Sun02172019

Last update06:09:01 AM GMT

Tin tức sự kiện

16 công trình cấp nước sạch tại các huyện ngoại thành Hà Nội: Dân “khát”, trạm cấp nước “đắp chiếu”

Theo báo cáo của Văn phòng Thường trực quốc gia về vệ sinh và môi trường nước sạch, hiện mới có 40% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia do Bộ Y tế ban hành. Tại Hà Nội, 5 huyện (Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Sóc Sơn, Từ Liêm) tỷ lệ cấp nước sạch mới đạt 15%, tại 8 huyện của tỉnh Hà Tây trước kia và huyện Mê Linh tỷ lệ đó mới được khoảng 1%, riêng thị xã Sơn Tây, tình hình có khả quan hơn, tỷ lệ cấp nước sạch đạt 72%. Trong khi người dân ở nhiều huyện ngoại thành chưa có điều kiện được sử dụng nước sạch thì tồn tại một nghịch lý, đó là hàng chục công trình cấp nước sạch ở khu vực nông thôn với tổng số vốn đầu tư lên tới gần 100 tỷ đồng hiện đang "đắp chiếu", hầu hết máy móc, trang thiết bị xuống cấp hoặc hư hỏng nặng…

 

Gần 100 tỷ đồng đầu tư rồi "đắp chiếu"


Những năm qua TP. Hà Nội đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng các công trình cung cấp nước sạch phục vụ nhân dân các huyện ngoại thành. Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có 85 trạm hoạt động và vẫn còn 16 trạm cấp nước sạch ở 11 huyện được đầu tư với tổng kinh phí là gần 100 tỷ đồng chưa được đưa vào khai thác, cấp nước phục vụ nhân dân. Cũng bởi lý do đó mà những trạm cấp nước này đã xuống cấp nghiêm trọng. Trong đó, có 3 trạm cấp nước tại các xã Liên Bạt, Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa), xã Xuân Dương (Thanh Oai) chuyển tiếp, hiện đang được các huyện tiếp tục triển khai với tổng số tiền đầu tư cả 2 giai đoạn 40 tỷ đồng; 4 công trình đã bàn giao cho các doanh nghiệp thi công gồm các trạm cấp nước ở xã Dương Liễu (Hoài Đức), thị trấn Chúc Sơn (Chương Mỹ), thị trấn Quốc Oai (Quốc Oai), thị trấn Phùng (Đan Phượng); còn lại 9 công trình xây dựng dở dang đang nằm "đắp chiếu" hiện vẫn chưa có phương án xử lý.



Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội Vũ Bình Nguyên cho biết: Do lâu ngày không đưa vào sử dụng, không quản lý, bảo dưỡng nên hiện hầu hết máy móc, trang thiết bị của các công trình trên đều hư hỏng nặng, nhiều hạng mục không còn khả năng sử dụng; hệ thống bể chứa bị rò, thấm; đường ống dẫn nước bị bục vỡ, han gỉ.


Điển hình phải kể đến Trạm cấp nước sạch thôn Đoan Lữ, xã An Mỹ (Mỹ Đức). Sau 3 năm thi công, 5 trạm cấp nước thôn Đoan Lữ đã hoàn thành với tổng kinh phí đầu tư trên 600 triệu đồng, công suất 308m3/ngày đêm, cung cấp nước sinh hoạt cho 4.000 người. Tuy nhiên, do nguồn nước cấp đầu vào trạm (mặt nước sông Đáy) bị ô nhiễm nặng nên sau khi hoàn thành trạm không đưa vào sử dụng. Đến nay, tất cả các hạng mục như hệ thống bơm hút, cụm xử lý nước, bể chứa nước, hệ thống bơm đẩy... của trạm cấp nước này đã xuống cấp nghiêm trọng.



