thuột, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho. Đề án do 3 đơn vị phối hợp thực hiện là Liên đoàn điều tra Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước, Cục Quản lý Tài nguyên nước và Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản.

          Sau khi nghe trình bày đề cương Đề án Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai khẳng định: Bảo vệ Tài nguyên nước là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Đề án mang ý nghĩa rất quan trọng nhằm khắc phục các tình trạng báo động về nguồn nước trong các khu đô thị. Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng cho rằng, Đề án cần tập trung vào một vài đô thi bị ảnh hưởng trầm trọng nhất về tài nguyên nước.

(Theo Trường Giang - Monre)

Đề án “Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn”: Cần tập trung vào các đô thị trọng tâm

 

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chủ trì buổi làm việc với Trung tâm QH&ĐTTNN

          Sáng 25/6, tại Hà Nội, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chủ trì buổi làm việc với Trung tâm QH&ĐTTNN về Đề án “Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn”.Tham dự có Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy; Giám đốc Trung tâm QH&ĐTTNN Đỗ Tiến Hùng; đại diện Vụ Tài chính, Vụ Kế hoạch, Vụ Khoa học công nghệ, Liên đoàn Điều tra Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước …

          Đề án “Bảo vệ nước dưới đất tại các đô thị lớn” thuộc danh mục Đề án, dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2010 (Đề án số 06) được xây dựng theo Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về “Chiến lược Quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020” ngày 14/4/2006 và Quyết định số 1323/2007/QĐ-BTNMT ngày 4/9/2007 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về việc phê duyệt nội dung và dự toán nhiệm vụ “Xây dựng Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thi lớn”.

          Đề án được xây dựng nhằm bảo vệ nước dưới đất của các đô thị, thành phố lớn như: TP.Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Ban Mê Thuột, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho. Đề án do 3 đơn vị phối hợp thực hiện là Liên đoàn điều tra Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước, Cục Quản lý Tài nguyên nước và Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản.

          Sau khi nghe trình bày đề cương Đề án Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai khẳng định: Bảo vệ Tài nguyên nước là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Đề án mang ý nghĩa rất quan trọng nhằm khắc phục các tình trạng báo động về nguồn nước trong các khu đô thị. Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng cho rằng, Đề án cần tập trung vào một vài đô thi bị ảnh hưởng trầm trọng nhất về tài nguyên nước.

( Theo Trường Giang - Monre)

Đi tìm nguồn nước độc

          Gần 1 tháng chứng kiến cảnh cá nuôi trong bè của nhà thi nhau chết, những hộ dân ở phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai đã bàn nhau đi tìm nguồn nước độc.

 

          Bắt đầu từ ngày 8-6-2010, sự kiện cá nổi kín bè chỉ sau một đêm đã làm bàng hoàng người dân ở khu vực nuôi cá bè trên sông Cái, một nhánh của sông Đồng Nai. Ngay sau sự kiện đó, ngành chức năng vào cuộc. Kết luận kiểm tra cho thấy, nguồn nước nuôi cá bè ở đây đang bị ô nhiễm nặng. Mẫu nước có hàm lượng oxy hòa tan (DO) chỉ ở mức 0,7mg/lít.

         Trong khi theo tiêu chuẩn Việt Nam, hàm lượng oxy hòa tan phải từ 5mg/lít trở lên thì cá mới sống được. Nhưng nguyên nhân từ đâu mà nguồn nước ở đây bị ô nhiễm như vậy thì không chỉ đợi các ngành chức năng mà ngay cả người dân bằng hiểu biết và phương tiện có được họ cũng đã dò tìm ra nơi gây ra việc gần 100 tấn cá thi nhau chết trên khúc sông này.

( Theo Minh Thùy - Monre)

Phú Thọ: Hàng trăm hộ dân sống cạnh sông vẫn thiếu nước sinh hoạt

Về Cổ Tiết và Hương Nộn, huyện Tam Nông (Phú Thọ) những ngày này mới cảm thấy nỗi vất vả của người dân nơi đây. Nước sinh hoạt đang là vấn đề "nóng" được bà con quan tâm còn hơn cả tình trạng cắt điện triền miên. Nhất là tại xã Cổ Tiết, địa phương nằm cạnh sông Hồng nhưng nguồn nước ngầm lại bị ô nhiễm nặng. Toàn xã có 14 khu hành chính thì có tới 8 khu thiếu nước sinh hoạt, trong đó các khu 1, 11, 12, 13 thiếu nước trầm trọng hơn cả.

