Sat12152018

Last update05:56:55 AM GMT

Tin tức Trung tâm

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước Miền Nam: Cần xây dựng ngân hàng dự án để phát triển lâu dài, bền vững

Đó là ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Nguyễn Thái Lai trong buổi làm việc với Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước Miền Nam vào ngày 12/1/2011.
Sau khi nghe Lãnh đạo Liên đoàn báo cáo những thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được trong năm 2010, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đánh giá cao những nỗ lực, sáng tạo, tinh thần đoàn kết của Liên đoàn. Thứ trưởng đề nghị Liên đoàn xây dựng đề án cải tạo và nâng cấp cơ sở vật chất và đề án tăn cường trang thiết bị để có được một trụ sở khang trang, hiện đại đáp ứng được các hoạt động của Liên đoàn trong 10 năm tới. Khi triển khai các dự án mới, Liên đoàn cần nghiên cứu kỹ các văn bản của Nhà nước, đặc biệt là phải xây dựng các đề án bám sát theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ. Liên đoàn cần rà soát lại các Trạm quan trắc dưới đất, nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổng thể mạng quan trắc tự động có thể hoạt động lâu dài trình Bộ phê duyệt...
tt300
Quang cảnh buổi làm việc
Trong năm 2011, ngoài việc phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đề nghị Liên đoàn phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, đề xuất cấp trên trao tặng các bằng khen, huy chương, ghi nhận công lao của tổ chức, tập thể, cá nhân đã đóng góp vào sự phát triển của Liên đoàn trong dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Liên đoàn. Thứ trưởng cũng đề nghị Liên đoàn phải thường xuyên phổ biến thông tin tuyên truyền trên Báo Tài nguyên & Môi trường để giới thiệu những việc làm thiết thực của Liên đoàn, góp phần phát triển kinh tế xã hội.


(Theo Monre.gov.vn)

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc: Phát hiện thêm nguồn nước dưới đất ở bản Pả Vi Thượng, xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

Máy khoan thăm dò nước dưới đất tại lỗ khoan CT3 bản Pả Vi Thượng, xã Pả Vi, huyện Mèo VạcTS. Tống Ngọc Thanh, Phó Liên đoàn trưởng phụ trách Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Bắc (QH&ĐTTNNMB) cho biết: Tiếp tục triển khai thi công giai đoạn 2 năm 2010 đề án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang"; sau 3 tháng khoan liên tục, tại bản Pả Vi Thượng (xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc), lỗ khoan thăm dò CT3 có chiều sâu 170m đã phát hiện được nguồn nước dưới đất vào ngày 26/12/2010. Hiện tại lỗ khoan đang được tiến hành bơm thí nghiệm với lưu lượng ổn định 74m3/ngày (sẽ kết thúc bơm thí nghiệm vào ngày 31/12/2010).

 Lỗ khoan CT3 này cách lỗ khoan MV1 (thi công giai đoạn 1 năm 2008) khoảng 1500 m về phía thị trấn Mèo Vạc. Lỗ khoan MV1 khoan ở độ sâu 155,5 m đã phát hiện được nguồn nước dưới đất, có lưu lượng bơm ổn định đạt 314m3/ngày. Ngay sau khi tìm ra nguồn nước tại lỗ khoan MV1, UBND huyện Mèo Vạc đã phối hợp với Liên đoàn tiến hành lắp đặt máy bơm, xây bể chứa để khai thác nguồn nước cấp cho dân từ đó đến nay.

Cả 2 lỗ khoan MV1 (giai đoạn 1) và CT3 (giai đoạn 2) đều thuộc nhiệm vụ điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang nhằm đáp ứng nhu cầu dùng nước của địa phương, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực vùng cao biên giới. Đề án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang" được Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo xây dựng (theo Quyết định số 87/QĐ-QHTNN ngày 6/11/2008) và giao cho Liên đoàn QH & ĐTTNNMB thi công từ năm 2009 cho đến nay.

 

Cán bộ kỹ thuật đang kiểm tra mẫu lõi khoan lỗ khoan CT3

 

 

 

Máy Bơm đang bơm nước thí nghiệm tại lỗ khoan CT3 bản Pả Vi Thượng, xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc

 

Cán bộ kỹ thuật đang đo kiểm tra lưu lượng nước tại lỗ khoan CT3

 

 

TS.Tống Ngọc Thanh cho rằng: Với kết quả điều tra chi tiết trên, bước đầu có thể khẳng định khu vực xã Pả Vi, thị trấn Mèo Vạc có một nguồn nước dưới đất với tổng lưu lượng của hai lỗ khoan thăm dò đạt 388m3/ngđ. Trong thời gian tới tại khu vực này, Liên đoàn sẽ tiếp tục mở rộng điều tra để có thể nâng lưu lượng khai thác lên khoảng 700m3/ngđ. Với lưu lượng này có thể cung cấp cho khoảng 8.750người theo tiêu chuẩn cấp nước 80l/người/ngày.  

Để kết quả điều tra của đề án thực sự có hiệu quả, phục vụ thiết thực cho nhân dân xã Pả Vi và Thị trấn Mèo Vạc, Liên đoàn QH & ĐTTNNMB rất mong được Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Hà Giang, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh quan tâm xem xét thực tế để xây dựng tại đây một trạm cấp nước tập trung. 