Tương tự, trạm cấp nước xã Tân Tiến (Chương Mỹ) được xây dựng từ năm 2006, với tổng mức đầu tư 2,5 tỷ đồng, do UBND xã làm chủ đầu tư. Theo Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội, do chính quyền địa phương thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ công trình sau khi hoàn thành nên một số trang thiết bị của trạm cấp nước này bị mất, hư hỏng. Cụ thể, tại thời điểm kiểm tra (tháng 7/2010) trạm chỉ còn 2/3 cụm giếng khoan và bơm khai thác; một số đoạn đường ống nước dịch vụ đã bị người dân trong xã tháo dỡ.



Ngoài hai trạm nêu trên còn nhiều trạm được đầu tư đến cả chục tỷ đồng vẫn chưa đưa vào sử dụng như Trạm cấp nước xã Liên Bạt (Ứng Hòa) trên 13,2 tỷ đồng; Trạm cấp nước xã Xuân Dương (Thanh Oai) gần 10,2 tỷ đồng…

 
Đẩy nhanh tiến độ phục hồi

Đó là nguyện vọng chính đáng của đông đảo nhân dân các địa phương đang có công trình cấp nước sạch bỏ hoang. Trao đổi về vấn đề này, ông Vũ Bình Nguyên cho biết, ngay sau khi có kết quả khảo sát các công trình cấp nước tập trung không hoạt động trên địa bàn, Trung tâm đã có tờ trình báo cáo Sở NN&PTNT những tồn tại của các trạm cấp nước; đồng thời xin chủ trương lập dự án phục hồi các trạm cấp nước không hoạt động trên địa bàn TP. Để xử lý các trạm cấp nước tập trung bỏ hoang lâu ngày không thể một sớm một chiều, bởi nguyên nhân dẫn đến việc các trạm không đưa vào sử dụng mỗi địa phương một khác. Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến các trạm cấp nước tập trung "đắp chiếu" dài ngày là do khi triển khai các dự án nhà nước đã có quy định ngoài số vốn đầu tư của Nhà nước (khoảng 60% tổng số vốn đầu tư công trình), các địa phương hưởng lợi dự án phải huy động 40% nguồn vốn còn lại. Nhưng khi triển khai hầu hết các địa phương đều không thực hiện đúng các cam kết về số vốn đối ứng, do vậy, các công trình hoàn thành giai đoạn 1 (phần vốn nhà nước) thế là công trình để đấy. Ngoài ra, một số địa phương được hưởng dự án thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ công trình sau khi nhận bàn giao... là nguyên nhân khiến các trạm cấp nước bị bỏ hoang lãng phí nhiều năm. "Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nguyên nhân do trong quá trình lập dự án, trình UBND TP phê duyệt, do quá nóng vội để "kéo" dự án về địa phương trong khi chưa điều tra, khảo sát kỹ nhu cầu sử dụng nước sạch và khả năng chi trả của người dân nên đã để cả núi của lãng phí" - ông Vũ Bình Nguyên cho biết.


Giải pháp để sớm xóa các trạm cấp nước đang "đắp chiếu" và đưa vào khai thác, cung cấp nước sạch cho người dân các huyện ngoại thành, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội đề nghị UBND TP cho phép xây dựng một dự án tổng thể đánh giá toàn bộ những tồn tại của các trạm cấp nước không hoạt động trên địa bàn các huyện, trên cơ sở đó kêu gọi đầu tư nhằm sớm phục hồi lại hoạt động của các trạm cấp nước này. Mặt khác, đề nghị UBND TP bổ sung kịp thời cơ chế, chính sách phù hợp để kêu gọi các nhà đầu tư tham gia vào công tác đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành và tổ chức khai thác các trạm cấp nước.

