Mon07162018

Last update08:47:43 AM GMT

Tin tức Trung tâm

Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 phương hướng nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm Tư liệu và Thông tin tài nguyên nước

tt991Ông Lê Văn Đức – Giám đốc Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN đọc báo cáo tổng kết tại Hội nghịNgày 10 tháng 01 năm 2012, Trung tâm Tư liệu và Thông tin tài nguyên nước đã tổ chức “Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 phương hướng nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm”. Tham dự hội nghị có ông Đỗ Tiến Hùng – giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; ông Phạm Quý Nhân – Phó giám đốc Trung tâm quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; bà Nguyễn Thị Hằng – Chánh văn phòng Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước; ông Lê Văn Đức – giám đốc Trung tâm Tư liệu và thông tin tài nguyên nước cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên trong toàn Trung tâm.

Ông Lê Văn Đức – Giám đốc Trung tâm Tư liệu và Thông tin Tài nguyên nước đã thay mặt Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012. Trong năm 2011, trung tâm đã tham gia phối hợp với Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung hoàn thành giai đoạn 1 của dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số Làng Ung Thư tại Việt Nam”  và tham gia phối hợp với các đơn vị trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước lập dự án ” Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, đây là dự án do đơn vị đề xuất,  là một dự án tương đối lớn và phức tạp. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng phối hợp với phòng khoa học công nghệ thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước thực hiện nhiệm vụ “ Nghiên cứu ứng dụng mô hình phân tích hệ thống nhằm phân bổ hợp lý nguồn nước phục vụ công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên nước; Tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của dự án ” Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước tỉnh Thanh Hoá’ nhằm bàn giao kịp tiến độ và chất lượng cho Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa; Trong năm qua, Trung tâm cũng đã hoàn thành tốt việc quản lý hệ thống mạng nội bộ cũng như cập nhật tin tức kịp thời cho website của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

Cùng với việc thực hiện và hoàn thành tốt các dự án, đề tài được giao, với sự năng động của lãnh đạo Trung tâm, Trung tâm cũng đã tìm kiếm và thực hiện các dự án tư vấn dịch vụ nhằm nâng cao thu nhập cho cán bộ - công nhân viên trong toàn Trung tâm. Các dự án tiêu biểu của Trung tâm trong năm 2011 có thể kể đến như: ”Thi công công trình Hào thuộc đề án địa chất thăm dò mỏ đồng vùng Nậm He - Huổi Sấy - Mường Tùng - Mường Chà - Điện Biên”; dự án “Xây dựng mới 26 điểm quan trắc khu vực Bắc Trung Bộ”; dự án “Thi công địa vật lý đề án địa chất thăm dò mỏ Mangan khu vực Khuổn Lịch – Nà Bó và Nà Duộc, xã Giáp Trung, xã Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang’…. Đây là một trong những nguồn thu quan trọng góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho cán bộ, công nhân viên của Trung tâm.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng chính trị cho cán bộ, công nhân viên cũng được Lãnh đạo Trung tâm quan tâm đặc biệt. Xác định nguồn nhân lực của Trung tâm là nền tảng cho sự phát triển bền vững và quyết định, Lãnh đạo Trung tâm đã hết sức tạo điều kiện cho toàn thể cán bộ, công nhân viên. Trong năm vừa qua, Trung tâm đã có 05 đồng chí tham dự tập huấn bồi dưỡng lớp học tập lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạp đảng do Đảng bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức. Trung tâm cũng đã cử cán bộ của mình tham gia các lớp tập huấn về nghiệp vụ cũng như chuyên môn về kỹ thuật, quản lý do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước tổ chức.

 tt992

 Toàn cảnh Hội nghị

Trong  năm 2012, Trung tâm  tiếp tục triển khai các công việc trên cơ sở định hướng chung chương trình công tác của năm 2011. Trung tâm sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị trong Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước thi công dự án “ Biên hội - thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 của các tỉnh trên toàn quốc”; Chuẩn bị nhân lực thi công tiếp giai đoạn 2 dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số Làng Ung Thư tại Việt Nam”; Tiếp tục tìm kiếm các hợp đồng tư vấn, dịch vụ và tăng cường và hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ, nhằm xây dựng Trung tâm ngày càng vững mạnh và phát triển.

 tt993Ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra TNN phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Đỗ Tiến Hùng – giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước biểu dương những nỗ lực và cố gắng của toàn thể cán bộ và công nhân viên Trung tâm trong năm vừa qua. Ông Hùng nhấn mạnh, mặc dù trong năm vừa qua Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về cơ sở vật chất nhưng với sự sáng tạo, nỗ lực và đoàn kết, Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước giao cho. Trong năm 2012, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Trung tâm cũng cần nỗ lực và cố gắng tìm kiếm thêm các dịch vụ tư vấn và dịch vụ nhằm nâng cao năng lực và cải thiện đời sống cho cán bộ, công nhân viên trong toàn Trung tâm. Ông Hùng tin tưởng, Trung tâm sẽ ngày càng phát triển và vững mạnh, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của Lãnh đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước./.

 

 

 (Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

 

Hội nghị Tổng kết công tác năm 2011, Phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

tt986PGĐ Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Phạm Quý Nhân đọc báo cáo tổng kết tại Hội nghịNgày 04 tháng 01 năm 2011, tại Liên đoàn Quy Điều tra và Quy hoạch tài nguyên nước miền bắc đã diễn ra Hội nghị Tổng kết công tác năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 và đánh giá cán bộ lãnh đạo Trung tâm của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước. Tham dự Đại hội có Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai, ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cùng Lãnh đạo các Liên đoàn và Trung tâm trực thuộc, đại diện của Vụ Tài Chính, Vụ Khoa học Công nghệ, các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan thông tấn, báo chí trong cả nước.

Ông Phạm Quý Nhân – Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước đã thay mặt Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012. Trong năm 2011, Trung tâm được giao (cả nhiệm vụ chuyển tiếp và nhiệm vụ mở mới) 20 nhiệm vụ điều tra (15 nhiệm vụ chuyển tiếp – trong đó có 01 nhiệm vụ Chính phủ, 05 nhiệm vụ mở mới), 02 nhiệm vụ quy hoạch , 09 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (03 nhiệm vụ chuyển tiếp, 03 nhiệm vụ mở mới, 03 đề tài cấp cơ sở), 01 nhiệm vụ đối ứng dự án ODA và 10 nhiệm vụ xây dựng cơ bản. Tổng dự toán ngân sách được giao thanh toán theo các nguồn vốn năm 2011 (đã được điều chỉnh) là 146.177.297 triệu đồng.