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

 

 

 


Hội nghị Tổng kết công tác năm 2010, Phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

tt132Thứ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại Hội nghịNgày 24 tháng 12 năm 2010, tại Liên đoàn Quy Điều tra và Quy hoạch tài nguyên nước miền bắc đã diễn ra Hội nghị Tổng kết công tác năm 2010, phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước. Tham dự Đại hội có Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai, ông Châu Trần Vĩnh - Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cùng Lãnh đạo các Liên đoàn và Trung tâm trực thuộc, Lãnh đạo các Đoàn trực thuộc Liên đoàn và đại diện của Vụ Tài Chính, Viện Khoa học khí tượng thuỷ văn môi trường, các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan thông tấn, báo chí trong cả nước.

 

Ông Dương Văn Khánh – Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước đã thay mặt Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011. Năm 2010, Trung tâm đã thực hiện đầy đủ và đúng tiến độ các nhiệm vụ, kế hoạch được Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường giao cho bao gồm: 02 nhiệm vụ chính phủ, 16 nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên (10 nhiệm vụ chuyên môn chuyển tiếp, 06 nhiệm vụ chuyên môn mở mới), 05 nhiệm vụ quy hoạch (03 nhiệm vụ chuyển tiếp, 02 nhiệm vụ mở mới), 06 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; 01 nhiệm vụ đối ứng dự án ODA, 14 nhiệm vụ xây dựng cơ bản và 01 nhiệm vụ đặc thù quan trắc động thái nước dưới đất cho 3 vùng. Tổng giá trị khối lượng được thanh toán theo nguồn vốn năm 2010 (đã được điều chỉnh) là 132,411 tỷ đồng. Đời sống của Cán bộ Công nhân viên trực thuộc Trung tâm ngày càng được cải thiện, Lãnh đạo Trung tâm cũng không ngừng quan tâm tới công tác đào tạo, nâng cao trình độ cho CBCNV và thực hiện các chính sách tuyển mộ, thu hút nhân tài, tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ, tổ chức bộ máy của Trung tâm.

tt133

PGĐ Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Dương Văn Khánh đọc báo cáo tổng kết tại Hội nghị

 

Các nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm năm 2011 là: Tập trung định hướng vào công tác điều tra, đánh giá, thành lập bản đồ 1/200.000 địa chất thuỷ văn và bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1/100.000 trên phạm vi các lưu vực sông lớn và tỷ lệ lớn cho các vùng trọng điểm; Đẩy mạnh công tác quy hoạch tài nguyên nước cho một số lưu vực sông lớn, duy trì và đẩy mạnh công tác quan trắc tài nguyên nước; Mặt khác đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ nghiệp vụ điều tra quy hoạch và dự báo tài nguyên nước ở các Trung tâm và các đơn vị trực thuộc; Thúc đẩy thực hiện giai đoạn 2 của dự án “ Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra nước nầm tại các khu đô thị” với Viện BGR của CHLB Đức; Nghiên cứu xây dựng và trình Bộ phê duyệt đề án tổng thể “Phát triển Trung tâm với tầm nhìn chiến lược dài hạn”, chú trọng đến chủ trương kinh tế hoá ngành tài nguyên nước; Tăng cường năng lực cơ sở vật chất của Trung tâm và các đơn vị trực thuộc Trung tâm trong thời gian tới; Tiếp tục hoàn thiện và ổn định tổ chức bộ máy, thúc đẩy 04 đơn vị mới thành lập (Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước, Trung tâm Tư liệu và Thông tin tài nguyên nước; Trung tâm Chất lượng nước; Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ Quy hoạch Điều tra tài nguyên nước) phát triển, mạnh mẽ về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, đảm bảo ổn định, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn mới; Tiếp tục rà soát chức năng nhiệm vụ của Trung tâm, đề xuất bổ xung nhiệm vụ điều tra địa kỹ thuật, địa chất công trình phục vụ phát triển các khu đô thị.

Hội nghị cũng đã nghe ý kiến đóng góp của các Lãnh đạo các Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc, miền Trung, miền Nam và các Đoàn trực thuộc. Các ý kiến này tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: Nâng cao năng lực và phát triển Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước xứng tầm là một đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực tài nguyên nước; Đẩy mạnh công tác điều tra và quy hoạch tài nguyên nước, đặc biệt là lĩnh vực tài nguyên nước mặt; Đẩy mạnh công tác tập huấn, nâng cao trình độ, năng lực cho các đơn vị trực thuộc; Tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất, nâng cao năng lực thiết bị và con người cho các đơn vị trực thuộc; Các nghiên cứu khoa học, công nghệ cần được triển khai và ứng dụng nhiều hơn nữa vào thực tế cuộc sống....

tt134

Ông Đỗ Tiến Hùng - Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước điều hành Hội nghị

 