(Theo Monre.gov.vn)

 

Yên Bái: Khởi công xây dựng Nhà máy Thủy điện Ngòi Hút 2

Sáng 27/11, Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triển Trường Thành (Hà Nội), đã khởi công công trình Thủy điện Ngoài Hút 2 tại xã Nậm Có huyện Mù Cang Chải (Yên Bái).
Dự án Thủy điện Ngòi Hút 2 có tổng kinh phí đầu tư 1.260 tỉ đồng với công suất lắp máy là 48 MW, sản lượng điện bình quân năm là 209 triệu KW/h. Công trình được đầu tư xây dựng trên dòng suối Ngòi Hút với diện tích 130 ha thuộc địa bàn các xã Nậm Có huyện Mù Cang Chải. Dự kiến vào quý IV năm 2012, cả 2 tổ máy của Nhà máy Thuỷ điện Ngòi hút 2 sẽ phát điện để hoà vào lưới điện quốc gia.
Để phục vụ thi công nhà máy thủy điện này, Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Phát triển Trường Thành đã mở mới 20 km đường nối từ quốc lộ 32 tại địa phận xã Tú Lệ huyện Văn Chấn vào nhà máy; xây dựng cầu vượt suối Ngòi Hút; đắp vai đập đầu mối của công trình, đông thời xây dựng 15 km đường chuyển tải 110 Kv từ quốc lộ 32 nối vào nơi thi công công trình. 

(Theo Monre.gov.vn)
 

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai tiếp Bộ trưởng, Quốc vụ khanh Pierre Lallouche (Cộng hòa Pháp)

Ngày 26/11, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai đã có buổi tiếp ông Pierre Lallouche, Bộ trưởng, Quốc vụ khanh phụ trách ngoại thương, Cộng hòa Pháp đến thăm và làm việc tại Trạm thu ảnh vệ tinh Việt Nam. 

Chào mừng chuyến thăm làm việc của Quốc Vụ khanh Pierre Lallouche, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai bày tỏ vui mừng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Chính phủ và nhân dân Việt Nam - Cộng hòa Pháp đang phát triển tốt đẹp.  

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai cho biết, Chính phủ Việt Nam hiện đã ban hành Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020. Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai bày tỏ sự cảm ơn tới Chính phủ Pháp đã hỗ trợ Việt Nam lắp đặt các thiết bị của Trạm thu ảnh vệ tinh và mong muốn Chính phủ Pháp tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc duy tu bảo dưỡng các thiết bị của Trạm thu này. Thứ trưởng hy vọng, ngoài công nghệ viễn thám, Pháp sẽ có chuyên gia đào tạo cho các lĩnh vực khác của Bộ TN&MT như đất đai, tài nguyên nước, môi trường, khoáng sản, biến đổi khí hậu…

Quốc vụ khanh Pierre Lallouche cảm ơn Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã dành thời gian cho buổi tiếp và vui mừng cho biết, nước Pháp là quốc gia hàng đầu về công nghệ vũ trụ. Chính điều này đã cho phép Pháp giám sát tài nguyên thiên nhiên môi trường, đất đai, biển, khoáng sản… và làm chủ ảnh vệ tinh.

s20

Toàn cảnh buổi tiếp của Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai với Bộ trưởng, Quốc vụ Khanh Pierre Lallouche (CH Pháp)

Quốc Vụ khanh Pierre Lallouche nhấn mạnh: 20 năm nay, Chính phủ Pháp đã hỗ trợ Việt Nam nhiều dự án với tổng kinh phí hàng trăm triệu USD. Pháp mong muốn tiếp tục phát triển mối quan hệ với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao. 3 năm nữa Pháp sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc phóng vệ tinh nhỏ sẽ giúp Việt Nam tự chủ hơn trong việc thu nhận thông tin bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên.

s21

Thứ trưởng Nguyến Thái Lai phát biểu tại buổi tiếp

 

Trước đó, Giám đốc Trung tâm Viễn thám Quốc gia Nguyễn Xuân Lâm đã báo cáo về các hoạt động hợp tác với các tổ chức của Pháp. Đó là, dự án ứng dụng viễn thám để thành lập bản đồ (theo Nghị định thư hợp tác Việt – Pháp 1994), dự án đo vẽ bản đồ phục vụ điều tra tài nguyên thiên nhiên (năm 1998), Dự án xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường (năm 2003).

