Thu10182018

Last update04:48:54 AM GMT

Tin tức Trung tâm

Bản đồ nước dưới đất

Xác định rõ trữ lượng, chất lượng, giá trị sử dụng của tầng nước dưới đất sẽ dễ dàng cho quản lý, nghiên cứu và khai thác sử dụng.

Ở Việt Nam hiện chưa có bản đồ tài nguyên nước dưới đất mà mới chỉ có bản đồ địa chất thủy văn và được xây dựng từ những năm 1950, 1960, với những thông tin cơ bản nhất về tầng nước ngầm.

Thời kỳ đầu, bản đồ địa chất thủy văn chỉ thể hiện độ tổng khoáng hóa và các ion trong nước. Sau khi Hội Địa chất thủy văn quốc tế được thành lập, bản đồ địa chất thủy văn có các thông tin chủ yếu thể hiện ranh giới mặn nhạt và các ion trong nước.

TS. Nguyễn Văn Đản, Viện trưởng Viện Tài nguyên môi trường nước cho rằng, ưu điểm của bản đồ địa chất thủy văn là chú trọng đến quy luật tồn tại nước dưới đất trong đó thể hiện rõ đặc điểm, trữ lượng nước.

Với loại bản đồ này dễ dàng sử dụng cho nhà quản lý nhưng lại khó sử dụng để phân tích cho các nhà chuyên môn cũng như công chúng.

Yêu cầu có một loại bản đồ về nước dưới đất cụ thể được đặt ra. Năm 2008, Bộ TN&MT ban hành các quy định về điều tra nước dưới đất. Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã đề xuất xây dựng và triển khai đề tài nghiên cứu khoa học bản đồ nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000, 1/100.000 và 1/200.000 phục vụ công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước.

Theo nhận định của các nhà chuyên môn, việc có bản đồ nước dưới đất trong thời điểm hiện nay sẽ giúp ích cho nhà quản lý và giới chuyên môn khi có nhu cầu đánh giá trữ lượng nước của khu vực cụ thể. Đồng thời có thể sử dụng các thông tin này để nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ tầng nước ngầm.

TS. Nguyễn Văn Đản cho rằng, nên thành lập bản đồ định hướng khai thác và sử dụng tài nguyên nước dưới đất trong đó thể hiện rõ thông tin về chất lượng và trữ lượng nước có thể khai thác….

Theo bà Trần Thị Huệ (Cục Quản lý Tài nguyên nước), nội dung thể hiện trên bản đồ nước dưới đất phải mang thông tin điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất. Nếu bản đồ địa chất thủy văn thiên về các thông tin về tiềm năng nước dưới đất, thì bản đồ nước dưới đất nêu được chi tiết về trữ lượng, chất lượng nước từng khu vực đi cùng với dự kiến khả năng khai thác.

Hai loại bản đồ địa chất thủy văn và nước dưới đất cần song song tồn tại, bổ trợ nhau. Khi xây dựng bản đồ nước dưới đất cần chọn lọc thông tin tránh trùng lặp với bản đồ địa chất thủy văn, thể hiện đúng mục đích đánh giá tài nguyên nước.

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đang phối hợp với các chuyên gia có kinh nghiệm, hoàn thiện maket bản đồ trình lãnh đạo Bộ TN&MT.

 

“Trên thế giới đã có bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/25.000.000 cho toàn lãnh thổ, tập trung vào lượng bổ cập để nhà hoạch định chiến lược toàn cầu nắm bắt được bức tranh tổng thể nhưng bản đồ này chưa đáp ứng được nhu cầu về khai thác sử dụng. Ngoài ra, một số quốc gia, vùng lãnh thổ có bản đồ riêng song chưa có một quy phạm chung, thống nhất trên toàn cầu”.

 (TS. Tống Ngọc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc)

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

 

Tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng bản đồ nước dưới đất

vv23Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việcSáng 1/3, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai làm việc với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước về việc xây dựng các maket bản đồ nước dưới đất. Đây là đề tài khoa học công nghệ được Trung tâm đề xuất thực hiện từ năm 2008.

Tại buổi làm việc, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Bắc Tống Ngọc Thanh (Chủ nhiệm đề tài) đã trình bày tổng quan về bản đồ tài nguyên nước dưới đất trên thế giới. Theo đó, bản đồ tài nguyên nước dưới đất dược thành lập ở nhiều tỷ lệ khác nhau và trên đó đều thể hiện trữ lượng nước có thể khai thác hoặc mức độ chưa nước của vùng đó. Các bản đồ phần lớn đều làm theo đơn đặt hàng nên trên bản đồ thể hiện các thông số theo yêu cầu của khách hàng chứ chưa có một quy phạm chung, thống nhất.

Theo Chủ nhiệm đề tài Tống Ngọc Thanh, ở Việt Nam hiện mới chỉ có bản đồ địa chất thủy văn được thành lập theo nguyên tắc địa tầng địa chất thủy văn; bản đồ địa chất thủy văn được thành lập theo nguyên tắc dạng tồn tại của nước dưới đất và bản đồ địa chất thủy văn được thành lập theo nguyên tắc thành hệ kết hợp với dạng tồn tại. Hạn chế của các loại bản đồ này là khó đọc và khó sử dụng cho các nhà làm công tác quản lý và công tác chuyên môn.

Trong đề tài nghiên cứu này, các chuyên gia đã đề xuất thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000, 1/100.000 và 1/50.000.