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai đánh giá cao các kết quả mà Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã đạt được. Thứ trưởng cũng chỉ đạo Trung tâm cần khẩn trương đầu tư và hoàn chỉnh về mặt cơ sở vật chất, hoàn thiện đội ngũ Cán bộ Công nhân viên, nâng cao năng lực của các Liên đoàn, các Trung tâm cũng như các Đoàn trực thuộc. Thứ trưởng cũng yêu cầu trong năm 2011, Trung tâm cần đẩy mạnh và tập trung vào việc xây dựng trụ sở làm việc và tăng cường năng lực thiết bị cho Trung tâm; Tăng cường trang thiết bị mới và đẩy mạnh việc hoàn thiện cho hệ thống quan trắc nước dưới đất và nước mặt. Thứ trưởng cũng chỉ đạo, các Đoàn và các Liên đoàn phải là người đề xuất công việc, tự chủ về mặt tài chính và phải có sự phối kết hợp với các đơn vị, các bộ ngành liên quan; Chủ động đề xuất Bộ trong việc cải tiến trang thiết bị, nâng cao năng lực chuyên môn cho Cán bộ Công nhân viên, cần có những chính sách phù hợp để thu hút người tài và tránh hiện tượng chảy máu chất xám. Thứ trưởng cũng đặc biệt lưu ý, các đề án Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cũng như các đề tài nghiên cứu khoa học cần phải mang hơi thở của cuộc sống; Các kết quả điều tra và nghiên cứu cần phải được áp dụng vào thực tiễn và có ý nghĩa thiết thực; Đẩy mạnh công tác truyền thông, thông tin nhằm nâng cao vị thế của Bộ và Trung tâm trong lĩnh vực tài nguyên nước thông qua các kết quả đạt được.

tt135

Toàn cảnh Hội nghị

 

Ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cảm ơn các ý kiến chỉ đạo quý báu của Thứ trưởng. Trong năm 2011, Trung tâm sẽ cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ mà Chính phủ cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường giao cho; Những ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng cũng là niềm trăn trở đối với Lãnh đạo Trung tâm và Lãnh đạo Trung tâm cũng sẽ cố gắng khắc phục những khó khăn để biến những chỉ đạo trên của Thứ trưởng từng bước được thực hiện. Ông Hùng cũng cảm ơn ý kiến đóng góp của các Đơn vị trực thuộc Bộ, các ban nghành liên quan cũng như các Đoàn, các Liên đoàn, Trung tâm trực thuộc đã tới tham dự Đại hội. Trong năm 2011, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước sẽ phấn đấu trở thành lá cờ đầu trong lĩnh vực tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Để đạt được mục tiêu này, ngoài sự cố gắng vượt bậc của toàn thể Lãnh đạo cũng như Cán bộ Công nhân viên trong toàn Trung tâm, cần phải có sự chỉ đạo sát sao và quan tâm nhiều hơn nữa từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các Bộ, các ban ngành liên quan./.

 

 

 

(Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin tài nguyên nước)

Trung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước tổng kết công tác năm 2010, bàn phương hướng nhiệm vụ 2011

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Ảnh: Trường GiangTrung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước (QH&ĐT TNN) vừa tổng kết công tác năm 2010 và bàn phương hướng 2011. Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai dự và chỉ đạo.
Năm 2010, Trung tâm QH&ĐT TNN đã thực hiện đầy đủ và đúng tiến độ các nhiệm vụ, kế hoạch được giao gồm: 2 nhiệm vụ Chính phủ, 16 nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên, 5 nhiệm vụ quy hoạch, 6 nhịêm vụ NCKH, 1 nhịêm vụ đối ứng dự án ODA, 14 nhiệm vụ XDCB, 1 nhiệm vụ đặc thù quan trắc động thái NDĐ cho 3 vùng. Tổng giá trị thanh toán theo các nguồn vốn đạt 132,411 tỉ đồng. Lập 5 dự án mở mới năm 2011 đã thông qua Hội đồng thẩm định của Trung tâm, đang hoàn thiện để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Công  tác thi công hạng mục của các dự án tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ thuật, công tác thẩm định các dự án mở mới thực hịên đúng các quy định hiện hành. Công tác quan trắc TNN dưới đất tại 3 vùng (đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên) thực hiện liên tục, thường xuyên. Trung tâm cũng đã thực hiện và hoàn thành 3 đề tài KHCN cấp Bộ, 1 đề tài cấp cở sở.
GD Trung tâm QH&DDT TNN báo cáo tổng kết tại Hội nghịNhiệm vụ trọng tâm năm 2011 của Trung tâm là tập trung vào công tác điều tra, đánh giá và lập bản đồ 1/200.000 địa chất thủy văn và bản đồ TNN tỉ lệ 1/100.000  trên phạm vi các lưu vực sông lớn cho những vùng trọng điểm. Đẩy mạnh công tác quy hoạch TNN cho một số lực vực sông lớn, duy trì và đẩy mạnh công tác quan trắc TNN, tăng cường đầu tư xây dựng mạng lưới, trạm quan trắc TNN, năng lực dự báo TNN; đẩy mạnh công tác NCKH phục vụ sự nghiệp điều tra quy hoạch và dự báo TNN; thúc đẩy thực hiện giai đoạn 2 dự án “Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra nước ngầm tại các đô thị” với Viện BGR của CHLB Đức….
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đánh giá cao kết quả thực hiện các nhiệm vụ của Trung tâm trong năm 2010 và khẳng định sự đoàn kết, nhất trí trong chỉ đạo, điều hành công việc của lãnh đạo Trung tâm.
Thứ trưởng chỉ đạo: Năm 2011, Trung tâm cần thay đổi cách làm việc quyết liệt. Các đề án quy hoạch, điều tra TNN phải mang hơi thở cuộc sống; các kết quả điều tra về TNN phải thực sự có ý nghĩa thực tiễn và địa phương (nhất là tại những vùng khó khăn về nước), cần quảng bá, thông tin rộng rãi trên các phương tịên thông tin đại chúng, góp phần nâng cao vị thế của Bộ và Trung tâm trong lĩnh vực quản lý, kinh tế hóa lĩnh vực TNN. Tập trung triển khai đề án tăng cuờng trang thiết bị, công nghệ mới, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ; hoàn thiện mạng lưới quan trắc TNN, tổ chức vận hành thường xuyên và bảo vệ lâu dài. Quan tâm xây dựng, cải thịên điều kiện làm việc, tạo việc làm cho các Đoàn đóng tại địa phương. Các Lỉên đoàn cũng như các Đoàn cần năng động đề xuất các ý tưởng, dự án mới về điều tra đánh giá TNN với Trung tâm, tăng cường giao lưu với các đơn vị chức năng thuộc Bộ để có sự ủng hộ kịp thời.
 