Với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm và được sự chỉ đạo sát sao của Thứ trưởng phụ trách cũng như Lãnh đạo Trung tâm, trong năm vùa qua, cán bộ công nhân viên trong toàn Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc các dự án được giao. Trong đó, có một số dự án mang tính trọng điểm và được đánh giá rất cao về mặt chuyên môn cũng như tính thực tiễn áp dụng vào cuộc sống như: Trung tâm đã phối hợp với Tổng cục địa chất và khoáng sản hoàn thành nhiệm vụ chuyển tiếp “Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan – zincon trong tầng cát đỏ vùng Ninh thuận – Bình thuận và Bắc Bà Rịa Vũng Tầu”; Hoàn thành dự án”Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thực hiện; Dự án “ Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” với kết quả rất đáng kích lệ và vượt qua cả kỳ vọng của dự án, với kết quả 0,6l/s tương đương 52m3/ngày, vùng đất được mệnh danh là khô cằn và thiếu nước nhất miền Bắc đứng trước hi vọng được cung cấp đầy đủ nguồn nước sạch dùng cho ăn uống và sinh hoạt cho người dân trong vùng.

tt987Thứ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị
 

Bên cạnh đó, các nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước cũng được Trung tâm chú trọng và coi đây là một trong những điều cốt lõi để nâng cao năng lực về chuyên môn cũng như củng cố vị thế của Trung tâm trong lĩnh vực tài nguyên nước. Trong năm 2011, Trung tâm đã hoàn thiện hồ sơ dự án hoàn thành 04 dự án lập nhiệm vụ quy hoạch chuyển Cục quản lý Tài nguyên nước: “Lập nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình”, “Quy hoạch tài nguyên nước đảo Phú Quốc”, “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” và “Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

Song song với các nhiệm vụ được Chính phủ và Bộ giao cho, Trung tâm cũng tích cực tìm kiếm các hợp đồng dịch vụ nhằm nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho CBCNV . Trong năm vừa qua, tổng giá trị sản xuất dịch vụ của Trung tâm đạt gần 129 tỷ đồng, góp phần làm ổn định đời sống cho CBCNV trong toàn Trung tâm.

Tiếp nối sự thành công của năm 2011, trong năm 2012 Trung tâm sẽ chú trọng vào các dự án trọng điểm như: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về tài nguyên nước trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ quản lý nhà nước và bảo vệ lợi ích cộng đồng; Tăng cường công tác tuyên truyền về nhiệm vụ điều tra, quy hoạch tài nguyên nước, nâng cao vị thế của Trung tâm; Đẩy mạnh công tác quy hoạch, dự báo tài nguyên nước cho các lưu vực sông lớn, các vùng kinh tế trọng điểm; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác điều tra, quy hoạch và dự báo tài nguyên nước; Tăng cường năng lực cơ sở vật chất của Trung tâm và các đơn vị trực thuộc.

tt989Ông Đỗ Tiến Hùng - Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước điều hành Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai đánh giá cao các kết quả mà Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã đạt được. Trong năm vừa qua, Trung tâm đã ngày càng hoàn thiện được bộ máy lãnh đạo Trung tâm, nâng cao được chất lượng đội ngũ CBCNV. Thứ trưởng cũng biểu dương Trung tâm trong công tác đào tạo cán bộ trẻ, đặc biệt là việc tập huấn nâng cao kiến thức, phổ biến kịp thời các thông tư, nghị định của chính phủ, nắm bắt được tinh thần chỉ đạo của Đảng và Bộ trong tình hình mới. Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng đánh giá cao nỗ lực của Trung tâm trong việc tìm kiếm các hợp đồng dịch vụ, nâng cao được chất lượng đời sống CBNV trong Trung tâm cũng như nâng cao được vị thế của Trung tâm. Trong năm 2012, Thứ trưởng yêu cầu Trung tâm đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông thông tin, quảng bá hơn nữa hình ảnh của Trung tâm trong lĩnh vực tài nguyên nước, tiến tới xây dựng Trung tâm thành hạng đặc biệt. Với sự hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa Trung tâm và các Cục, các Vụ trực thuộc Bộ, Thứ trưởng tin tưởng Trung tâm sẽ ngày một phát triển, xứng đáng với vị thế của một Trung tâm đầu ngành trong lĩnh vực tài nguyên nước.

tt990Toàn cảnh Hội nghị 

Ông Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cảm ơn các ý kiến chỉ đạo quý báu của Thứ trưởng. Trong năm 2012, Trung tâm sẽ cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ mà Chính phủ cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường giao cho. Ông Hùng cũng cảm ơn ý kiến đóng góp của các Đơn vị trực thuộc Bộ, các ban nghành liên quan cũng như các Liên đoàn, Trung tâm trực thuộc đã tới tham dự Đại hội. Trong năm 2012, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước sẽ phấn đấu trở thành lá cờ đầu trong lĩnh vực tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Để đạt được mục tiêu này, ngoài sự cố gắng vượt bậc của toàn thể Lãnh đạo cũng như Cán bộ Công nhân viên trong toàn Trung tâm, cần phải có sự chỉ đạo sát sao và quan tâm nhiều hơn nữa từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các Bộ, các ban ngành liên quan./.

 

 (Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

 




Nước về vùng sâu

tt1001Ảnh minh họa (Nguồn:Internet)Xã Nhị Hà là một xã thuộc vùng sâu, vùng xa nằm về phía Tây huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Hiện tại đời sống của nhân dân trong xã còn nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về nguồn nước. Trong nhiều năm qua, chính quyền địa phương chưa có kinh phí để xây dựng hệ thống giếng khoan khai thác nước ngầm tập chung cấp cho bà con ăn uống và sinh hoạt. Người dân đa số sử dụng nguồn nước từ các sông, hồ, giếng đào. Tuy nhiên, vào mùa khô hạn các nguồn nước này đều bị cạn kiệt, một số giếng đào nước bị nhiễm mặn không sử dụng được.

Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên và nhu cầu sử dụng nước của nhân dân trong vùng, việc xây dựng các trạm cấp nước ngầm tập trung giải quyết các nhu cầu về nước sạch phục vụ cho ăn uống cũng như sinh hoạt cho bà con là hết sức cần thiết. Vừa qua, được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã đầu tư ngân sách và thực hiện công tác điều tra, khảo sát, khoan cho địa phương 4 giếng khoan trong đó có 3 giếng (NH2, NH3 thôn 2 và NH4 thôn 3) được lắp đặt hệ thống khai thác nước.

Với việc đưa 3 giếng khoan vào sử dụng, nhân dân xã Nhị Hà từ nay được cung cấp nguồn nước sạch, đảm bảo vệ sinh phục vụ cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt, cơ bản giải quyết được vấn đề nan giải về nhu cầu dùng nước trong mùa khô của nhân dân. Đồng thời, sự quan tâm và đầu tư đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Bộ tài nguyên và Môi trường cũng như Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước là rất thiết thực và hiệu quả đối với những vùng đặc biệt khó khăn, góp phần vào việc phát triển dân sinh kinh tế của địa phương./.