Theo ý kiến của các đại biểu tham dự buổi làm việc, cần thiết phải viết lại đề tài trong đó nêu bật được sự cần thiết của việc thành lập bản đồ nước dưới đất, tổng quan về bản đồ nước dưới đất ở các nước trên thế giới và Việt Nam, so sánh sự khác nhau giữa bản đồ địa chất thủy văn và bản đồ nước dưới đất. Đặc biệt là, trên bản đồ nước dưới đất phải thể hiện được giá trị khai thác nước dưới đất của từng vùng.

Phát biểu tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai đề nghị, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước cần chỉ đạo các đơn vị thực hiện đề tài tiếp tục nghiên cứu, bám sát các văn bản của Bộ TN&MT đã ban hành, xem xét và tham khảo thêm kinh nghiệm của các nước Thái Lan, Philipin... trong khi viết đề tài. Muốn vậy, Trung tâm cần có sự phối hợp với các chuyên gia có kinh nghiệm, hoàn thiện maket bản đồ trình lãnh đạo Bộ. Lãnh đạo Bộ luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao để Việt Nam sớm có bản đồ nước dưới đất trong công tác quản lý, điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

 

 vv24Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra TNN miền Bắc Tống Ngọc Thanh trình bày đề tài

 

 

(Theo Monre.gov.vn)

Cần công bố thông tin dự báo tài nguyên nước

Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước dưới đất về đề cương xây dựng các văn bản do Trung tâm chủ trì diễn ra vào sáng 29/2, Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai chỉ đạo: Trung tâm cần nghiên cứu kỹ và xem xét lại đề cương và nội dung các Thông tư kỹ thuật đã được giao soạn thảo. Để các Thông tư này có chất lượng cao và sát với thực tế, Trung tâm cần mời các chuyên gia về tài nguyên nước có kinh nghiệm tại Trường Đại học Mỏ Địa chất, Hội Địa chất Thủy văn… tham gia tổ biên tập.

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đề nghị, tới đây, Trung tâm cần đẩy nhanh tiến độ soạn thảo các Thông tư quy định kỹ thuật lập bản đồ nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000, 1/100.000, 1/200.000. Đối với nội dung quan trắc tài nguyên nước, cần đưa ra cảnh báo, dự báo và cung cấp thông tin rộng rãi để Chính phủ, các Bộ, ngành cũng như các Sở TN&MT biết.

Trước đó, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước dưới đất và các Liên đoàn trực thuộc đã trình bày dự thảo Thông tư quy định kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước, Thông tư quy định về điều tra đánh giá tài nguyên nước, Thông tư quy định quy cách thể hiện bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000, 1/100.000 và 1/50.000…

 

 

 (Theo Monre.gov.vn)

Hội nghị Tổng kết năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 chính quyền – công đoàn Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam

tt994Ông Phạm Quý Nhân - PGĐ Trung tâm Quy hoạch và Điều tra TNN phát biểu chỉ đạo tại hội nghịNgày 12 tháng 01 năm 2012, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam đã tổ chức hội nghị “ Tổng kết năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 chính quyền – công đoàn Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam”. Tham dự hội nghị có ông Phạm Quý Nhân – Phó giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; ông Phạm Văn Giắng – Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam; Lãnh đạo các đoàn trực thuộc cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên trực thuộc Liên đoàn.

Ông Phạm Văn Giắng – Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam đã thay mặt Liên đoàn đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012. Trong năm 2011, Liên đoàn đã được giao thực hiện 04 đề án; 02 đề tài và 01 nhiệm vụ quan trắc quốc gia tài nguyên nước năm 2011 vùng đồng bằng Nam Bộ; 04 dự án. Tổng số vốn (kể cả số vốn đầu tư xây dựng do Bộ Tài nguyên và Môi trường giao trực tiếp cho Liên đoàn) Liên đòa được giao năm 2011 là 39.616.511.000 đồng.

Trong năm 2011, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cũng như sự sáng tạo, cố gắng và quyết tâm của tập thể Lãnh đạo, cán bộ - công nhân viên trong toàn Liên đoàn, Liên đoàn đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Trung tâm và Bộ tin tưởng giao phó. Trong đó, có một số dự án, đề án quan trọng và cấp thiết liên quan tới đời sống người dân như: Đề án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận” với kết quả khả quan khi 5/7 lỗ khoan do Liên đoàn thực hiện có lưu lượng đạt yêu cầu cấp nước, đã được bàn giao cho chính quyền địa phương đưa vào sử dụng, khai thác nước phục vụ nhân dân trong vùng; Đề án “ Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ (pha III)” đã được Liên đoàn hoàn thành khối lượng thi công và bàn giao cho Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước. Các dự án của Liên đoàn thực hiện trong năm qua đã bám sát và thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai “Các công trình, dự án phải mang hơi thở của cuộc sống” với những dự án mang tính ứng dụng cao, thiết thực phục vụ cho nền kinh tế cũng như nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân.