Ngay sau buổi tiếp, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai và Quốc Vụ khanh Pierre Lallouche cùng đoàn công tác đã đi thăm phòng vận hành của Trạm thu ảnh vệ tinh.

s22

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai và Bộ trưởng Quốc vụ khanh Pierre Lallouche cùng các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại trạm thu ảnh vệ tinh

 

 

 
 
 
 
(Theo  Monre.gov.vn)

 

 

Thị trưởng 43 nước cam kết cắt giảm khí thải nhà kính

Toàn cảnh lễ ký kết - Ảnh: XinhuaHôm 21-11, khoảng 140 thị trưởng đến từ 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ký cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, một diễn biến đáng chú ý trước thềm Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu toàn cầu (COP16), diễn ra từ 29-11 đến 10-12 tới.

Các thị trưởng đã đặt bút ký Công ước biến đổi khí hậu toàn cầu của các thành phố, còn được gọi là Công ước Mexico City, tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của các thị trưởng (CCLIMA) diễn ra ở Mexico City, Mexico.

Theo đó, các thị trưởng nhất trí sẽ thực hiện nhiều biện pháp cùng nhiều nỗ lực hơn nữa để đối phó với biến đổi khí hậu, như tự nguyện cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính bằng các chính sách, luật và các chiến dịch tùy theo điều kiện cụ thể của từng thành phố.

Các thị trưởng cũng cam kết sẽ thực thi giao thông vận tải bền vững, có biện pháp quản lý hiệu quả nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên…

Theo Tân hoa xã, với công ước này, các thị trưởng hi vọng sẽ nhận được sự ủng hộ từ nhiều phía, chính phủ cũng như các tổ chức, đơn vị… và có cơ hội tiếp cận với các nguồn tài chính để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân nghèo ở các thành phố - đối tượng dễ bị tác động của biến đổi khí hậu.

 

(Theo DWRM)

Lập bộ phận chuyên trách chống thất thoát, thất thu nước sạch

Đây là một trong những nội dung nâng cao năng lực quản lý cho đơn vị cấp nước nằm trong Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch đến năm 2025 (Chương trình) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2147/QĐ-TTg ngày 24/11/2010.

Bộ phận chuyên trách này sẽ được thành lập tại các đơn vị cấp nước, đặc biệt tại các đô thị có tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch cao.

Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước (BCĐ) do Bộ trưởng Bộ Xây dựng làm Trưởng BCĐ. Bộ Xây dựng là cơ quan Thường trực của BCĐ Chương trình.
BCĐ có nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm thực hiện Chương trình; chỉ đạo thực hiện Chương trình; chỉ đạo và phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến Chương trình; đôn đốc, kiểm  tra, giám sát việc triển khai, thực hiện Chương trình tại các địa phương.
Lập lý lịch mạng lưới đường ống, đồng hồ đo nước.

s23

Mục tiêu đến năm 2025, giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch xuống dưới 15%

Một số nội dung đáng chú ý của Chương trình là việc lập lý lịch mạng lưới đường ống, đồng hồ đo nước, sử dụng việc quản lý mạng và đồng hồ nước bằng hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống thông tin địa lý (GIS); xây dựng cơ chế khoán cho đơn vị cấp nước giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch và hưởng lợi nhuận từ kết quả này.

Đồng thời, xây dựng chế độ khen thưởng các cá nhân phát hiện và thông báo về các sự cố, điểm rò rỉ nước. Chế tài đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng nước gian lận, không trả tiền, làm hư hỏng tuyến ống.