 

(Thanh Sơn - Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KỸ THUẬT NĂM 2011 CỦA LIÊN ĐOÀN QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC MIỀN NAM

I. Lập đề án, dự án, đề tài mới

     Năm 2011, Liên đoàn đã mở mới được 6 nhiệm vụ, trong đó gồm:

     Các nhiệm vụ đã được Bộ phê duyệt và thi công:

     1. Đề án "Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/50.000 vùng Bắc sông Tiền".

     2. Đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của tài nguyên nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai".

     3. Đề án "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất giải pháp ứng phó".

     Các nhiệm vụ đã được Trung tâm thông qua và trình Bộ chờ phê duyệt:

     4. Đề án "Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâuNamBộ - Pha 4".

     5. Đề án "Lập nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông Srêpok”.

     6. Đề tài KHCN "Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ đo ảnh điện 3D trong điều tra các thấu kính nước nhạt nông khu vực ven biển. Áp dụng ở huyện Cần Giờ - TPHCM và Bà Rịa - Vũng Tàu".

  II. Các nhiệm vụ chuyên môn

1. Đề án "Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Hòa, tỉnh Long An":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (sổ khoan, sổ bơm, kết quả phân tích mẫu, kết quả tính thông số …) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng thực hiện đầy đủ, tuân theo các quy định. Tài liệu được trình bày và sắp xếp gọn gàng, dễ tra cứu.

     +/ Một số phát hiện chính:

          Đã xác định được diện phân bố, chiều sâu, chiều dày, thành phần thạnh học, khả năng chứa nước và khai thác, chất lượng nước của các tầng tại các lỗ khoan nghiên cứu và quan hệ thủy lực giữa các tầng.

          Kết quả thi công đã điều chỉnh được ranh mặn: i) thu hẹp phạm vi phân bố nước nhạt các tầng chứa nước qp2-3 (tại LK DHS1b) và n21 (tại LK DHS8c)  và ii) mở rộng phạm vi phân bố nước nhạt tại tầng n21 (tại LK DHS3).

         Lưu lượng thí nghiệm của 05 lỗ khoan nước nhạt đạt 2.885m3/ng (trong đó: tầng qp3 là 454,5m3/ng; tầng qp1 1.238,9m3/ng; tầng n22 là 835,5m3/ng và tầng n21 là 355,9m3/ng).

         Nước khoáng Silic: gặp tại các lỗ khoan DHS1b - tầng qp2-3 (SiO2 = 46,48mg/l), DHS1c - tầng qp1 (SiO2 = 45,23mg/l), DHS1c - tầng n21 (SiO2 = 172,93mg/l), DHS9 - tầng n22 (SiO2 = 39,04mg/l).

         Nước khoáng nóng: gặp tại các lỗ khoan DHS3 - tầng n21 (33,0oC),  DHS6 - tầng n22(32,0oC).

2. Đề án "Lập bản đồ địa chất thủy văn - địa chất công trình tỉ lệ 1/50.000 vùng Vị Thanh - Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (nhật ký đo vẽ, sổ khoan, sổ bơm, kết quả phân tích mẫu, kết quả tính thông số …) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ, tuân thủ các quy định. Tài liệu được trình bày và sắp xếp gọn gàng, dễ tra cứu.

     +/ Một số phát hiện chính:

         Đã xác định được bề dày lớp phủ, các tham số cơ lý mođul đàn hồi, hệ số Poison, vận tốc truyền sóng cho từng lớp trong vùng lập bản đồ địa chất công trình.

         Đã xác lập được hàm tương quan của các tham số cơ lý chính: mođul đàn hồi, tốc độ truyền sóng, mật độ, độ rỗng với tham số điện trở suất.

         Lập các sơ đồ dự báo tham số cơ lý chính: mođul đàn hồi, tốc độ truyền sóng, mật độ, độ rỗng theo kết quả đo sâu điện toàn vùng đo vẽ địa chất công trình.

         Đã xác định các ranh giới nguồn gốc thành tạo các lớp đất trên mặt. Ngoài ra, công tác phân tích ảnh còn khoanh định được các cấu trúc địa mạo trong vùng nghiên cứu.

         Đã xác định được diện phân bố, chiều sâu, chiều dày, thành phần thạch học, khả năng chứa nước và khai thác, chất lượng nước của các tầng chứa nước đến độ sâu 500m.

        Đã phát hiện các tầng chứa nước nhạt ở độ sâu > 300m,với diện tích khá trải rộng từ trung tâm thành phố Vị Thanh (lỗ khoan LM5) đến ranh giới phía đông (lỗ khoan LM6,  LM10) với điện trở suất 13 - 18ohm.

3. Đề án "Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 3":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (sổ khoan, sổ bơm, kết quả phân tích mẫu, kết quả tính thông số …) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định. Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ, tuân thủ các quy định.

     +/ Báo cáo kết quả đề án: đã thực hiện đầy đủ các nội dung cần thiết theo đề cương đã được góp ý của Cục Quản lý tài nguyên và đã được phê chuẩn.

     +/ Một số phát hiện chính:

         Đã xác định được diện phân bố, chiều sâu, chiều dày, thành phần thạch học, khả năng chứa nước và khai thác, chất lượng nước của các tầng trong hai vùng.

         Đã đánh giá được trữ lượng cấp C1 là  939m3/ngày, đã bàn giao cho UBND xã Đông Thạnh lỗ khoan S334 để phục vụ cấp nước.

        Khu vực Tân Thành B, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (lỗ khoan S327) không có nước nhạt đạt yêu cầu khai thác phục vụ ăn uống, sinh hoạt.

4. Đề án "Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỉ lệ 1/50.000 vùng Bắc sông Tiền":

Các kết quả đạt được:

     +/ Dự án đã được Bộ phê duyệt nội dung và Dự toán theo Quyết định số 1675/QĐ-BTNMT ngày 30/8/2011.

5. Đề án "Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (bản đồ thực địa tỉ lệ 1/50.000, nhật ký đo vẽ, sổ lấy mẫu nước, giấy gửi mẫu nước, sổ tổng hợp các điểm khảo sát, hộp mẫu lưu địa chất) thành lập nghiêm túc, đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ (các bản đồ, tập phiếu, sổ tổng hợp…), tuân thủ các quy định.

     +/ Một số phát hiện chính:

        Kết quả đã thành lập được các mặt cắt địa điện và sơ bộ khoanh định ranh giới, phân bố về chiều sâu và diện (ranh mặn nhạt) của các tầng chứa nước, làm cơ sở định hướng cho bước địa chất tiếp theo.

        Phát hiện  khu vực nước nhạt tầng Holocen ở ven biển phía tây nam với lưu lượng có nơi đạt đến 1,03l/s có thể dùng cung cấp cho ăn uống sinh hoạt của các hộ gia đình.