Để đối phó với tình trạng thiếu nước, một số gia đình đào giếng dùng chung nhưng cũng rất khó tìm được vị trí đào giếng có nước, hoặc nếu có cũng không dùng được do có nước có màu vàng và cặn lắng. Ở Cổ Tiết, nhiều năm nay, các hộ dân đã phải mua nước sử dụng. Có những gia đình, mỗi tháng phải bỏ ra vài trăm nghìn đồng để mua nước sạch. Ông Hán Ngọc Thanh, khu 11 cho biết, gia đình cũng đã vài lần đào giếng nhưng nước không dùng được, năm ngoái gia đình còn thuê thợ về khoan hai giếng, mỗi giếng sâu từ 40 - 50 m nhưng nước bơm lên có màu vàng, mùi hôi tanh, nước đun sôi có lớp váng. Trung bình mỗi tháng gia đình phải mua tới 200 can nước, tính rẻ cũng trên 300.000 đồng. Do khó khăn về kinh tế, phần lớn các gia đình ở khu vực này chỉ mua nước để ăn uống, còn nước dùng để vo gạo, rửa rau và sinh hoạt hàng ngày vẫn phải dùng nguồn nước không hợp vệ sinh này. Bình quân hàng tháng, mỗi gia đình cũng bỏ ra vài trăm nghìn đồng để mua nước ăn, mua phèn về làm trong nước.

Có cầu là có cung. Một số gia đình có giếng không bị ô nhiễm đã hình thành dịch vụ bán nước sạch. Gia đình anh Nguyễn Ngọc Kiên, khu 5, xã Cổ Tiết là một ví dụ. Măy mắn, gia đình anh đào được giếng trúng mạch nước sạch nên giếng lúc nào cũng ăm ắp nước. Thấy nhu cầu của người dân trong khu vực, anh đã quyết định mua xe bò chở nước đi bán. Năm năm qua, nhờ cái giếng này trung bình một ngày anh Kiên bán được khoảng 4-5 chuyến (mỗi chuyến 12 can 20 lít) với giá 2.000 đồng mỗi can. Hay như gia đình anh Hà Văn Hiển ở khu 5 cũng vậy. Mỗi ngày hai lần, vợ chồng anh lại kéo xe chở nước đi bán khắp làng, vừa tăng thu nhập, vừa "giải hạn" cho nhân dân khát nước.

            Cùng với Cổ Tiết, xã Hương Nộn cũng có nhiều khu thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. "Chẳng ai nghĩ nằm cạnh một con sông lớn như sông Đà lại không có một giọt nước sạch để dùng" - ông Lê Minh Khang, Trưởng khu 4 (xã Hương Nộn) ngao ngán nói. Ông cho biết thêm, trên địa bàn xã có nhiều khu thiếu nước sinh hoạt nhưng "khát" trầm trọng nhất vẫn là ở khu 4. Cả khu có 152 hộ với 506 khẩu, nhà nào cũng thiếu nước sinh hoạt, hàng ngày các hộ phải gồng gánh đi xin, ai không xin được thì mua. Mất điện còn cố chịu được, chứ không có nước cây còn chết huống chi người!

           Nếu không mua nước giếng mà mua nước sạch thì người dân ở đây phải trả tới 100.000 đồng/m3. "Nước được chở bằng xe téc từ huyện Lâm Thao sang, mà muốn mua cũng phải đặt trước. Không có nước sạch dùng thì phải mua chứ cũng xót tiền lắm, mà nước có sạch không, lấy ở đâu chúng tôi cũng chịu!" - bà Nguyễn Thị Trâm, khu 4 xã Hương Nộn nói.

           Khu 4 xã Hương Nộn nằm dọc sông Đà và ven Quốc lộ 32A , do ở vị trí cao hơn các khu khác, nên dù có công trình nước sạch, nhưng nước cũng không lên được đến nơi, họa hoằn mới chảy “le te” mấy dòng và nước thường lắm cặn vôi, có màu vàng nhạt, vì vậy người dân chỉ dám dùng hạn chế. Tại các khu 3, 4, 5... đang thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng và phải mua nước với giá cao. Trước đây, khi có trạm cung cấp nước sạch ở khu 7, nhiều hộ dân đã lấp giếng đào để lắp đường ống dẫn nước sạch, nhưng nay nhiều hộ lại đang phải “khơi” lại giếng với hy vọng tìm được nguồn nước cho sinh hoạt hàng ngày!