Được biết, với nhiều giải pháp chống thất thoát, thất thu nước sạch, tỷ lệ thất thoát nước bình quân toàn quốc đã giảm từ 42% (năm 1998) xuống còn 30% hiện nay. Tuy nhiên, so với các nước tiên tiến và các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ này vẫn còn cao.

Đặc biệt, tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch rất cao, trong khi lượng nước sản xuất của các đô thị này chiếm khoảng 40% tổng lượng nước sản xuất của các đô thị Việt Nam.

Nguyên nhân dẫn đến thất thu, thất thoát nước sạch cao là do ý thức của người sử dụng kém, tình trạng trộm cắp nước sạch diễn ra nhiều nơi; công tác quản lý và các yếu tố kỹ thuật chưa được quan tâm đúng mức; hệ thống đường ống cấp nước quá cũ kỹ;...

Cả nước hiện có khoảng 68 công ty cấp nước, cung cấp dịch vụ cho hơn 750 đô thị trên toàn quốc.

 

(Theo Hoàng Diên - baodientu.chinhphu.vn)

 

 

 

 

 

 



Biến đổi khí hậu “nung nóng” các hồ trên Trái đất

Nhiều hồ lớn nhất Trái đất đang bị ấm lên trong 25 năm qua do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cảnh báo của Phòng thí nghiệm JPL của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA).

Theo JPL, các nhà nghiên cứu của họ đã đi đến kết luận trên sau khi dùng dữ liệu thu thập từ vệ tinh để đo nhiệt độ bề mặt của 167 hồ lớn trên thế giới. JPL nói đây là cuộc khảo sát toàn cầu toàn diện đầu tiên về chiều hướng nhiệt độ tại các hồ lớn.

 

tnn14

Các hồ lớn trên Trái đất đang ngày càng ấm lên do biến đổi khí hậu - Ảnh: florida-photo-magazine.com

Cụ thể, họ phát hiện nhiệt độ trung bình của các hồ đã tăng 0,45 độ C mỗi thập kỷ, trong đó có một số hồ tăng trên 1 độ C. Riêng các hồ nằm ở bán cầu bắc có tốc độ tăng cao nhất.

Theo các nhà nghiên cứu, nhiệt độ nước tăng có thể làm gia tăng đáng kể các loài tảo khiến hồ bị nhiễm độc gây nguy hại cho loài cá, hoặc tạo điều kiện cho các loài sinh vật ngoại lai sinh sôi nảy nở, lấn át loài bản địa và làm biến đổi hệ sinh thái tự nhiên của các hồ.

“Các phân tích của chúng tôi sẽ cung cấp một cơ sở dữ liệu mới và độc lập để đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên đất liền trên phạm vi toàn thế giới”, Philipp Schneider - tác giả chính của nghiên cứu, nói. “Kết quả này cũng hàm ý rằng các hệ sinh thái ao hồ có thể bị ảnh hưởng bất lợi từ những thay đổi nhiệt độ mặt nước, dù ở mức nhỏ nhất”.

 

 

(Theo DWRM)


Thống nhất quy trình điều tiết nước của hồ chứa nước Cửa Đạt (Thanh Hóa) phù hợp phát điện và chống hạn

