Fri11242017

Last update02:00:00 PM GMT

Tin tức sự kiện

Nước ngầm ngày càng sụt giảm nghiêm trọng

khoan-khai-thac-nuoc-chong-hanViệc khoan giếng ồ ạt như hiện nay ảnh hưởng nghiêm trong tới nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước, nước bị đục, bị phèn, và đặc biệt hơn là nguồn nước ngầm bị xụt giảm nghiệm trong

Quản lý tài nguyên nước gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội

anh-thoi-su-1-ngay-410-1Trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tăng cao như hiện nay, khai thác sử dụng tài nguyên nước để phục vụ đời sống, sản xuất, phát triển kinh tế, trở thành vấn đề thời sự. Các vấn đề nước luôn là chủ đề nóng trong mọi mặt của cuộc sống.

Cuộc khủng hoảng đang đến gần: Liệu thế giới có hết nước?

Nước là điều cơ bản nhất cho cuộc sống, làm cho những lời cảnh báo ngày càng lớn về sự khan hiếm nước và cuộc khủng hoảng nước đang lan rộng khắp thế giới liên quan đến các nhà lãnh đạo thế giới.

Nâng cao công tác quản lý, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước

satloLà quốc gia nằm ở cuối các lưu vực sông lớn, nguồn tài nguyên nước (TNN) ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức do tăng trưởng kinh tế, sức ép dân số, tình trạng ô nhiễm, suy giảm và cạn kiệt nguồn nước... Do vậy, việc quản lý, khai thác TNN một cách tiết kiệm, hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng góp phần hạn chế tình trạng này.

Quản lý tài nguyên nước còn nhiều khó khăn tại Nghệ An

Nước là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Tuy nhiên, ở một số địa phương, nguồn tài nguyên nước đang gặp những thách thức khiến suy giảm cả chất và lượng. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, bảo đảm chất lượng nguồn nước cũng như quản lý tài nguyên nước đang là vấn đề đặt ra.

Sử dụng than nhiều ở Châu Á làm tăng nguy cơ thiếu nước

Việc đốt than, bất chấp các dấu hiệu gần đây như đã đạt đỉnh ở Trung Quốc và cam kết thực hiện cắt giảm trong cuộc đàm phán khí hậu Paris vào tháng 12, vẫn là nguồn năng lượng chính của châu Á.

Sự cạnh tranh gay gắt vì tài nguyên nước

Một tỷ hai trăm triệu người, tức là 1/5 dân số thế giới, đang sống ở các khu vực bị thiếu nước.

Các Bộ góp ý kiến về Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có công văn số 3973/BTNMT-TNN ngày 4/8/2017 về việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ bổ sung tính toán để đánh giá cụ thể, đánh giá định lượng tác động của các dự án đến sông Đồng Nai.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại Văn bản số 7509/VPVP-NN ngày 18/7/2017 của Văn phòng Chính phủ về Dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, theo các nội dung cụ thể.

Theo đó, Bộ Giao thông vận tải đề nghị bổ sung yêu cầu đối với UBND tỉnh Đồng Nai, cần rà soát phạm vi và các nội dung Dự án đảm bảo tuân thủ Nghị định số 24/2015/CĐ-CP ngày 27/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa.

Bộ Xây dựng cho rằng, việc kiểm tra, rà soát, đánh giá tác động bổ sung của Dự án đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Bộ, ngành và đơn vị chuyên môn thực hiện từ tháng 5/2015. Đến nay, Báo cáo kết quả đánh giá bổ sung kết quả tác động của Dự án đến sông Đồng Nai đã được Hội đồng thẩm định thống nhất thông qua, Bộ Xây dựng cơ bản thống nhất với các nội dung trong Công văn số 62/BTNMT-TNN.m ngày 23/3/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Do đó, đề nghị chỉnh sửa Mục 2.1 như sau: “Tổ chức rà soát, điều chỉnh dự án đảm bảo phù hợp với đồ án Điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt tại Quyết định số 2302/QĐ-UBND ngày 25/7/2014 của UBND tỉnh Đồng Nai.

147125532622513-dv-phuSông Đồng Nai

Về phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kiến nghị bổ sung tính toán và luận chứng cụ thể trên cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tần suất lũ tính toán phù hợp với diễn biến lũ trong điều kiện biến đổi khí hậu và cơ sở hạ tầng trên sông, ven sông trong phạm vi tính toán.

Tính toán cụ thể ảnh hưởng trong các trường hợp lấn sông ứng với lũ tính toán, lũ lịch sử năm 1952 và lũ tháng 10/2000, so sánh với trường hợp chưa lấn sông về chiều sâu ngập, diện tích ngập, thời gian duy trì lũ để đề xuất giải pháp.

Đồng thời, bổ sung tính toán ứng với nhiều cấp lưu lượng, đặc biệt là đối lưu lượng tạo lòng, đây là cấp lưu lượng tác động rất lớn đến hình thái lòng dẫn. Cùng với đó, bổ sung phạm vi tính toán đối với các khu vực lân cận (thượng, hạ lưu khu vực lấn sông) để có cơ sở đánh giá toàn diện đến xói lở lòng dẫn, kể cả xói lở theo phương đứng và xói lở theo phương ngang.

Mặt khác, bổ sung tính toán các trường hợp lấn sông bằng mô hình vật lý để đảm bảo độ chính xác, phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8419:2010 về Công trình thủy lợi – Thiết kế công trình bảo vệ bờ sông để chống lũ.

Đối với việc di chuyển trạm thủy văn Biên Hòa: đề nghị xác định vị trí sẽ di dời, đồng thời tính toán, xây dựng mối quan hệ giữa chuỗi số liệu đã đo đạc của trạm thủy văn tại vị trí cũ với vị trí mới, đảm bảo tận dụng được chuỗi số liệu trong quá khứ, phục vụ hiệu quả công tác nghiên cứu, phòng chống thiên tai.

Đối với việc thực hiện khi chưa được Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền cấp phép, đề nghị làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các hành vi thực hiện lấn lòng sông, bãi sông, vi phạm Luật Đê điều và luật Phòng, chống thiên tai.

Kết quả nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ sẽ được bổ sung, hoàn chỉnh vào Báo cáo phân tích, tính toán đánh giá bổ sung chế độ dòng chảy, diễn biến lòng sông, sinh thái thủy vực sông Đồng Nai đoạn từ cầu Hóa An đến cầu Ghềnh và kèm theo Văn bản báo cáo việc tiếp thu, giải trình đề nghị gửi lại Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15/9/2017.