6. Đề án "Điều tra nguồn nước dưới đất một số vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy (bản đồ thực địa, nhật ký đo vẽ, sổ theo dõi khoan, hút nước thí nghiệm...) thành lập nghiêm túc và đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ (các bản đồ, tập phiếu, sổ tổng hợp…), tuân thủ các quy định chung và toàn đề án.

     +/ Các văn bản liên quan đến công tác khai thai dẫn đã được chuẩn bị đầy đủ và hợp lệ.

     +/ Một số phát hiện chính:

        Đã xác định được đối tượng chứa nước có triển vọng chứa nước, khoanh định được diện tích phân bố nước mặn.

        Kết quả đã đạt được 5/7 lỗ khoan có đủ nước khai thác theo yêu cầu của đề án.

        Tổng lượng nước khai thác được bàn giao cho địa phương là 458,35m3/ng (mục tiêu của đề án 192m3/ng).

7. Đề án "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất giải pháp ứng phó":

Các kết quả đạt được:

     +/ Đề án đã hoàn thành tất cả khối lượng thi công theo các Quyết định giao kế hoạch đúng tiến độ, đạt yêu cầu kỹ thuật.

     +/ Các tài liệu nguyên thủy của công tác điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất tỉ lệ 1/200.000 (bao gồm: bản đồ thực địa, sổ khảo sát, bBáo cáo kết quả công tác chuẩn bị, báo cáo kết quả điều tra hiện trạng) và công tác đánh giá tổng quan tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/200.000 (nội nghiệp và đo sâu điện) thành lập nghiêm túc và đầy đủ theo qui định.

     +/ Tài liệu chỉnh lý văn phòng đầy đủ (các tập phiếu lỗ khoan, sổ tổng hợp…), thành lập công phu, sạch đẹp đúng quy định.

     +/ Đã thu thập được số liệu hiện trạng khai thác trong toàn vùng là  1.793.024m3/ng tại 488.789 lỗ khoan khai thác các loại (trong đó:  696.029m3/ng của 931 lỗ khoan có lưu lượng > 200m3/ng và 1.096.995m3/ng của 487.858 giếng có lưu lượng <200m3/ng).

     +/ Đã thu thập được lượng tài liệu khá lớn gồm: 706 phiếu lỗ khoan, 301 tài liệu hút nước thí nghiệm,  4.817 mẫu thành phần hóa học, 432 mẫu vi lượng, 1.964 điểm đo sâu điện, 315 điểm đo carota, 57.312 số liệu mực nước (trung bình, lớn nhất, nhỏ  nhất của tháng).

  III. Các nhiệm vụ nguồn vốn sự nghiệp môi trường

Đề án “Quan trắc tài nguyên môi trường nước dưới đất giai đoạn 2008 - 2010":

Các kết quả đạt được:

     +/ Bảo đảm vận hành mạng hoạt động bình thường, liên tục, chất lượng tài liệu đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật đề ra.

     +/ Thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu động thái nước dưới đất vùng Đồng bằng Nam Bộ.

     +/ Thường xuyên thông báo đặc trưng mực nước và chất lượng đến các địa phương ở Đồng bằng Nam Bộ.

     +/ Hoàn thành các báo cáo chuyên môn về động thái mực nước, thành phần hoá học nước dưới đất.

     +/ Kết quả quan trắc năm 2011 đã đưa ra các đánh giá quan trọng:

     a. Về mực nước: so với năm 2010, các tầng chứa nước phân bố nông nhiều nơi có mực nước dâng cao hơn, phổ biến nhiều nơi với biên độ dâng khá lớn. Trung bình chênh lệch mực nước so với cùng kỳ năm 2010 nhiều nơi đạt giá trị vài chục cm, cá biệt có nơi > 1m (lỗ khoan Q003340 đạt 1,7m). Diễn biến dâng mực nước có nơi thể hiện 3 dạng:

         Dạng 1: Trong tất cả các tháng tại các tầng chứa nước phân bố nông hoặc lộ trên mặt ở Đông nam bộ (qh, qp3, qp2-3, qp1,và n22).

         Dạng 2: Phần lớn các tháng trong năm tại các tầng chứa nước phân bố nông ở Tây Nam bộ (qh và qp3).

         Dạng 3: Chỉ trong các tháng mùa mưa tại các tầng chứa nước phân bố nông ở các tỉnh ven biên giới Việt Nam - Campuchia hoặc các tầng chứa nước khai thác mạnh tại các tỉnh ven biển.

      +/ Xu hướng giảm mực nước so với cùng kỳ nhiều năm trước: mực nước trong tất cả các tầng chứa nước đều có xu hướng giảm, cá biệt trong tầng qh tại khu vực ven biển có xu hướng tăng. Mực nước trong các tầng chứa nước tại các khu vực liên quan đến khai thác ở thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... mực nước có xu hướng giảm mạnh.

      +/ Đặc biệt, so với giá trị trung bình nhiều năm:

          Tầng qp2-3: tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh mực nước giảm rất mạnh 7,44m và khu vực Tây Nam bộ mực nước giảm 1,31÷ 2,85m.

          Tầng qp1: tại thành phố Hồ Chí Minh mực nước giảm khoảng 2,91÷8,44m và khu vực Tây Nam bộ giảm 0,25÷2,57m.

          Tầng n22 : khu vực Đông Nam bộ mực nước giảm 1,7 ÷5,24m, tại các khu vực khai thác như thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp giảm 4,80÷8,98m và tại các khu vực ven biển Tây Nam bộ giảm 2,95÷5,28m.

          Tầng n21: ở khu vực Đông Nam bộ mực nước giảm khoảng 2,03m, trung tâm đồng bằng Nam bộ giảm 5,46÷5,92m và các khu vực ven biển giảm khoảng 4,02÷6,53m.

          Tầng tầng n13: ở khu vực Đông Nam bộ mực nước giảm khoảng 2,74m, turng tâm đồng bằng Nam bộ giảm 5,34m và các khu vực ven biển giảm khoảng 1,55m.

          Tầng chứa nước trong đá Bazan mực nước giảm 2,79m.

    b. Về thành phần hoá học: đánh giá chất lượng nước dưới đất cho các tầng chứa nước chủ yếu ở đồng bằng Nam bộ vào thời kỳ mùa khô năm 2011 theo QCVN 09:2008 và so sánh với cùng kỳ năm 2010 cho thấy đễn biến thành phần hóa học có các xu hướng chính sau:

     +/ Xu hướng giảm chất lượng: tầng qh và n13: do tăng về số lượng công trình có chỉ tiêu vượt và tăng về số lượng chỉ tiêu vượt quy chuẩn.

     +/ Xu hướng được cải thiện: tầng qp2-3: do giảm về số lượng công trình có chỉ tiêu vượt đồng thời cũng giảm về số lượng chỉ tiêu vượt.

     +/ Xu hướng ổn định: tầng qp3.