Bên cạnh đó, ứng phó với biến đổi khí hậu là một trong những mục tiêu quan trọng và ưu tiên hàng đầu của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường cũng như Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước và Liên đoàn. Đặc biệt, TP Hồ Chí Minh nói riêng và Nam Bộ nói chung là những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong bối cảnh bị tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. Xuất phát từ thực tế đó, trong năm vừa qua Liên đoàn đã thực hiện các dự án quan trọng như: Dự án “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất các giải pháp ứng phó”; Đề tài “ Nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của tài nguyên nước dưới đất ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai”…

Trong năm vừa qua, cùng với việc hoàn thành các công trình, dự án được Bộ tài Nguyên và Môi trường, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước giao cho, Liên đoàn cũng chủ động tìm kiếm thêm các hợp đồng tư vấn, dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng đời sống của cán bộ - công nhân viên trực thuộc Liên đoàn. Với thế mạnh là một đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực tài nguyên nước khu vực Nam Bộ, sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm của ban Lãnh đạo Liên đoàn, Liên đoàn đã thực hiện được nhiều dự án, đề án dịch vụ với giá trị lên đến 51,354 tỷ đồng. Đây cũng là một trong những nỗ lực và cố gắng lớn của Liên đoàn nhằm nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu, một kết quả khả quan và rất đáng khích lệ.

 tt995Ông Phạm Văn Giắng - Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam phát biểu tại hội nghị

Năm 2011 cũng đánh dấu một mốc son trong lịch sử của Liên đoàn: Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 30 ngày thành lập Liên đoàn. Trong năm qua, Liên đoàn cũng đã tổ chức thành công hội thảo khoa học với sự tham dự của 110 đại biểu đến từ trong và ngoài Liên đoàn. Hội thao rèn luyện sức khỏe để lao động, sản xuất và bảo vệ tổ quốc do Liên đoàn tổ chức đã thu hút tới hơn 150 vận động viên tham gia và đã thành công tốt đẹp.

Trong năm 2012, nối tiếp truyền thống của Liên đoàn và sự thành công trong năm 2011, Liên đoàn tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý ở tất cả các đơn vị trong toàn Liên đoàn. Liên đoàn cũng đặc biệt chú trọng đến nguồn nhân lực, với mục tiêu đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động, tạo sự kế thừa nhằm phát triển Liên đoàn ngày một vững mạnh và mang tính bền vững; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện bộ máy Lãnh đạo nhằm thực hiện tốt các công trình, dự án được Bộ Tài Nguyên và Môi Trường cũng như Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước giao cho; Tiếp tục tìm kiếm thêm các hợp đồng tư vấn, dịch vụ, đa dạng hóa công việc, chú trọng vào những lĩnh vực sản phẩm chuyên ngành có hàm lượng chất xám cao, công nghệ cao. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho toàn thể cán bộ, công nhân viên trong toàn Liên Đoàn để người lao động yên tâm công tác, tiếp tục gắn bó lâu dài và phát triển Liên đoàn ngày càng vững mạnh.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Ông Phạm Quý Nhân – Phó giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đánh giá cao những kết quả mà Liên đoàn đã thực hiện được trong năm vừa qua. Ông Nhân nhận định, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn nhưng Liên đoàn với sự năng động và sáng tạo đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Bộ và Trung tâm tin tưởng giao phó; Bên cạnh đó, Liên đoàn đã chủ động tìm kiếm và thực hiện được nhiều dự án, tư vấn dịch vụ nhằm ổn định và nâng cao đời sống cho cán bộ - công nhân viên trực thuộc Liên đoàn. Ông Nhân đánh giá, Liên đoàn miền Nam là một trong những Liên đoàn có tính ổn định và kế thừa cao, chất lượng của đội ngũ kỹ thuật và lao động của Liên đoàn ngày càng hoàn thiện và phát triển. Công tác đào tạo và phát triển bền vững của Liên đoàn mang tính bài bản, xứng đáng là mô hình cho các Liên đoàn và các đơn vị trực thuộc Trung tâm học tập. Về mảng tài nguyên nước mặt, ông Nhân nhận định, với sự cố gắng và nỗ lực cũng như sự mạnh dạn đầu tư, dám nghĩ dám làm của Liên đoàn, Liên đoàn thực sự đã khẳng định được thương hiệu của mình bên cạnh thế mạnh truyền thống là lĩnh vực tài nguyên nước dưới đất.

 tt996

Toàn cảnh hội nghị

 Trong năm 2012, Liên đoàn cần đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện bộ máy tổ chức, tiếp tục xây dựng khối đoàn kết, nhất trí trong toàn Liên đoàn. Ông Nhân cũng lưu ý, công tác truyền thông, thông tin  và quảng bá hình ảnh, thương hiệu cho Liên đoàn cần được đẩy mạnh hơn nữa. Đây là một trong những mục tiêu ưu tiên của Trung tâm cũng như các đơn vị trực thuộc nhằm nâng cao vị thế của Trung tâm cũng như các đơn vị trực thuộc trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Ông Phạm Văn Giắng – Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam đã thay mặt Liên đoàn cảm ơn những đóng góp quý báu của Lãnh đạo Trung tâm. Trong năm 2012, Liên đoàn sẽ cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ mà Bộ cũng như Trung tâm tin tưởng giao cho. Ông Giắng cũng cảm ơn ý kiến đóng góp của các Đơn vị trực thuộc đã tới tham dự hội nghị. Trong năm 2012, Liên đoàn sẽ nỗ nực phấn đấu để phát triển Liên đoàn ngày một vững mạnh, xứng đáng với sự tin tưởng và kỳ vọng của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước./.

 

 

 

 (Thanh Sơn - Trung tâm Tư Liệu và Thông tin TNN)

 

Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 phương hướng nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm Tư liệu và Thông tin tài nguyên nước

tt991Ông Lê Văn Đức – Giám đốc Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN đọc báo cáo tổng kết tại Hội nghịNgày 10 tháng 01 năm 2012, Trung tâm Tư liệu và Thông tin tài nguyên nước đã tổ chức “Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 phương hướng nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm”. Tham dự hội nghị có ông Đỗ Tiến Hùng – giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; ông Phạm Quý Nhân – Phó giám đốc Trung tâm quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; bà Nguyễn Thị Hằng – Chánh văn phòng Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; ông Lê Văn Đức – giám đốc Trung tâm Tư liệu và thông tin tài nguyên nước cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên trong toàn Trung tâm.

Ông Lê Văn Đức – Giám đốc Trung tâm Tư liệu và Thông tin Tài nguyên nước đã thay mặt Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012. Trong năm 2011, trung tâm đã tham gia phối hợp với Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung hoàn thành giai đoạn 1 của dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số Làng Ung Thư tại Việt Nam”  và tham gia phối hợp với các đơn vị trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước lập dự án ” Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, đây là dự án do đơn vị đề xuất,  là một dự án tương đối lớn và phức tạp. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng phối hợp với phòng khoa học công nghệ thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước thực hiện nhiệm vụ “ Nghiên cứu ứng dụng mô hình phân tích hệ thống nhằm phân bổ hợp lý nguồn nước phục vụ công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên nước; Tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của dự án ” Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước tỉnh Thanh Hoá’ nhằm bàn giao kịp tiến độ và chất lượng cho Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa; Trong năm qua, Trung tâm cũng đã hoàn thành tốt việc quản lý hệ thống mạng nội bộ cũng như cập nhật tin tức kịp thời cho website của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

Cùng với việc thực hiện và hoàn thành tốt các dự án, đề tài được giao, với sự năng động của lãnh đạo Trung tâm, Trung tâm cũng đã tìm kiếm và thực hiện các dự án tư vấn dịch vụ nhằm nâng cao thu nhập cho cán bộ - công nhân viên trong toàn Trung tâm. Các dự án tiêu biểu của Trung tâm trong năm 2011 có thể kể đến như: ”Thi công công trình Hào thuộc đề án địa chất thăm dò mỏ đồng vùng Nậm He - Huổi Sấy - Mường Tùng - Mường Chà - Điện Biên”; dự án “Xây dựng mới 26 điểm quan trắc khu vực Bắc Trung Bộ”; dự án “Thi công địa vật lý đề án địa chất thăm dò mỏ Mangan khu vực Khuổn Lịch – Nà Bó và Nà Duộc, xã Giáp Trung, xã Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang’…. Đây là một trong những nguồn thu quan trọng góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho cán bộ, công nhân viên của Trung tâm.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng chính trị cho cán bộ, công nhân viên cũng được Lãnh đạo Trung tâm quan tâm đặc biệt. Xác định nguồn nhân lực của Trung tâm là nền tảng cho sự phát triển bền vững và quyết định, Lãnh đạo Trung tâm đã hết sức tạo điều kiện cho toàn thể cán bộ, công nhân viên. Trong năm vừa qua, Trung tâm đã có 05 đồng chí tham dự tập huấn bồi dưỡng lớp học tập lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp đảng do Đảng bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức. Trung tâm cũng đã cử cán bộ của mình tham gia các lớp tập huấn về nghiệp vụ cũng như chuyên môn về kỹ thuật, quản lý do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước tổ chức.

 tt992

 Toàn cảnh Hội nghị

Trong  năm 2012, Trung tâm  tiếp tục triển khai các công việc trên cơ sở định hướng chung chương trình công tác của năm 2011. Trung tâm sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị trong Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước thi công dự án “ Biên hội - thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 của các tỉnh trên toàn quốc”; Chuẩn bị nhân lực thi công tiếp giai đoạn 2 dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số Làng Ung Thư tại Việt Nam”; Tiếp tục tìm kiếm các hợp đồng tư vấn, dịch vụ và tăng cường và hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ, nhằm xây dựng Trung tâm ngày càng vững mạnh và phát triển.

 tt993Ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra TNN phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Đỗ Tiến Hùng – giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước biểu dương những nỗ lực và cố gắng của toàn thể cán bộ và công nhân viên Trung tâm trong năm vừa qua. Ông Hùng nhấn mạnh, mặc dù trong năm vừa qua Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về cơ sở vật chất nhưng với sự sáng tạo, nỗ lực và đoàn kết, Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước giao cho. Trong năm 2012, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Trung tâm cũng cần nỗ lực và cố gắng tìm kiếm thêm các dịch vụ tư vấn và dịch vụ nhằm nâng cao năng lực và cải thiện đời sống cho cán bộ, công nhân viên trong toàn Trung tâm. Ông Hùng tin tưởng, Trung tâm sẽ ngày càng phát triển và vững mạnh, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của Lãnh đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước./.

 

 

 (Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

 

Hội nghị Tổng kết công tác năm 2011, Phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

tt986PGĐ Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Phạm Quý Nhân đọc báo cáo tổng kết tại Hội nghịNgày 04 tháng 01 năm 2011, tại Liên đoàn Quy Điều tra và Quy hoạch tài nguyên nước miền bắc đã diễn ra Hội nghị Tổng kết công tác năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước. Tham dự Đại hội có Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai, ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cùng Lãnh đạo các Liên đoàn và Trung tâm trực thuộc, đại diện của Vụ Tài Chính, Vụ Khoa học Công nghệ, các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan thông tấn, báo chí trong cả nước.

Ông Phạm Quý Nhân – Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước đã thay mặt Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012. Trong năm 2011, Trung tâm được giao (cả nhiệm vụ chuyển tiếp và nhiệm vụ mở mới) 20 nhiệm vụ điều tra (15 nhiệm vụ chuyển tiếp – trong đó có 01 nhiệm vụ Chính phủ, 05 nhiệm vụ mở mới), 02 nhiệm vụ quy hoạch , 09 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (03 nhiệm vụ chuyển tiếp, 03 nhiệm vụ mở mới, 03 đề tài cấp cơ sở), 01 nhiệm vụ đối ứng dự án ODA và 10 nhiệm vụ xây dựng cơ bản. Tổng dự toán ngân sách được giao thanh toán theo các nguồn vốn năm 2011 (đã được điều chỉnh) là 146.177.297 triệu đồng.

Với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm và được sự chỉ đạo sát sao của Thứ trưởng phụ trách cũng như Lãnh đạo Trung tâm, trong năm vùa qua, cán bộ công nhân viên trong toàn Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc các dự án được giao. Trong đó, có một số dự án mang tính trọng điểm và được đánh giá rất cao về mặt chuyên môn cũng như tính thực tiễn áp dụng vào cuộc sống như: Trung tâm đã phối hợp với Tổng cục địa chất và khoáng sản hoàn thành nhiệm vụ chuyển tiếp “Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan – zincon trong tầng cát đỏ vùng Ninh thuận – Bình thuận và Bắc Bà Rịa Vũng Tầu”; Hoàn thành dự án”Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thực hiện; Dự án “ Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” với kết quả rất đáng kích lệ và vượt qua cả kỳ vọng của dự án, với kết quả 0,6l/s tương đương 52m3/ngày, vùng đất được mệnh danh là khô cằn và thiếu nước nhất miền Bắc đứng trước hi vọng được cung cấp đầy đủ nguồn nước sạch dùng cho ăn uống và sinh hoạt cho người dân trong vùng.

tt987Thứ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị
 

Bên cạnh đó, các nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước cũng được Trung tâm chú trọng và coi đây là một trong những điều cốt lõi để nâng cao năng lực về chuyên môn cũng như củng cố vị thế của Trung tâm trong lĩnh vực tài nguyên nước. Trong năm 2011, Trung tâm đã hoàn thiện hồ sơ dự án hoàn thành 04 dự án lập nhiệm vụ quy hoạch chuyển Cục quản lý Tài nguyên nước: “Lập nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình”, “Quy hoạch tài nguyên nước đảo Phú Quốc”, “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” và “Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

Song song với các nhiệm vụ được Chính phủ và Bộ giao cho, Trung tâm cũng tích cực tìm kiếm các hợp đồng dịch vụ nhằm nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho CBCNV . Trong năm vừa qua, tổng giá trị sản xuất dịch vụ của Trung tâm đạt gần 129 tỷ đồng, góp phần làm ổn định đời sống cho CBCNV trong toàn Trung tâm.

Tiếp nối sự thành công của năm 2011, trong năm 2012 Trung tâm sẽ chú trọng vào các dự án trọng điểm như: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về tài nguyên nước trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ quản lý nhà nước và bảo vệ lợi ích cộng đồng; Tăng cường công tác tuyên truyền về nhiệm vụ điều tra, quy hoạch tài nguyên nước, nâng cao vị thế của Trung tâm; Đẩy mạnh công tác quy hoạch, dự báo tài nguyên nước cho các lưu vực sông lớn, các vùng kinh tế trọng điểm; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác điều tra, quy hoạch và dự báo tài nguyên nước; Tăng cường năng lực cơ sở vật chất của Trung tâm và các đơn vị trực thuộc.

tt989Ông Đỗ Tiến Hùng - Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước điều hành Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai đánh giá cao các kết quả mà Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã đạt được. Trong năm vừa qua, Trung tâm đã ngày càng hoàn thiện được bộ máy lãnh đạo Trung tâm, nâng cao được chất lượng đội ngũ CBCNV. Thứ trưởng cũng biểu dương Trung tâm trong công tác đào tạo cán bộ trẻ, đặc biệt là việc tập huấn nâng cao kiến thức, phổ biến kịp thời các thông tư, nghị định của chính phủ, nắm bắt được tinh thần chỉ đạo của Đảng và Bộ trong tình hình mới. Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng đánh giá cao nỗ lực của Trung tâm trong việc tìm kiếm các hợp đồng dịch vụ, nâng cao được chất lượng đời sống CBNV trong Trung tâm cũng như nâng cao được vị thế của Trung tâm. Trong năm 2012, Thứ trưởng yêu cầu Trung tâm đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông thông tin, quảng bá hơn nữa hình ảnh của Trung tâm trong lĩnh vực tài nguyên nước, tiến tới xây dựng Trung tâm thành hạng đặc biệt. Với sự hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa Trung tâm và các Cục, các Vụ trực thuộc Bộ, Thứ trưởng tin tưởng Trung tâm sẽ ngày một phát triển, xứng đáng với vị thế của một Trung tâm đầu ngành trong lĩnh vực tài nguyên nước.

tt990Toàn cảnh Hội nghị 

Ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cảm ơn các ý kiến chỉ đạo quý báu của Thứ trưởng. Trong năm 2012, Trung tâm sẽ cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ mà Chính phủ cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường giao cho. Ông Hùng cũng cảm ơn ý kiến đóng góp của các Đơn vị trực thuộc Bộ, các ban nghành liên quan cũng như các Liên đoàn, Trung tâm trực thuộc đã tới tham dự Đại hội. Trong năm 2012, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước sẽ phấn đấu trở thành lá cờ đầu trong lĩnh vực tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Để đạt được mục tiêu này, ngoài sự cố gắng vượt bậc của toàn thể Lãnh đạo cũng như Cán bộ Công nhân viên trong toàn Trung tâm, cần phải có sự chỉ đạo sát sao và quan tâm nhiều hơn nữa từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các Bộ, các ban ngành liên quan./.

 

 (Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

 




Nước về vùng sâu

tt1001Ảnh minh họa (Nguồn:Internet)Xã Nhị Hà là một xã thuộc vùng sâu, vùng xa nằm về phía Tây huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Hiện tại đời sống của nhân dân trong xã còn nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về nguồn nước. Trong nhiều năm qua, chính quyền địa phương chưa có kinh phí để xây dựng hệ thống giếng khoan khai thác nước ngầm tập chung cấp cho bà con ăn uống và sinh hoạt. Người dân đa số sử dụng nguồn nước từ các sông, hồ, giếng đào. Tuy nhiên, vào mùa khô hạn các nguồn nước này đều bị cạn kiệt, một số giếng đào nước bị nhiễm mặn không sử dụng được.

Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên và nhu cầu sử dụng nước của nhân dân trong vùng, việc xây dựng các trạm cấp nước ngầm tập trung giải quyết các nhu cầu về nước sạch phục vụ cho ăn uống cũng như sinh hoạt cho bà con là hết sức cần thiết. Vừa qua, được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã đầu tư ngân sách và thực hiện công tác điều tra, khảo sát, khoan cho địa phương 4 giếng khoan trong đó có 3 giếng (NH2, NH3 thôn 2 và NH4 thôn 3) được lắp đặt hệ thống khai thác nước.

Với việc đưa 3 giếng khoan vào sử dụng, nhân dân xã Nhị Hà từ nay được cung cấp nguồn nước sạch, đảm bảo vệ sinh phục vụ cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt, cơ bản giải quyết được vấn đề nan giải về nhu cầu dùng nước trong mùa khô của nhân dân. Đồng thời, sự quan tâm và đầu tư đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Bộ tài nguyên và Môi trường cũng như Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước là rất thiết thực và hiệu quả đối với những vùng đặc biệt khó khăn, góp phần vào việc phát triển dân sinh kinh tế của địa phương./.

 

(Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KỸ THUẬT NĂM 2011 CỦA LIÊN ĐOÀN QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC MIỀN NAM

I. Lập đề án, dự án, đề tài mới

     Năm 2011, Liên đoàn đã mở mới được 6 nhiệm vụ, trong đó gồm:

     Các nhiệm vụ đã được Bộ phê duyệt và thi công:

     1. Đề án "Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000 vùng Bắc sông Tiền".

     2. Đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của tài nguyên nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai".

     3. Đề án "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất giải pháp ứng phó".

     Các nhiệm vụ đã được Trung tâm thông qua và trình Bộ chờ phê duyệt:

     4. Đề án "Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâuNamBộ - Pha 4".

     5. Đề án "Lập nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông Srêpok”.

     6. Đề tài KHCN "Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ đo ảnh điện 3D trong điều tra các thấu kính nước nhạt nông khu vực ven biển. Áp dụng ở huyện Cần Giờ - TPHCM và Bà Rịa - Vũng Tàu".

  II. Các nhiệm vụ chuyên môn

1. Đề án "Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Hòa, tỉnh Long An":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (sổ khoan, sổ bơm, kết quả phân tích mẫu, kết quả tính thông số …) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng thực hiện đầy đủ, tuân theo các quy định. Tài liệu được trình bày và sắp xếp gọn gàng, dễ tra cứu.

     +/ Một số phát hiện chính:

          Đã xác định được diện phân bố, chiều sâu, chiều dày, thành phần thạnh học, khả năng chứa nước và khai thác, chất lượng nước của các tầng tại các lỗ khoan nghiên cứu và quan hệ thủy lực giữa các tầng.

          Kết quả thi công đã điều chỉnh được ranh mặn: i) thu hẹp phạm vi phân bố nước nhạt các tầng chứa nước qp2-3 (tại LK DHS1b) và n21 (tại LK DHS8c)  và ii) mở rộng phạm vi phân bố nước nhạt tại tầng n21 (tại LK DHS3).

         Lưu lượng thí nghiệm của 05 lỗ khoan nước nhạt đạt 2.885m3/ng (trong đó: tầng qp3 là 454,5m3/ng; tầng qp1 1.238,9m3/ng; tầng n22 là 835,5m3/ng và tầng n21 là 355,9m3/ng).

         Nước khoáng Silic: gặp tại các lỗ khoan DHS1b - tầng qp2-3 (SiO2 = 46,48mg/l), DHS1c - tầng qp1 (SiO2 = 45,23mg/l), DHS1c - tầng n21 (SiO2 = 172,93mg/l), DHS9 - tầng n22 (SiO2 = 39,04mg/l).

         Nước khoáng nóng: gặp tại các lỗ khoan DHS3 - tầng n21 (33,0oC),  DHS6 - tầng n22(32,0oC).

2. Đề án "Lập bản đồ địa chất thủy văn - địa chất công trình tỉ lệ 1/50.000 vùng Vị Thanh - Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (nhật ký đo vẽ, sổ khoan, sổ bơm, kết quả phân tích mẫu, kết quả tính thông số …) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ, tuân thủ các quy định. Tài liệu được trình bày và sắp xếp gọn gàng, dễ tra cứu.

     +/ Một số phát hiện chính:

         Đã xác định được bề dày lớp phủ, các tham số cơ lý mođul đàn hồi, hệ số Poison, vận tốc truyền sóng cho từng lớp trong vùng lập bản đồ địa chất công trình.

         Đã xác lập được hàm tương quan của các tham số cơ lý chính: mođul đàn hồi, tốc độ truyền sóng, mật độ, độ rỗng với tham số điện trở suất.

         Lập các sơ đồ dự báo tham số cơ lý chính: mođul đàn hồi, tốc độ truyền sóng, mật độ, độ rỗng theo kết quả đo sâu điện toàn vùng đo vẽ địa chất công trình.

         Đã xác định các ranh giới nguồn gốc thành tạo các lớp đất trên mặt. Ngoài ra, công tác phân tích ảnh còn khoanh định được các cấu trúc địa mạo trong vùng nghiên cứu.

         Đã xác định được diện phân bố, chiều sâu, chiều dày, thành phần thạch học, khả năng chứa nước và khai thác, chất lượng nước của các tầng chứa nước đến độ sâu 500m.

        Đã phát hiện các tầng chứa nước nhạt ở độ sâu > 300m,với diện tích khá trải rộng từ trung tâm thành phố Vị Thanh (lỗ khoan LM5) đến ranh giới phía đông (lỗ khoan LM6,  LM10) với điện trở suất 13 - 18ohm.

3. Đề án "Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 3":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (sổ khoan, sổ bơm, kết quả phân tích mẫu, kết quả tính thông số …) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định. Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ, tuân thủ các quy định.

     +/ Báo cáo kết quả đề án: đã thực hiện đầy đủ các nội dung cần thiết theo đề cương đã được góp ý của Cục Quản lý tài nguyên và đã được phê chuẩn.

     +/ Một số phát hiện chính:

         Đã xác định được diện phân bố, chiều sâu, chiều dày, thành phần thạch học, khả năng chứa nước và khai thác, chất lượng nước của các tầng trong hai vùng.

         Đã đánh giá được trữ lượng cấp C1 là  939m3/ngày, đã bàn giao cho UBND xã Đông Thạnh lỗ khoan S334 để phục vụ cấp nước.

        Khu vực Tân Thành B, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (lỗ khoan S327) không có nước nhạt đạt yêu cầu khai thác phục vụ ăn uống, sinh hoạt.

4. Đề án "Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỉ lệ 1/50.000 vùng Bắc sông Tiền":

Các kết quả đạt được:

     +/ Dự án đã được Bộ phê duyệt nội dung và Dự toán theo Quyết định số 1675/QĐ-BTNMT ngày 30/8/2011.

5. Đề án "Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (bản đồ thực địa tỉ lệ 1/50.000, nhật ký đo vẽ, sổ lấy mẫu nước, giấy gửi mẫu nước, sổ tổng hợp các điểm khảo sát, hộp mẫu lưu địa chất) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ (các bản đồ, tập phiếu, sổ tổng hợp…), tuân thủ các quy định.

     +/ Một số phát hiện chính:

        Kết quả đã thành lập được các mặt cắt địa điện và sơ bộ khoanh định ranh giới, phân bố về chiều sâu và diện (ranh mặn nhạt) của các tầng chứa nước, làm cơ sở định hướng cho bước địa chất tiếp theo.

        Phát hiện  khu vực nước nhạt tầng Holocen ở ven biển phía tây nam với lưu lượng có nơi đạt đến 1,03l/s có thể dùng cung cấp cho ăn uống sinh hoạt của các hộ gia đình.

6. Đề án "Điều tra nguồn nước dưới đất một số vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (bản đồ thực địa, nhật ký đo vẽ, sổ theo dõi khoan, hút nước thí nghiệm...) thành lập nghiêm túc và đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ (các bản đồ, tập phiếu, sổ tổng hợp…), tuân thủ các quy định chung và toàn đề án.

     +/ Các văn bản liên quan đến công tác khai thai dẫn đã được chuẩn bị đầy đủ và hợp lệ.

     +/ Một số phát hiện chính:

        Đã xác định được đối tượng chứa nước có triển vọng chứa nước, khoanh định được diện tích phân bố nước mặn.

        Kết quả đã đạt được 5/7 lỗ khoan có đủ nước khai thác theo yêu cầu của đề án.

        Tổng lượng nước khai thác được bàn giao cho địa phương là 458,35m3/ng (mục tiêu của đề án 192m3/ng).

7. Đề án "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất giải pháp ứng phó":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy của công tác điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất tỉ lệ 1/200.000 (bao gồm: bản đồ thực địa, sổ khảo sát, bBáo cáo kết quả công tác chuẩn bị, báo cáo kết quả điều tra hiện trạng) và công tác đánh giá tổng quan tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 (nội nghiệp và đo sâu điện) thành lập nghiêm túc và đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ (các tập phiếu lỗ khoan, sổ tổng hợp…), thành lập công phu, sạch đẹp đúng quy định.

     +/ Đã thu thập được số liệu hiện trạng khai thác trong toàn vùng là  1.793.024m3/ng tại 488.789 lỗ khoan khai thác các loại (trong đó:  696.029m3/ng của 931 lỗ khoan có lưu lượng > 200m3/ng và 1.096.995m3/ng của 487.858 giếng có lưu lượng <200m3/ng).

     +/ Đã thu thập được lượng tài liệu khá lớn gồm: 706 phiếu lỗ khoan, 301 tài liệu hút nước thí nghiệm,  4.817 mẫu thành phần hóa học, 432 mẫu vi lượng, 1.964 điểm đo sâu điện, 315 điểm đo carota, 57.312 số liệu mực nước (trung bình, lớn nhất, nhỏ  nhất của tháng).

  III. Các nhiệm vụ nguồn vốn sự nghiệp môi trường

Đề án “Quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất giai đoạn 2008 - 2010":

Các kết quả đạt được:

     +/ Bảo đảm vận hành mạng hoạt động bình thường, liên tục, chất lượng tài liệu đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật đề ra.

     +/ Thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu động thái nước dưới đất vùng Đồng bằng Nam Bộ.

     +/ Thường xuyên thông báo đặc trưng mực nước và chất lượng đến các địa phương ở Đồng bằng Nam Bộ.

     +/ Hoàn thành các báo cáo chuyên môn về động thái mực nước, thành phần hoá học nước dưới đất.

     +/ Kết quả quan trắc năm 2011 đã đưa ra các đánh giá quan trọng:

     a. Về mực nước: so với năm 2010, các tầng chứa nước phân bố nông nhiều nơi có mực nước dâng cao hơn, phổ biến nhiều nơi với biên độ dâng khá lớn. Trung bình chênh lệch mực nước so với cùng kỳ năm 2010 nhiều nơi đạt giá trị vài chục cm, cá biệt có nơi > 1m (lỗ khoan Q003340 đạt 1,7m). Diễn biến dâng mực nước có nơi thể hiện 3 dạng:

         Dạng 1: Trong tất cả các tháng tại các tầng chứa nước phân bố nông hoặc lộ trên mặt ở Đông nam bộ (qh, qp3, qp2-3, qp1,và n22).

         Dạng 2: Phần lớn các tháng trong năm tại các tầng chứa nước phân bố nông ở Tây Nam bộ (qh và qp3).

         Dạng 3: Chỉ trong các tháng mùa mưa tại các tầng chứa nước phân bố nông ở các tỉnh ven biên giới Việt Nam - Campuchia hoặc các tầng chứa nước khai thác mạnh tại các tỉnh ven biển.

      +/ Xu hướng giảm mực nước so với cùng kỳ nhiều năm trước: mực nước trong tất cả các tầng chứa nước đều có xu hướng giảm, cá biệt trong tầng qh tại khu vực ven biển có xu hướng tăng. Mực nước trong các tầng chứa nước tại các khu vực liên quan đến khai thác ở thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... mực nước có xu hướng giảm mạnh.

      +/ Đặc biệt, so với giá trị trung bình nhiều năm:

          Tầng qp2-3: tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh mực nước giảm rất mạnh 7,44m và khu vực Tây Nam bộ mực nước giảm 1,31÷ 2,85m.

          Tầng qp1: tại thành phố Hồ Chí Minh mực nước giảm khoảng 2,91÷8,44m và khu vực Tây Nam bộ giảm 0,25÷2,57m.

          Tầng n22 : khu vực Đông Nam bộ mực nước giảm 1,7 ÷5,24m, tại các khu vực khai thác như thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp giảm 4,80÷8,98m và tại các khu vực ven biển Tây Nam bộ giảm 2,95÷5,28m.

          Tầng n21: ở khu vực Đông Nam bộ mực nước giảm khoảng 2,03m, trung tâm đồng bằng Nam bộ giảm 5,46÷5,92m và các khu vực ven biển giảm khoảng 4,02÷6,53m.

          Tầng tầng n13: ở khu vực Đông Nam bộ mực nước giảm khoảng 2,74m, turng tâm đồng bằng Nam bộ giảm 5,34m và các khu vực ven biển giảm khoảng 1,55m.

          Tầng chứa nước trong đá Bazan mực nước giảm 2,79m.

    b. Về thành phần hoá học: đánh giá chất lượng nước dưới đất cho các tầng chứa nước chủ yếu ở đồng bằng Nam bộ vào thời kỳ mùa khô năm 2011 theo QCVN 09:2008 và so sánh với cùng kỳ năm 2010 cho thấy đễn biến thành phần hóa học có các xu hướng chính sau:

     +/ Xu hướng giảm chất lượng: tầng qh và n13: do tăng về số lượng công trình có chỉ tiêu vượt và tăng về số lượng chỉ tiêu vượt quy chuẩn.

     +/ Xu hướng được cải thiện: tầng qp2-3: do giảm về số lượng công trình có chỉ tiêu vượt đồng thời cũng giảm về số lượng chỉ tiêu vượt.

     +/ Xu hướng ổn định: tầng qp3.

     +/ Ba tầng còn lại biến đổi đan xen nhau: tầng qp1 và n21 giảm số lượng công trình có chỉ tiêu vượt nhưng tăng số lượng chỉ tiêu vượt. Ngược lại, tầng n22 tăng số lượng công trình có chỉ tiêu vượt nhưng giảm số lượng chỉ tiêu vượt.

IV. Đề tài, dự án độc lập cấp Bộ

     1. Hai đề tài KHCN đã hoàn thành và đã được Bộ phê chuẩn:

     +/ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khoan tuần hoàn ngược khi khoan trong đá cứng để khoan các giếng khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất vùng Đông Nam Bộ.

     +/ Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật địa hóa, địa vật lý, đồng vị để đánh giá sự dịch chuyển của một số nguyên tố và hợp chất độc hại tại bãi rác Đông Thạnh, Tp. HCM.

     2. Đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu năm thứ nhất của đề tài "Nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của tài nguyên nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai"

     Năm 2011 Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Khối lượng thực hiện đầy đủ, các tài liệu nguyên thủy tin cậy, được chỉnh lý tuân thủ theo các qui định và bảo đảm chất lượng. Quá trình thực hiện tuân thủ theo mục tiêu, phương pháp, trình tự thi công của các đề án, dự án, đề tài đã được phê duyệt.

 

 

(CWRPI)