Trước tình trạng hồ chứa nước Cửa Đạt (kết hợp thủy điện) lớn nhất Bắc Trung Bộ chưa tích đủ nước đến cao trình theo thiết kế, UBND tỉnh Thanh Hóa yêu cầu Công ty cổ phần Thủy điện Cửa Đạt và các đơn vị có liên quan thống nhất quy trình điều tiết phù hợp phát điện và chống hạn. Theo đó, chỉ xả nước hồ Cửa Đạt để phục vụ mục tiêu đẩy mặn cho hạ du vào tháng 3 và tháng 4/2011 là 2 tháng có mực nước kiệt nhất với lưu lượng xả 30,42 m3/s, tương đương tổng lượng nước xả 160.33 triệu m3.
Kết thúc mùa mưa năm 2010, lượng mưa trên địa bàn Thanh Hóa chỉ đạt 80,90% lượng mưa trung bình nhiều năm (TBNN). Hiện tại mực nước hồ Cửa Đạt đạt + 95,89 m, tương đương với dung tích trữ 680,5 triệu m3 so với cao trình thiết kế là +110 m, dung tích chứa nước là 1.450 triệu m³.
Trong điều kiện thiếu nước, nếu vận hành nhà máy thủy điện Cửa Đạt với công suất lắp máy là 97 MW, ứng với lưu lượng thiết kế qua tuabin của Thủy điện Cửa Đạt là 156,26 m3/s thì lượng nước trong hồ Cửa Đạt sẽ không đủ. Mặt khác, theo nhận định của Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Bắc Trung bộ, tổng lượng mưa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011 chỉ đạt xấp xỉ và thấp hơn lượng mưa TBNN. Để đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp (50.000 ha lúa) và sinh hoạt cho hệ thống thủy nông Bái Thường, Chủ tịch UBND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm việc với Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 3, Công ty cổ phần Thủy điện Cửa Đạt và các đơn vị có liên quan thống nhất quy trình điều tiết nước của hồ chứa nước Cửa Đạt trong thời gian từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011 theo nguyên tắc: lưu lượng nước xả qua hồ Cửa Đạt (phục vụ phát điện) phải theo nhu cầu tưới hàng tháng của hệ thống thủy nông Bái Thượng. Cụ thể, từ tháng 12/2010 đến tháng 2/2011, lượng nước qua tuabin = 50 m3/s; từ tháng 3/2011 đến tháng 5/2011, lưu lượng nước qua tuabin = 44/m3/s đến 45 m3/s và khống chế mực nước tại thượng lưu đập Bái Thượng không được vượt quá cao trình + 17,20m (cao trình đỉnh tràn của đập Bái Thượng).
(Theo Monre.gov.vn)

Đăk Lăk: Tích đủ nước các nhà máy thủy điện hoạt động công suất tối đa

Sau một thời gian dài nắng nhiều, mưa ít, lượng nước tích trử trong hồ chứa    ít, các nhà máy thủy điện trong tỉnh Đăk Lăk phát điện chỉ đạt từ 50 đến 60% công suất thiết kế. Từ đầu tháng đến giữa tháng 11/2010 mưa nhiều, hồ chứa đã tích đầy nước, các nhà máy thủy điện đã tăng công suất phát điện đến mức cao nhất, góp phần cải thiện nguồn cung cấp điện quốc gia.          
Trong 20 ngày đầu tháng 11/2010, Nhà máy thủy điện Buôn Kuôp (trên sông Sê Rê Pốc) với 2 tổ máy đã phát công suất theo thiết kế 280 MW, mỗi ngày sản xuất trung bình trên 6 triệu KW giờ điện. Sau hơn 1 năm đưa vào hoạt động, Nhà máy thủy điện Buôn Tua Sarh thượng nguồn sông Sê Rê Pốc đã tích lương nước đạt cao trình 487,5 m theo thiết kế. Trong 10 ngày qua, nhà máy chạy cả 2 tổ máy và đã phát điện với công suất cao nhất là 86 MW. Tuy mới đưa vào hoạt động, nhưng nhờ chủ động tích nước, từ cuối tháng 9/2010 đến nay, Nhà máy thủy điện Sê Rê Pốc 3 đã đưa cả 2 tổ máy phát điện công suất    tối đa 220 KW.            
Ngoài việc điều chỉnh và nâng dần công suất phát điện hợp lý để đạt công suất tối đa, các nhà máy thuỷ điện đã vận hành các hồ chứa và xả lũ với lưu lượng nước hợp lý, nên bảo đảm các nhà máy hoạt động hết công suất và an toàn, không gây ngập úng cho phía hạ du của sông Sê Rê Pốc. 
(Theo Monre.gov.vn)