     +/ Ba tầng còn lại biến đổi đan xen nhau: tầng qp1 và n21 giảm số lượng công trình có chỉ tiêu vượt nhưng tăng số lượng chỉ tiêu vượt. Ngược lại, tầng n22 tăng số lượng công trình có chỉ tiêu vượt nhưng giảm số lượng chỉ tiêu vượt.

IV. Đề tài, dự án độc lập cấp Bộ

     1. Hai đề tài KHCN đã hoàn thành và đã được Bộ phê chuẩn:

     +/ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khoan tuần hoàn ngược khi khoan trong đá cứng để khoan các giếng khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất vùng Đông Nam Bộ.

     +/ Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật địa hóa, địa vật lý, đồng vị để đánh giá sự dịch chuyển của một số nguyên tố và hợp chất độc hại tại bãi rác Đông Thạnh, Tp. HCM.

     2. Đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu năm thứ nhất của đề tài "Nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của tài nguyên nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai"

     Năm 2011 Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Khối lượng thực hiện đầy đủ, các tài liệu nguyên thủy tin cậy, được chỉnh lý tuân thủ theo các qui định và bảo đảm chất lượng. Quá trình thực hiện tuân thủ theo mục tiêu, phương pháp, trình tự thi công của các đề án, dự án, đề tài đã được phê duyệt.

 

 

(CWRPI)

Khởi sắc Trung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước

tt983Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạoTrung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước vừa tổ chức tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2012. Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai tới dự và phát biểu chỉ đạo.

Năm 2011, Trung tâm đuợc giao 20 nhiệm vụ (chuyển tiếp và mở mớí) với tổng dự toán 146.177,297 triệu đồng. Với nỗ lực cao và cách tổ chức công việc hợp lý, sáng tạo, Trung tâm đã hoàn thành nhiệm vụ Chính phủ giao:“Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan-zircon trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận-Bình Thuận và Bắc Bà rịa- Vũng Tàu”. Một số dự án chuyên môn cấp Bộ hoàn thành vuợt mức kế hoạch, đảm bảo các mục tiêu đề ra như: Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất (NDĐ) tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội; Điều tra đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất (TNNDĐ) khu vực thị trấn Mèo Vạc (Hà Giang), Điều tra đánh giá nguồn NDĐ các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận; Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ- pha 3…Hoàn thành 4 dự án lập nhiệm vụ quy hoạch chuyển Cục Quản lý tài nguyên nước như: Quy hoạch lưu vực sông Hồng- sông Thái Bình; Quy hoạch TNN đảo Phú Quốc; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; Quy hoạch điều tra, đánh giá TNN đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Nhiệm vụ quan trắc TNNDĐ 3 vùng Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên năm 2010.

Trung tâm khuyến khích các đơn vị tích cực, chủ động tìm kiếm các hợp đồng dịch vụ nhằm tăng thu nhập cho đơn vị và người lao động, tổng giá trị sản xuất dịch vụ năm 2011, thực hiện 128.530 triệu đồng.

Năm 2012, Trung tâm tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về TNN trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý Nhà nước và lợi ích cộng đồng; Tăng cường công tác tuyên truyền về nhiệm vụ ĐT&QH TNN; Đẩy mạnh công tác quy hoạch, dự báo TNN cho các lưu vực sông lớn, vùng kinh tế trọng điểm…

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai khẳng định: Năm 2011, Trung tâm đạt kết quả đáng ghi nhận; cách tổ chức công việc có sáng tạo, cải tiến đạt kết quả cao, nguồn thu từ bên ngoài chiếm 50% tổng thu của đơn vị, cải thiện đáng kể đời sống CBCNV. Thứ trưởng chỉ đạo: Năm 2012, Trung tâm cần kế hoạch hóa trong mọi công việc, kể cả triển khai các dự án và lập các văn bản pháp luật về TNN; bảo đảm quy trình trong quy chế kiểm tra nghiệm thu, tăng cường công tác hợp tác quốc tế ; đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực đội ngũ. Chú trọng cung cấp, đăng tải trên các phuơng tiện thông tin đại chúng về giá trị TNN đã phát hiện, các công việc triển khai phục vụ công cuộc phát triển KT-XH của đất nước nhằm nâng cao vị thế của đơn vị và ngành tài nguyên nước.

 tt984Lãnh đạo Trung tâm chủ trì Hội nghị

tt985Giám đốc Trung tâm Đỗ Tiến Hùng phát biểu

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

 

Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ năm 2011 của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước

1. Các nhiệm vụ, dự án chuyên môn 2011:

a) Nhiệm vụ Chính phủ:

01 nhiệm vụ chuyển tiếp “Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan - zincon trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận- Bình Thuận và Bắc Bà Rịa Vũng Tàu”. Năm 2011, Trung tâm phối hợp với Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản thanh toán khối lượng đã thực hiện năm 2010.

b) Nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên nước.

- Nhiệm vụ chuyên môn cấp Bộ: bao gồm 14 nhiệm vụ chuyển tiếp, các nhiệm vụ này được các đơn vị triển khai ngay từ khi có Quyết định giao kế hoạch và dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2011 của Bộ. Đến nay, các dự án đã hoàn thành, một số dự án vượt mức kế hoạch giao, chất lượng các công việc đã thực hiện bám sát mục tiêu của bước đề ra.

* Kết quả một số đề án:

+ Đề án “Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thực hiện.

Trong năm 2011 đã thi công 6 lỗ khoan (LK5-N, LK9-N, LK10-N, LK11-N, LK12-N, LK13-N) tất cả các lỗ khoan đều gặp nước nhạt, với tổng lưu lượng 132,1l/s thực bơm tương đương 11.412m3/ngày. Trong đó tầng Vĩnh Bảo (5 lỗ khoan) lưu lượng từ 16,4 đến 30,13 l/s tổng 122,8l/s tương đương 10.609m3/ngày, tầng Tiên Hưng (LK10-N) có lưu lượng 9,3l/s, với tổng lưu  803m3/ngày;

Đã gặp nước nóng tại lỗ khoan LK10-N (sâu 400m) có nhiệt độ 36oC (tại thôn Công Luận 2, TT. Văn Giang, Hưng Yên).

Kết quả toàn Đề án:Đã thi công 11/13 lỗ khoan gặp nước nhạt với tổng lưu lượng 211,2l/s thực bơm tương đương 18.248m3/ngày. Trong đó tầng Vĩnh Bảo tổng 200,6l/s tương đương 17.336m3/ngày, tầng Tiên Hưng 10,6l/s, tương đương 912m3/ngày

+ Đề án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc thực hiện. Trong năm 2011 đã thi công lỗ khoan CT4 có lưu lượng thực bơm 0,6l/s. Kết quả phân tích mẫu nước lấy tại lỗ khoan có các chỉ tiêu đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2009/BYT. Là kết quả rất có ý nghĩa đối với vùng đặc biệt khó khăn về nước sinh hoạt (Thị trấn Mèo Vạc) và mở ra triển vọng cho việc thi công năm 2012.