           Không chỉ người dân mà ngay cả UBND xã Hương Nộn cũng phải mua nước về sử dụng hàng ngày. "Ở gần sông vẫn không có nước, đó là nghịch lý ở Cổ Tiết và Hương Nộn. Thực tế này khiến chính quyền địa phương đau đầu nhiều năm nhưng chưa biết xử lý thế nào. Thiếu nước đã và đang làm đảo lộn cuộc sống của người dân nơi đây. Thấy người dân bỏ ra cả trăm nghìn đồng để mua một khối nước về dùng mà thấy xót xa"- ông Nguyễn Duy Quân, Phó Chủ tịch UBND xã Cổ Tiết nói. Ông cho biết thêm, không những người dân khát nước mà hiện toàn bộ cơ quan Đảng ủy, UBND và các đoàn thể xã đang phải mua nước để dùng hàng ngày cũng với giá 2.000 đồng một can 20 lít. Nhiều năm nay, xã cũng đã có nhiều kiến nghị lên các cấp thẩm quyền nhưng chưa có một cơ quan chức năng nào về lấy mẫu đo đạc đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước. Một công trình nước sạch được xây dựng ở đây luôn là ước mơ cháy bỏng của hàng nghìn nhân khẩu đang sống trong vùng nguồn nước bị nhiễm vôi và sắt.

           Cùng chung cảnh ngộ với xã Cổ Tiết, Bệnh viện Đa khoa huyện Tam Nông (nằm trên địa bàn xã Cổ Tiết) cũng lâm vào tình trạng “khan” nước sinh hoạt nhiều năm nay. Bác sỹ Đặng Văn Tuyên, Phó Giám đốc bệnh viện cho biết, năm 2004, khi có nước sạch của chương trình Plan từ xã Hương Nộn đưa về, bệnh viện đã đầu tư xây hẳn một bể chứa có dung tích tới 50 m3. Tuy nhiên, một thời gian sau, nước khan hiếm dần. Để “chống hạn”, bệnh viện đã phải đào tới 4 cái giếng để lấy nước dùng cho các khoa, phòng và phục vụ công tác khám chữa bệnh. Nhưng nhiều lúc giếng cũng cạn, lại phải mua nước từ Lâm Thao với giá 90.000 đồng/m3 mà cũng phải đăng ký chán chê mới mua được.

           Trước đây nhà nào cũng có giếng, nhưng từ khi có dự án nước sạch thì các gia đình lấp hết giếng. Tuy nhiên, hiện nay do nước sông vẫn ở mức thấp, cắt điện triền miên nên các công trình nước sạch không phát huy được tác dụng. Thêm nữa, nếu các công trình này chạy bình thường, thì những gia đình ở cuối nguồn nước hoặc ở khu vực cao hơn cũng rất có ít nước để dùng.

( Theo Trương Văn Quân - http://www.monre.gov.vn)

Lưu lượng nước về hồ Thủy điện Tuyên Quang đã được cải thiện

Ngày 28/6, ông Nguyễn Tiến Chương – Giám đốc Công ty Thuỷ điện Tuyên Quang cho biết: Ba ngày gần đây lưu lượng nước chảy về hồ thuỷ điện Tuyên Quang đã được cải thiện đáng kể trung bình đạt khoảng 600m3/giây, tăng gấp đôi so với thời điểm cách đây 10 ngày (300m3/giây), trong đó thời điểm đỉnh lũ tiểu mãn (cao nhất ngày 27/6) đạt 1.800m3/gây. Do vậy, cốt nước (mực nước) hồ thủy điện Tuyên Quang đã tăng lên 94,8 m cách “cốt nước chết” 4,8m (cốt nước tối thiểu để đảm bảo chạy máy phát điện là 90m), tăng 2,4 m so với thời điểm cốt nước hồ xuống thấp nhất 92,4 m. Tuy nhiên, so với cùng thời điểm năm ngoái lưu lượng nước chảy về hồ vẫn chỉ bằng một nửa. 

      Hiện trung bình mỗi ngày Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang sản xuất được 4 triệu kwh, tăng gấp đôi so với thời điểm cốt nước hồ Thủy điện Tuyên Quang xuống thấp nhất (92,4 m cách đây 10 ngày), nâng tổng sản lượng điện sản xuất từ đầu năm đến nay được hơn 215 triệu kwh, đạt hơn 22% kế hoạch sản xuất năm 2010.

(Theo Monre)