tt129
Toàn cảnh Hội nghị
(Theo Monre.gov.vn)

 
 

 
 

 

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung: 35 năm - chặng đường đáng nhớ

35 năm qua, từ Liên đoàn Địa chất thủy văn miền Nam làm nhiệm vụ điều tra cơ bản về tài nguyên nước dưới đất trên dải đất từ Quảng Bình tới các tỉnh miền Nam, trở thành Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung (QH&ĐTTNMT) ngày nay với nhiệm vụ được rộng mở sang lĩnh vực quy hoạch, điều tra, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, các thế hệ CBCNV trong Liên đoàn luôn nêu cao truyền thống, nỗ lực vượt khó, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển KT- XH của đất nước 

Với những cố gắng đó, Liên đoàn vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng 16 Huân chương Lao động các hạng, 1 Huân chương Độc lập hạng Ba, 18 Bằng khen của Thủ tướng, 29 Bằng khen của Bộ Công nghiệp, 14 Bằng khen của Bộ TN&MT, 3 Bằng khen của UBND tỉnh và 1 Cờ thi đua xuất sắc của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa.

Khái quát những thành tựu nổi bật của Liên đoàn qua mỗi chặng đường, ông Nguyễn Lưu, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH&ĐTTNNMT cho biết: Trước năm 1980, Liên đoàn gặp không ít khó khăn, thậm chí phải đối mặt với những hiểm nguy do hậu quả bom, mìn của chiến tranh để lại, nhưng được sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, của ngành, sự quan tâm giúp đỡ của các địa phương, CBCNV Liên đoàn đã trưởng thành, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nổi bật là các đề án tìm kiếm, đánh giá nước dưới đất (NDĐ) ở Tây Nguyên; Thành lập bản đồ địa chất thủy văn, địa chất công trình tỷ lệ 1/200.000 và 1/50.000 trên địa bàn Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung.

Năm 1997, được đổi tên thành Liên đoàn Địa chất thủy văn - Địa chất công trình miền Trung và hoạt động trên phạm vi hẹp hơn (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận và các tỉnh Tây nguyên), hoạt động của Liên đoàn trở nên đa dạng, rộng mở sang các lĩnh vực điều tra địa chất môi trường, địa chất đô thị, địa chất tai biến, điều tra đánh giá nguồn NDĐ gắn liền với cấp nước quy mô nhỏ cho các cụm dân cư vùng sâu, vùng xa và hải đảo. Cùng với nhiệm vụ Nhà nước giao, Liên đoàn đã tận dụng năng lực đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của xã hội như: khoan khai thác nước ngầm, khảo sát nền móng công trình, thăm dò nước khoáng, nước nóng, đo đạc địa hình, trắc địa công trình... với chất lượng và hiệu quả cao nên thương hiệu được duy trì, phát triển.

 Để khai thác, sử dụng tổng hợp, phát triển tài nguyên nước (TNN) và phòng chống, khắc phục tác hại do nước gây ra; Liên đoàn đã thực hiện công tác điều tra cơ bản, kiểm kê hiện trạng về số lượng, chất lượng và tình hình khai thác, sử dụng TNN, đánh giá mức độ và nguy cơ suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Kết quả, Liên đoàn đã hoàn thành và đưa vào Lưu trữ các bản đồ địa chất thủy văn, địa chất công trình tỉ lệ 1/200.000 thành lập trên 7 vùng với tổng diện tích 103.870 km2, chiếm 90% diện tích địa bàn hoạt động của Liên đoàn. Đây là những tài liệu quan trọng, phục vụ công tác quy hoạch, phân vùng lãnh thổ quốc gia và các địa phương. Hoàn thành các tờ bản đồ địa chất thủy văn và bản đồ địa chất công trình tỉ lệ 1/50.000 của các vùng trọng điểm phát triển KT-XH với tổng diện tích điều tra 12.643 km2. Đã phát hiện và khoanh nối được ranh giới của nhiều tầng, nhiều vùng chứa nước đạt yêu cầu sử dụng cho dân sinh và công nghiệp; nhiều mỏ nước khoáng; vật liệu xây dựng; cảnh báo tại nhiều khu vực có các tầng đất yếu; nhiều vùng tiềm ẩn các nguy cơ ô nhiễm môi trường...