+ Đề án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 3” do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam thực hiện.

Kết quả toàn Đề án:Đã thi công 30 lỗ khoan tại 30 vùng điều tra, thuộc 8 tỉnh: Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu và Kiên Giang, đã bàn giao 29 lỗ khoan với tổng lưu lượng thực bơm 177,89l/s tương đương 15.370m3/ngày (có thể phục vụ cho 256.162 người/ngày) phục vụ cấp nước cho 17 cụm dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và 12 đơn vị bộ đội, trong đó có 11 đồn biên phòng.

Đã phát hiện một số tầng chứa nước nhạt ở một số vùng, nơi mà các nghiên cứu trước đây cho là không có như: Tầng chứa nước qp2-3 tại vùng Hưng Điền (LK S320), huyện Tân Hưng, tỉnh Đồng Tháp; tầng chứa nước n22 tại vùng Mỹ Thạnh Tây (LK S319), Đức Huệ, vùng Thuỷ Tây (LKS321), huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An; tầng chứa nước n21 tại vùng thị trấn Lấp Vò (LK S326), huyện Lấp Vò, vùng Thanh Mỹ (LKS328), huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, và vùng Mỹ Phước (LK S323), huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

* Một số khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ:

- Kế hoạch triển khai dự án “Điều tra đánh giá tài nguyên nước các sông biên giới Việt Lào thuộc lưu vực sông Mã, sông Cả trong” năm 2011 được lập từ đầu năm 2011 và đã được phê duyệt, tuy nhiên công tác thực địa triển khai chậm (cuối quý IV) thời gian thực hiện ngắn, gặp tình hình lũ lụt nặng nề trên địa bàn điều tra khảo sát nên ảnh hưởng đến tiến độ dự án.

* Ngoài  thực hiện các nhiệm vụ được giao, Trung tâm đã tiến hành khảo sát thực tế và báo cáo Bộ TNMT về hiện tượng phun bùn tại xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

+  Dự án “Điều tra, xác định dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông Vũ Gia - Thu Bồn” là một nhiệm vụ mới và phức tạp. Năm 2011, Trung tâm đang triển khai thu thập số liệu, tài liệu, các báo cáo về điều tra, hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt liên quan cũng như công tác điều tra thực địa bổ sung.

c) Nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước

- Đầu năm 2011 đã hoàn thiện các hồ sơ dự án hoàn thành 04 dự án lập nhiệm vụ quy hoạch chuyển Cục Quản lý tài nguyên nước: “Lập nhiệm vụ Quy hoạch lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình”; “Quy hoạch tài nguyên nước đảo Phú Quốc”; “Quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” và “Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

- Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chuyển tiếp: “Quy hoạch quản lý sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” với các nội dung chính: Hoàn thiện nội dung công tác thu thập, điều tra bổ sung số liệu phục vụ lập quy hoạch phân bổ tài nguyên nước, quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước.

- Dự án “Lập nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng”: đến nay dự án đã hoàn thành hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch để trình cấp thẩm quyền phê duyệt. 

Đánh giá chung về thực hiện các nhiệm vụ điều tra, đánh giá và quy hoạch TNN:

- Công tác thi công các hạng mục công việc của các nhiệm vụ điều tra, đánh giá TNN tuân thủ theo quy trình quy phạm kỹ thuật, chất lượng các tài liệu đảm bảo theo yêu cầu của dự án.

- Tiến độ thi công các nhiệm vụ điều tra, đánh giá, quy hoạch tài nguyên nước hoàn thành kế hoạch, phù hợp với nguồn kinh phí cấp trong năm.

d) Nhiệm vụ chuyên môn mở mới năm 2011

Khối lượng, nội dung thực hiện: gồm 06 nhiệm vụ (05 nhiệm vụ điều tra, đánh giá, 01 nhiệm vụ quy hoạch), Trung tâm đã chỉ đạo các đơn vị lập, trình dự án mở mới gửi các cấp có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt theo đúng các quy định hiện hành. Đến nay Trung tâm đã thẩm định và ra quyết định phê duyệt 02 nhiệm vụ thuộc thẩm quyền phê duyệt của Trung tâm và trình Bộ 04 dự án (trong đó có 01 dự án Chính phủ) để Bộ thẩm định và phê duyệt. Bộ đã phê duyệt 04 dự án, còn dự án Chính phủ đã sửa chữa theo góp ý của các Bộ, ngành liên quan để trình Bộ. Tính đến nay, các đơn vị đã thực hiện nhiệm vụ được giao bảo đảm tiến độ và kế hoạch.

đ) Nhiệm vụ chuyên môn mở mới năm 2012:

- Có 04 dự án điều tra đánh giá: Trung tâm đã lập và trình Bộ thẩm định phê duyệt 02 dự án; phê duyệt cấp Trung tâm 02 dự án, đến nay nội dung và trình tự lập, thẩm định, phê duyệt theo đúng quy định.

- Nhiệm vụ quy hoạch mở mới: 01 nhiệm vụ “Lập quy hoạch TNN lưu vực sông Srepok”, hiện đang thẩm định để phê duyệt tại Trung tâm.

e) Nhiệm vụ quan trắc quốc gia tài nguyên môi trường nước.

- Khối lượng, nội dung thực hiện:

* Quan trắc tài nguyên nước dưới đất tại 3 khu vực (5 vùng) được thực hiện liên tục và thường xuyên theo đúng quy trình từ đầu năm đến nay, kết quả quan trắc được cập nhật, xử lý phục vụ kịp thời cho công tác dự báo và cảnh báo TNN dưới đất tại các vùng quan trắc. Số liệu quan trắc được Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước tổng hợp, hiệu chỉnh hàng quý từ các đơn vị trực thuộc gửi về phục vụ việc biên soạn và xuất bản niên giám quan trắc nước dưới đất 3 vùng Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên năm 2010; thông báo và dự báo kết quả quan trắc tài nguyên nước dưới đất năm 2010; tổng hợp, xử lý số liệu, biên soạn thông báo và dự báo kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm 2011 gửi đến các cơ quan quản lý tài nguyên nước, các phương tiện thông tin đại chúng.

* Quan trắc tài nguyên nước mặt tại 5 trạm (03 trạm thực hiện từ tháng 4/2011 và 02 trạm từ tháng 7/2011) theo đúng quy trình quy phạm.

Hiện nay Liên đoàn QH&ĐT TNN miền Trung đang thực hiện chỉnh lý chỉnh biên số liệu đo đạc năm 2011 của 05 trạm nước mặt sau đó gửi ra Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước để đánh giá chất lượng tài liệu trước khi đưa vào lưu trữ.

- Mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất được thực hiện rà soát phục vụ sửa đổi Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc quốc gia tài nguyên và Môi trường đến năm 2020”.

2. Đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ

- Năm 2011, Trung tâm thực hiện 03 đề tài chuyển tiếp cấp Bộ, 03 đề tài mở mới cấp Bộ và 03 đề tài cấp cơ sở.

- Từ tháng 8 năm 2011, Trung tâm thực hiện quản lý công tác KHCN theo Thông tư 25/2010/TT-BTNMT ngày 07 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, công tác quản lý KHCN đang từng bước đi vào hoạt động ổn định. Trung tâm thực hiện quản lý, theo dõi sát sao việc triển khai thực hiện các đề tài KHCN trên của các đơn vị trực thuộc Trung tâm, thường xuyên liên hệ với các đơn vị quản lý liên quan của Bộ cũng như các đơn vị trực tiếp thực hiện các đề tài KHCN nhằm kịp thời nắm bắt tình hình, đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện các đề tài KHCN đảm bảo đúng tiến độ, đề xuất hỗ trợ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các đề tài KHCN. Tính đến nay, Trung tâm đã hoàn thành nghiệm thu cấp cơ sở 01 đề tài cấp Bộ, 02 đề tài cấp cơ sở.

3. Nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản

- Năm 2011 Trung tâm đang thực hiện 10 dự án trong đó có 06 dự án do Trung tâm làm chủ đầu và 04 dự án do các Liên đoàn trực thuộc làm chủ đầu tư. Theo kế hoạch trong năm 2011 sẽ kết thúc 07 dự án, 03 dự án còn lại sẽ chuyển tiếp năm 2012.

Trong năm Trung tâm đã tổ chức triển khai toàn diện các nhiệm vụ được cấp trên giao. Tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, đôn đốc các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt quy trình, quy phạm kỹ thuật. Công tác giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán các dự án thực hiện đúng các quy phạm, văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước, khối lượng thực hiện đạt 100% kế hoạch giao.

- Thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ nên trong năm 2011 có 02 dự án bị cắt giảm vốn không thực hiện. Tuy nhiên, Trung tâm vẫn đang triển khai công tác quản lý đầu tư để thực hiện vào năm 2012 khi có kế hoạch vốn Bộ giao:

+ Dự án chuẩn bị đầu tư: Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước cho Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

+ Dự án mở mới: Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ thi công các công trình nghiên cứu, điều tra quy hoạch tài nguyên nước cho các Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.

4. Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng:

Năm 2011, Trung tâm đã được giao thực hiện dự án “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất các giải pháp ứng phó”.

Khối lượng, nội dung thực hiện:Hoàn thành 100% khối lượng theo kế hoạch được giao.

 

 

(CWRPI)

Nước sạch cho các “làng ung thư” ở Việt Nam

tt975Ông Hồ Minh Thọ - chủ nhiệm dự ánHậu quả của những năm chiến tranh và tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước đã kéo theo sự gia tăng dân số, đô thị hóa, tạo sự đan xen giữa các khu vực tập trung dân cư với các nhà máy, xí nghiệp mà quá trình hoạt động phải thường xuyên sử dụng các vật tư, nguyên liệu, hóa chất tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, hoặc xả ra các chất độc hại gây ô nhiễm nguồn nước như kim loại nặng, dioxin, DDT...Tình trạng này đã và đang ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư khi sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Không ít nơi trên các vùng miền cả nước đã xuất hiện tình trạng hàng loạt người dân sinh sống trong một khu vực bị tử vong do căn bệnh ung thư (thường gọi là “làng ung thư”). Hiện cả nước tồn tại 37 làng ung thư mà một trong những nguyên nhân là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.
 Tại diễn đàn sức khỏe môi trường do Bộ TN&MT, Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội, đã xác nhận: "Hiện cả nước đã xuất hiện một số “làng ung thư” tại Phú Thọ, Hải Phòng, Hà Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi... là biểu hiện đáng lo ngại và nguy cơ tiềm ẩn liên quan giữa sức khỏe và môi trường". Theo khảo sát của Bệnh viện K, trong 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hiện, khoảng 70.000 người bị chết vì căn bệnh này, tăng hơn  nhiều so với trước đây. Công văn của 17 tỉnh thành phố đã gửi về Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (QHĐTTNN); Diễn đàn sức khỏe môi trường do Bộ TN&MT và Bộ Y tế tổ chức cho thấy: Việc điều tra nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống sinh hoạt bị ô nhiễm tại các “làng ung thư” là rất cấp thiết. Đó là xuất phát điểm của dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số “làng ung thư” của Việt Nam do Trung tâm QH &ĐTTNN chủ trì thực hiện với sự phối hợp của 3 Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Trung, miền Bắc và miền Nam.
  Báo TN&MT đã có cuộc phỏng vấn ông Hồ Minh Thọ, Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH &ĐTTN miền Trung, Chủ nhiệm Dự án:
 Thưa ông, các nội dung cơ bản, mục tiêu cụ thể cũng như tiến trình thực hiện Dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số làng ung thư được đề ra như thế nào ?
 Ông Hồ Minh Thọ: Nội dung cơ bản của dự án là điều tra, đánh giá hiện trạng chất lượng các nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt tại các “làng ung thư”. Xác định số lượng các “làng ung thư” có nguồn nước bị ô nhiễm. Từ đó lựa chọn một số “làng ung thư” bức thiết nhất về ô nhiễm nguồn nước đang sử dụng để tiến hành điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh theo các quy chuẩn của Bộ Y tế, phục vụ cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt tại các “làng ung thư” đó.
Dự án được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn I (2011): Xác định các “làng ung thư” có nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt bị ô nhiễm, các khu cấm khai thác nguồn nước cho ăn uống sinh hoạt. Giai đoạn II (2012- 2013): Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước cho ăn uống sinh hoạt tại các “làng ung thư” cấp thiết nhất (ở đó có nguồn nước đang sử dụng bị ô nhiễm).      
  Mục tiêu giai đoạn 1 của Dự án là đánh giá hiện trạng các “làng ung thư” và chất lượng các nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt và số lượng các làng ung thư có nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt bị ô nhiễm. Theo nội dung chi tiết của dự án được phê duyệt, để giải quyết mục tiêu của giai đoạn I, mỗi “làng ung thư” cần tiến hành các dạng công tác: Điều tra, thu thập các loại tài liệu như hiện trạng bệnh ung thư, hiện trạng điều tra, đánh giá và khai thác sử dụng các nguồn nước, hiện trạng xả thải; Phân tích, chỉnh lí tổng hợp các loại tài liệu đã thu thập; Khảo sát, điều tra, đánh giá chất lượng nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt; Lấy và phân tích các loại mẫu nước; Làm công tác trắc địa công trình; Tổng hợp, chỉnh lý tài liệu, lập báo cáo giai đoạn điều tra.
Toàn dự án được duyệt sẽ tiến hành điều tra 37 “làng ung thư” trên toàn quốc. Năm 2011 tiến hành điều tra 23 làng thuộc 10 tỉnh, thành phố gồm: Phú Thọ (2 làng), Hưng Yên (1); Bắc Ninh (1), Thanh Hóa (1), Hà Nam (1), Hà Nội (2), Hà Tĩnh (3), Nghệ An (5), Quảng Trị (3); Quảng Nam (4).
 