Liên đoàn đã thực hiện chương trình điều tra địa chất đô thị trên địa bàn miền Trung. 12 khu đô thị và 14 hành lang kinh tế trọng điểm được điều tra, khảo sát, lập bản đồ, với tổng diện tích 4.967 km2. Hoàn thành công tác tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất ở 61 vùng kết quả đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất cấp A+B là 52.331 m3/ngày, cấp C1: 636.721 m3/ngày, cấp C2: 41.693.233 m3/ngày.

 Dựa vào kết quả này, các địa phương đã đầu tư xây dựng nhiều công trình cấp nước sạch cho các thành phố, thị xã, các khu công nghiệp tại Buôn Ma Thuột, Tuy Hòa, Quy Nhơn, Quảng Ngãi... Đối với nước khoáng đã hoàn thành việc phổ tra các nguồn nước trước đây và phát hiện thêm nhiều nguồn mới, nâng tổng số nguồn nước khoáng được phát hiện trên địa bàn Tây Nguyên và tỉnh duyên hải miền Trung lên 102 điểm; hoàn thành công tác thăm dò tại một số nguồn nước khoáng nóng như Vĩnh Hảo, Đảnh Thạnh, Thạch Bích, Tu Bông, Phú Sen, Vạn Giã... và chuyển giao cho các tổ chức kinh tế xã hội khai thác  sử dụng đạt hiệu quả kinh tế cao.

Mạng lưới quan trắc quốc gia động thái  NDĐ ở Tây Nguyên với 219 trạm được thiết lập từ năm 1991 và vận hành liên tục. Kết quả quan trắc được cập nhật, chỉnh lí, tổng hợp, thông báo đến Sở TN và MT các tỉnh, giúp các địa phương chủ động đối phó, khắc phục hạn hán.

Để giải quyết nhu cầu cấp bách về nước sạch cho đồng bào và chiến sĩ ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, từ 1990 đến nay, Liên đoàn đã triển khai thực hiện đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất ở vùng núi Trung bộ và Tây Nguyên"; "Điều tra địa chất thủy văn, địa chất công trình và đánh giá nguồn nước dưới đất ở các đảo ven biển Nam Trung Bộ", "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên"... Đến nay, đã có 69 cụm dân cư trên địa bàn 8 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được đánh giá nguồn NDĐ với trữ lượng đạt 32.000 m3/ngày; đã khai thác sử dụng 5.400 m3/ngày, đáp ứng nhu cầu về nước sinh hoạt cho trên 90.000 người dân và chiến sỹ.

Hiện Liên đoàn đang thi công các Đề án "Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận"; "Lập bản đồ địa chất thủy văn tỉ lệ 1/50.000 các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận"; "Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi".... Trong những năm tới Liên đoàn sẽ tiến hành thi công thêm các đề án "Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số làng ung thư của Việt Nam"; "Điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ và Neogen từ Đà Nẵng đến Bình Thuận";

Mặt khác, Liên đoàn xây dựng hoàn thành, trình cấp trên phê duyệt các đề án "Bảo vệ nước dưới đất đô thị Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk"; "Bảo vệ nước dưới đất đô thị Quy Nhơn, tỉnh Bình Định" và đang tiến hành xây dựng dự án điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1/50.000 vùng Tuy Hòa, Vạn Ninh.

 Những năm gần đây Liên đoàn tích cực triển khai các hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế với tổ chức Jica của Nhật Bản; Danida Đan Mạch về điều  tra TNN dưới đất cao nguyên Trung phần Việt Nam và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ... thi công các giếng khoan khai thác NDĐ tại các điểm trên địa bàn hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai.

Cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ Nhà nước  giao, Liên đoàn còn triển khai các hoạt động dịch vụ với nhiều đối tác nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho CBCNV, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Nguyễn Lưu: Đúng vậy, các đơn vị trong Liên đoàn đã mở rộng các hoạt động dịch vụ nghiên cứu, điều tra cơ bản về địa chất thủy văn, địa chất môi trường, đánh giá TNN, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu nước ngầm, khảo sát địa chất công trình phục vụ xây dựng, giao thông thủy lợi, thủy điện... Kết quả hoạt động dịch vụ đã góp phần  giải quyết nhu cầu về nước cho thành phố Buôn Ma Thuột; Pleiku; Gia Nghĩa... và 11 thị trấn, 20 bệnh viện, trường học, nhiều đơn vị quân đội, Đồn biên phòng ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắc Nông...

Những năm gần đây, hoạt động dịch vụ của Liên đoàn đạt từ 20-35 tỷ đồng/năm, vượt chỉ tiêu từ 120-135%;  Nhờ đó, Liên đoàn thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước và nâng cao đời sống CBCNV với thu nhập bình quân của người lao động năm 2005 là 2,7 triệu đồng /người /tháng, năm 2009 tăng lên 5,5 triệu đồng; góp phần  phát triển KT - XH, ổn định an ninh - quốc phòng tại các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, đuợc lãnh đạo các địa phương đánh giá cao.

Hiện nhu cầu sử dụng nước của các quốc gia ngày càng tăng, nạn khan hiếm nước sẽ xảy ra với nhiều nước trên thế giới; quá trình biển đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên nước ở Việt Nam, với chức năng nhiệm vụ của mình, Liên đoàn có hoạt động gì để cùng cả nước giảm thiểu các nguy cơ này, tạo bước phát triển bền vững, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Nguyễn Lưu: Chúng tôi tiếp tục điều tra, đánh giá TNN, quy hoạch TNN theo lưu vực và địa giới hành chính, gắn liền với BVMT bền vững. Tập trung vào các lĩnh vực: Biên hội - thành lập bản đồ TNN dưới đất tỉ lệ 1/200.000 trên địa bàn và ghép nối với bản đồ TNN dưới đất cùng tỷ lệ của toàn quốc; Điều tra đánh giá TNN dưới đất tỷ lệ 1/50.000 tại các vùng trọng điểm phát triển KT-XH, các khu CN tập trung liên tỉnh; gắn công tác điều tra TNN với ảnh hưởng của biển đổi khí hậu và nước biển dâng, đề xuất các biện pháp ứng phó hữu hiệu. Tiếp tục duy trì nhiệm vụ quan trắc quốc gia động thái NDĐ ở Tây Nguyên, đồng thời triển khai hoạt động của mạng quan trắc quốc gia động thái NDĐ ở các tỉnh duyên hải miền Trung; đẩy mạnh công tác quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết TNN dưới đất và các lưu vực sông lớn,  xuyên quốc gia; xây dựng đề án bảo vệ TNN ở các đô thị lớn; Điều tra, đánh giá chi tiết TNN ở các đảo...

Đối với những vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt, để tăng trữ lượng tái tạo các tầng chứa nước bị khô cạn,  Liên đoàn sẽ nghiên cứu, đề xuất những biện pháp bổ sung nhân tạo cho các tầng chứa NDĐ nhằm giảm thiểu suy kiệt nước, nhất là ở các tỉnh duyên hải miền Trung.      

Xin cám ơn ông!

 

(Theo Thu Nga - Monre)

  

Cần xây dựng mạng quan trắc tài nguyên nước quốc gia thường xuyên, có ý nghĩa thiết thực với cuộc sống

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai vừa có buổi làm việc với Trung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước ( QH&ĐTTNN) nhằm rà soát mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất (TNNDĐ) vùng đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) và đồng bằng Nam Bộ (DDBNB) (trước đó đã rà soát mạng quan trắc TNN khu vực Tây Nguyên) nhằm thiết kế mạng quan trắc TNN Quốc gia mang tính thường xuyên, có ý nghĩa thiết thực với cuộc sống, giúp hoàn thiện quy hoạch phát triển, bảo vệ và quản lý các nguồn nước, cảnh báo, dự báo, giảm nhẹ nguy cơ nhiễm bẩn, cạn kiệt và phòng tránh những tác động tiêu cực của nước đến môi trường sinh thái.

bai1

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp

Ông Tống Ngọc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH&ĐTTNN miền Bắc cho biết: Mạng quan trắc TNN vùng đồng bằng Bắc Bộ hoàn thành năm 1995 với 210 công trình, được vận hành liên tục. Tới nay, mạng còn 103 điểm với 206 công trình. Công tác quan trắc được tiến hành theo chu kỳ khép kín từ khâu thu thập số liệu, thành lập cơ sở dữ liệu, niên giám, thông báo, cảnh báo, dự báo với mục tiêu, nhiệm vụ: kiểm soát ảnh hưởng của các quá trình tự nhiên và nhân tạo đến TNNDĐ, diễn biến về số lượng, đánh giá mức độ tổn hại do ô nhiễm nước gây ra; cung cấp số liệu, dữ liệu phục vụ công tác dự báo, cảnh báo về sự thay đổi của nguồn NDĐ; phục vụ công tác quản lý quy hoạch, khai thác, sử dụng hiệu quả TNNDĐ. Công tác quan trắc  NDĐ thời gian qua đã đáp ứng được các mục tiêu đề ra nhằm kiểm soát sự biến đổi về số lượng, chất lượng nước, làm cơ sở xây dựng chiến luợc khai thác, bảo vệ TNN phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH và các mục tiêu quan trắc cho những năm tiếp theo.

 Tuy nhiên, do tính kế thừa các điểm quan trắc từ 1996 đến 2005, nên mật độ quan trắc trong vùng còn thưa, chưa thể hiện hết cấu trúc địa chất vùng, nhất là ở những khu vực có công trình khai thác nước; vì thế, cần thiết phải bổ sung các điểm quan trắc vào những vùng còn trống. Việc làm thủ tục cấp đất cũng như giải phóng mặt bằng cho công trình quan trắc gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới công tác xây dựng, bảo vệ công trình, cần có giải pháp khắc phục.

  Ông Ngô Đức Trân, Chủ nhiệm đề án Quan trắc TNNDĐ vùng ĐBNB cho rằng, với diện tích đất liền của 19 tỉnh, thành ĐBNB là vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, TNN đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động KT-XH. Mạng quan trắc TNN trong vùng được xây dựng từ những năm 90 của thế kỷ XX, đã vận hành qua nhiều giai đoạn và được bổ sung hoàn  thiện dần. Quá trình vận hành mạng 20 năm qua cho thấy, về cơ bản đã đạt các mục tiêu tổng quát của công tác quan trắc, đánh giá được động thái NDĐ của các tầng chứa nước; tính toán số lượng cung cấp của nước mưa cho NDĐ tại các sân cân bằng, đánh giá chất luợng nước, thành lập bộ dữ liệu về động thái NDĐ vùng ĐBNB, dự báo động thái NDĐ nhằm hướng tới sử dụng hợp lý NDĐ phục vụ phát triển kinh tế và cuộc sống dân sinh… Tuy nhiên, cũng như mạng quan trắc TNN vùng ĐBBB,  các công trình quan trắc  ở ĐBNB quá thưa cần được bổ sung tại các tầng chứa nước từ 10 đến 40 lỗ khoan theo từng giai đoạn. Để có quyền sử dụng đất tại các công trình quan trắc, cần có kinh phí  để bồi hoàn cho người dân (về giá trị đất, công khai phá đất), hoặc lập dự án riêng với sự tham gia của chính quyền địa phương. Để công tác quan trắc đạt hiệu quả và chất luợng, mạng quan trắc của các vùng cần được bổ sung mới các thiết bị quan trắc mực nước, nhiệt độ, lấy mẫu nước và thiết bị phân tích hiện trường.

Bai2

Giám đốc Trung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước Đỗ Tiến Hùng phát biểu ý kiến

Qua các báo cáo rà soát mạng quan trắc TNNDĐ của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai chỉ đạo: từ thực trạng, mục tiêu và nhiệm vụ mạng quan trắc TNNDĐ của cả ba vùng, ba Liên đoàn QH&ĐTTNN miền Bắc, miền Trung và miền Nam cần tiếp tục rà soát, tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học để nâng tầm công tác quan trắc TNNDĐ, có tư duy cụ thể để hoàn thiện mạng quan trắc Quốc gia về TNN mang tính thiết thực với cuộc sống, đảm bảo được nhiệm vụ quan trắc thường xuyên cho giai đoạn 2011-2015, có tính đến 2020. Thứ trưởng cho rằng: công tác rà soát mạng quan trắc phải làm thật kỹ, trả lời được mục tiêu cụ thể của từng công trình, từng vị trí của mạng đối với cuộc sống. Chẳng hạn, công trình nào không còn tác dụng cần bỏ bớt, cái nào cần tăng thêm, hiệu quả ra sao?.... Các số liệu thu thập được, nhất là với các điểm bị ô nhiễm môi trường nước, những nơi có nguy cơ bị sụt lún đất do khai thác nước quá nhiều, vùng nào nguồn nước bị cạn kiệt cần được bổ cập…phải được cảnh báo với Chính phủ, với địa phương và các cơ quan quản lý… để kịp thời có chính sách phù hợp trong công tác cấp phép, có chế tài xử lý các hiện sai phạm… nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng TNNDĐ hợp lý, có hiệu quả, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển KT-XH của từng vùng và cả nước. 

(Theo Thu Nga - Monre)


Mạng quan trắc nước dưới đất vùng Tây Nguyên cần được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hiện nay và trong tương lai

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai vừa chủ trì cuộc họp với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (QH&ĐTTNN) để nghe báo cáo về công tác rà soát mạng quan trắc nước dưới đất (NDĐ) khu vực  Tây Nguyên.

Khu vực Tây Nguyên có 4 hệ thống sông chính gồm: Sêsan, Sêrêpốc, sông Ba và Đồng Nai. Hiện 5 tỉnh trong khu vực có 212 công trình quan trắc (193 công trình quan trắc NDĐ và 19 công trình quan trắc nước mặt) được bố trí thành 11 tuyến dọc, ngang và các tuyến phụ tại những tầng chứa nước quan trọng và vùng kinh tế trọng điểm… Mục tiêu của các trạm quan trắc nhằm theo dõi có hệ thống sự biến đổi NDĐ về số lượng và chất lượng; sự biến đổi về không gian và thời gian mực nước, tính chất lý học, môi trường, địa chất thủy văn, các yếu tố cân bằng nước ngầm… Từ đó, đề xuất các biện pháp khai thác, sử dụng nước hợp lý, ngăn ngừa những tác động có hại đối với nguồn NDĐ và môi trường. Mạng quan trắc NDĐ ở Tây Nguyên được vận hành từ năm 1996, quá trình vận hành tuy đã được nâng cấp, bố trí thêm nhưng nhìn chung đã lạc hậu, không đáp ứng nhu cầu quan trắc hiện nay và trong tương lai, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tốc độ xây dựng, đô thị hóa nhanh… của các tỉnh, thành phố. Vì thế, mạng quan trắc NDĐ khu vực cần được thiết kế thành mạng chuẩn, hoàn thiện, phù hợp với cấu trúc của các tầng chứa nước khác nhau, đáp ứng nhu cầu quan trắc giai đoạn từ nay đến năm 2015- 2020.

ThutruongLai

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai phát biểu tại cuộc họp

Phát biểu chỉ đạo,Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai nhấn mạnh: Để có mạng chuẩn quan trắc nguồn NDĐ khu vực Tây Nguyên cũng như vùng Bắc Bộ, Nam Bộ, các Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Bắc, miền Trung và miền Nam cần nghiên cứu xây dựng 3 đề tài cấp Bộ hoàn thịên hệ thống quan trắc NDĐ một cách toàn diện, có ý nghĩa thực tiễn. Muốn vậy cần tăng cường rà soát mạng quan trắc hiện có, điều tra, khảo sát nghiên cứu đầy đủ quy hoạch phát triển KT-XH của các tỉnh, thành trong vùng. Tổ chức các hội thảo để các nhà khoa học, các nhà quản lý đóng góp ý kiến cho dự thảo đề án. Đề án phải làm thật công phu, đề ra được mục tiêu cụ thể để đảm bảo tính toàn diện, thực tiễn của công tác quan trắc nguồn NDĐ cho giai đoạn trước mắt và tầm nhìn dài hạn.

Toàn cảnh cuộc họp

 

(Theo Thu Nga - Monre)

Nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT Đỗ Hải Dũng: Sáng tạo, Đổi mới, Dòng nước mới – Dám nghĩ, Dám làm, Vạn thành công!

Đây là lời nhắn gửi của Nguyên Thứ trưởng Đỗ Hải Dũng nhân dịp Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước 47 bước sang tuổi 45.

Có tiền thân là Đoàn Địa chất 47 với chức năng nhiệm vụ ban đầu là tìm kiếm thăm dò vật liệu xây dựng phục vụ khai thác và phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng kiến thiết đất nước; đến nay, Đoàn đã được đổi tên thành Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước 47, trực thuộc Liên Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước miền Bắc. Hiện tại, chức năng nhiệm vụ chính của Đoàn 47 là thực hiện các hoạt động quy hoạch, điều tra đánh giá, quan trắc tài nguyên nước thuộc phạm vi các tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên.

Nhìn lại chặng đường 45 năm xây dựng và trưởng thành, cán bộ công nhân viên chức Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước không khỏi bồi hồi về những ngày tháng đầu tiên đầy gian khổ song cũng rất đỗi tự hào. Trong khoảng 10 năm kể từ ngày thành lập, với sự nỗ lực không ngừng, Đoàn đã đóng góp đáng kể vào việc thăm dò vật liệu xây dựng phục vụ khai thác và phát triển công nghiệp, kiến thiết miền Bắc. Sau năm 1975, Đoàn 47 tiếp tục là đơn vị tiên phong trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng đất nước. Đến nay, công tác điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất phục vụ nhân dân vùng núi đã hoàn thành ở 7 khu vực núi cao đặc biệt khó khăn về nước sinh hoạt thuộc các tỉnh: Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa… Đoàn cũng đã tiến hành khoan và xây dựng các trạm quan trắc động thái nước dưới đất vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng Bắc Trung Bộ; tìm kiếm các nguồn nước khoáng quý giá tại Ba Vì – Hà Nội, Kim Bôi – Hòa Bình, Bản Khạng - Nghệ An.

Tại buổi kỷ niệm 45 năm thành lập Đoàn, Đồng chí Đỗ Hải Dũng – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên & Môi trường, một người  đã có thời gian công tác tại  Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước 47, đã không giấu nổi sự xúc động khi ôn lại chặng đường xây dựng và trưởng thành của Đoàn 47. Trong bài phát biểu của mình, đồng chí đã hết lời biểu dương cán bộ công nhân viên chức Đoàn 47 - những con người dũng cảm trong thời chiến, năng động – sáng tạo ở thời bình. Theo đồng chí Dũng, đây chính là những phẩm chất cao quý để Đoàn 47 tiếp tục những bước đi vững chắc hơn nữa thời gian tới.

 

47DoHaiDung

Nguyên Thứ trưởng Bộ TNMT Đỗ Hải Dũng phát biểu tại buổi lễ kỷ niệm

Với lời đề tặng hết sức ý nghĩa của đồng chí Đỗ Hải Dũng dành cho Đoàn: ‘Sáng tạo, Đổi mới, Dòng nước mới – Dám nghĩ, Dám làm, Vạn thành công!’; Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước 47 vẫn không ngừng nỗ lực, không chỉ làm tốt công việc chuyên môn mà còn sáng tạo trong công ăn việc làm, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên chức đồng thời góp phần xây dựng đất nước, chia sẻ giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh. Trong thâm tâm mỗi con người của Đoàn 47, mỗi dòng nước sạch cho bà con là một niềm vui vô bờ bến và mỗi nguồn nước quý của đất nước là một thành công đáng được ghi nhận.

45 năm có thể là chưa dài với một đơn vị có nhiệm vụ tìm kiếm và giữ gìn một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất của mỗi quốc gia; song 45 năm của Đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên Nước 47 là 45 năm hoạt động hết mình, cống hiến hết mình. Và bởi vậy, những người con của Đoàn 47 có quyền tự hào về 45 năm ấy!

 

(Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin Tài nguyên nước)