 tt976Lấy mẫu nước tại làng Yên Lão Hoàng Tây, Kim Bảng , Hà Nam (mẫu nước mặt có liên quan đến nguồn sử dụng cho ăn uống sinh hoạt)
Kết quả triển khai thực hiện giai đoạn 1 (năm 2011) của Dự án được đánh giá như thế nào? Đặc biệt là khả năng tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các “làng ung thư”, thưa ông?
 Ông Hồ Minh Thọ:Từ kết quả điều tra, khảo sát thực địa, lấy và phân tích các loại mẫu nước của 23 “làng ung thư” năm 2011 có thể đánh giá: Diễn biến của bệnh ung thư qua các năm tại các “làng” điều tra là rất phức tạp; tuy nhiên hầu hết đều có sự trùng hợp về nguồn nước bị ô nhiễm (mặc dầu trong vài năm gần đây một vài vùng điều tra mới có nước sạch được cung cấp tập trung) trong đó nguồn nước bi ô nhiễm điển hình là các “làng ung thư” Mẫn Xá (Bắc Ninh), Thạch Sơn (Phú Thọ), Phong Yên, Cờ Đỏ, Đức Thành (Nghệ An), Xuyên Tây, Đại An, Thôn 3-4 (Quảng Nam), Thổ Vị (Thanh Hóa), Kẻ Đọng, Đá Dong (Hà Tĩnh), An Bình, Trung Chỉ, Thành Lê (Quảng Trị).
Về khả năng tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho các “làng ung thư” cho thấy: Trong phạm vi các vùng điều tra bao gồm 23 “làng ung thư” thì vùng thì vùng Tiên An (Quảng Nam) là khó khăn hơn cả do vùng này không có nguồn nước triển vọng, các nguồn nước có thể bị ảnh hưởng lớn từ mỏ quặng Uranium. Các vùng Mẫn Xá (Bắc Ninh), Thạch Sơn (Phú Thọ), An Thổ, Đại An, Xuyên Tây (Quảng Nam), Đồng Mai (Hưng Yên), Yên Lão (Hà Nam), An Bình (Quảng Trị) hầu hết đã có các công trình cấp nước tập trung của các nhà máy nước do địa phương xây dựng nên việc tìm kiếm nguồn nước cho các vùng này không thật sự cấp thiết.
 Với kết quả điều tra 23 “làng ung thư giai” đoạn I, có thể đề nghị giai đoạn 2 của dự án (2012-2013) tiếp tục công tác điều tra 11 “làng ung thư” là: Phong Yên, Cờ Đỏ, Đức Thành (Nghệ An), Khu 8-11 (Phú Thọ), Thôn 3-4 Tiên An và Đại An (Quảng Nam), Thổ Vị (Thanh Hóa), Lũng Vỵ (Hà Nội), An Lộc và Kẻ Đọng (Hà Tĩnh), Thanh Lê (Quảng Trị). Trên cơ sở đó, tiến hành điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước cho ăn uống sinh hoạt tại các “làng ung thư” cấp thiết nhất.
 Xin trân trọng cám ơn ông!
 
 (Theo Monre.gov.vn)

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai làm việc với Trung tâm QH&ĐTTNN: Bộ mong muốn Trung tâm làm nhanh hơn, mạnh hơn!

tt932Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việcThứ trưởng Nguyễn Thái Lai nhấn mạnh như vậy tại buổi làm việc sáng 18/10  với Trung tâm QH & ĐTTNN về tình hình triển khai nhiệm vụ 9 tháng qua và kế hoạch thực hiện các tháng cuối năm 2011.

Ông Đỗ Tiến Hùng, Giám đốc Trung tâm QH &ĐTTNN cho biết: Năm 2011, Trung tâm được giao thực hiện 1 nhiệm vụ Chính phủ, 14 nhiệm vụ chuyên môn, 3 nhiệm vụ KHCN, một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản… Với sự quan tâm hỗ trợ của lãnh đạo, các Vụ chức năng thuộc Bộ như Kế hoạch, Tài Vụ, KHCN… và nỗ lực cao của đội ngũ CBCNV, 9 tháng qua, Trung tâm đã có nhiều cố gắng đạt kết quả đáng khích lệ. Công tác thi công các hạng mục công việc của các dự án thuộc nhiệm vụ chuyên môn tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ thuật; chất lượng các tài liệu đảm bảo yêu cầu; công tác thẩm định và phê duyệt các dự án mở mới theo đúng các quy định hiện hành và phân cấp quản lý, đảm bảo tiến độ. Nhìn chung, tiến độ thi công, giải ngân các dự án phù hợp với kế hoạch giao, một số dự án nhỏ còn chậm.
Về các nhiệm vụ mở mới năm 2011, Trung tâm đã chỉ đạo các đơn vị lập, trình dự án gửi các cấp có thẩm quyền và phê duyệt theo đúng các quy định hiện hành.Trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, Trung tâm tăng cường công tác kiểm tra giám sát các khâu nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư phát triển. Tất cả các gói thầu của từng dự án được tổ chức thực hiện theo kế hoạch đầu thầu của Bộ, đảm bảo các quy định của pháp luật trong đấu thầu.
Cùng với thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, Trung tâm chỉ đạo các đơn vị chủ động tìm kiếm các hợp đồng dịch vụ địa chất nhằm phát huy năng lực hiện có, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tạo nguồn thu cho đơn vị.
tt930Giám đốc Trung tâm QH & ĐTTNN Đỗ Tiến Hùng phát biểu

Phát bỉểu chỉ đạo, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai biểu dương nỗ lực của CBCNV Trung tâm đã có nhiều cố gắng thực hiện các nhiệm vụ đựơc giao, nhất là với một số đề án tiêu biểu như: Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên NDĐ khu vực Mèo Vạc, Hà Giang; Điều tra, đánh giá NDĐ các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đánh giá vùng nước dưới đất vùng Đức Phổ Quảng Ngãi,; Điều tra, đánh giá TNN vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long… Với các đề án này, Trung tâm cần đánh giá hiệu quả, tổ chức quảng bá, tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là Báo Tài nguyên & Môi trường nhằm nâng cao vị thế của Bộ và Trung tâm. Về Đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất các giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng và quản lý tổng hợp tài nguyên nước huyện Côn Đảo” cần ưu tiên đẩy nhanh tiến độ để Côn Đảo sớm có nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Trước mắt, tổ chức Đoàn kiểm tra, rà soát, nhắc nhở các đơn vị còn chậm về tiến độ thi công và giải ngân các dự án.
 
 
 
 

Tác giả: Thu Nga
Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường