Fri10192018

Last update04:48:54 AM GMT

Tin tức Trung tâm

Trung tâm Quy hoạch & Điều tra TNN phấn đấu hoàn thành chất lượng và đúng tiến độ các nhiệm vụ, đề án năm 2012

vv137Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu chỉ đạo tại buổi họp sơ kếtSáng 20/7, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai kế hoạch nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2012 của Trung tâm Quy hoạch & Điều tra TNN. Đến dự sơ kết của Trung tâm còn có đại diện các Vụ chức năng.

Đến thời điểm này, Trung tâm được giao 19 nhiệm vụ điều tra, 1 nhiệm vụ quy hoạch, 1 nhiệm vụ quan trắc TNN, 14 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, 1 nhiệm vụ đối ứng dự án ODA. 6 tháng đầu năm, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ, đặc biệt là Thứ trưởng phụ trách, Trung tâm đã chỉ đạo các phòng ban chức năng, các đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ đúng kế hoạch giao. Thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, các Quyết định, Chỉ thị, ý kiến chỉ đạo của Bộ. Công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Trung tâm với các đơn vị đã sâu sát, kịp thời phát hiện các khó khăn để tháo gỡ. Duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Cục Quản lý TNN, Văn phòng Ủy ban sông Mê Công VN, các đơn vị có liên quan trong Bộ và ngoài Bộ để thực hiện nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề chuyên môn. Nhìn chung, công tác thi công các hạng mục công việc của các nhiệm vụ điều tra đánh giá TNN tuân thủ đúng quy trình quy phạm kỹ thuật, chất lượng các tài liệu đảm bảo yêu cầu của dự án. Việc triển khai thực hiện các dự án, đều án bám sát mục tiêu, kế hoạch được phê duyệt, nhất là các đề án quan trọng như: Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng TP.Hà Nội; Điều tra, đánh giá chi tiết TNNDĐ khu vực thị trấn Mèo Vạc (Hà Giang); Điều tra, đánh giá NDĐ các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận; Đánh giá nguồn NDĐ vùng Đức Phổ (Quảng Ngãi)… Về nhiệm vụ quan trắc TNN, Trung tâm đã tiến hành thường xuyên, liên tục, tuân thủ quy trình, quy phạm hiện hành đối với công tác quan trắc NDĐ và nước mặt (NM); thường xuyên tổng hợp, hiệu chỉnh các số liệu quan trắc hàng tháng từ các đơn vị trực thuộc, biên soạn và xuất bản đặc trưng TNMT nuớc dưới đất 3 vùng Bắc bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, dự báo kết quả quan trắc năm 2011 gửi đến các cơ quan quản lý TNN và cơ quan thông tin đại chúng. Đang tiến hành ra soát hiện trạng các trạm quan trắc TNNM để triển khai  xây dựng bổ sung.
Kế hoạch 6 tháng cuối năm của Trung tâm là đẩy nhanh tiến độ thi công các đề tài, các nhiệm vụ nhằm hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm 2012 có chất lượng và đúng tiến độ, tiếp tục rà soát nhiệm vụ chuyển tiếp, đề xuất các nhiệm vụ mở mới, chuẩn bị tốt cho công tác nghiệm thu ở các đơn vị trực thuộc phục vụ công tác nghiệm thu các nhiệm vụ năm 2012 cuả Hội đồng nghiệm thu Trung ương. Chỉ đạo thực hiện đúng tiến độ giai đoạn 2 Dự án “ Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra tài nguyên nước ngầm tại các khu đô thị” có chất lượng và hiệu quả.
Phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai khẳng định, lãnh đạo Bộ và các Vụ có liên quan luôn quan tâm  tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để Trung tâm thực hiện các nhiệm vụ nhằm ổn định và phát triển. Trung tâm đã cố gắng đổi mới trong công tác quản lý, điều hành nên đã tạo dựng những kết quả đáng khích lệ thời gian qua, nhất là trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ năm 2012, Trung tâm cần năng động hơn trong việc đề xuất, tìm kiếm dự án, bám “luồng công việc” và tìm cách “tự chống lưng” là chính. Cần rà soát lại các đơn vị để bố trí theo chức năng, nhiệm vụ được giao cho phù hợp và hiệu quả. Trong hợp tác quốc tế cố gắng thuyết phục đối tác hỗ trợ đầu tư các dự án nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá những giá trị sản phẩm của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao uy tín của ngành TNN; từ đó tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ của các cơ quan có thẩm quyền, các địa phương và cả xã hội… đối với lĩnh vực TNN.
 vv138
vv139

 

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

 

Đề án “Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ- Pha 3”: Đưa nước sạch về các vùng sâu Nam Bộ

vv135Ông Phạm Văn Giắng - Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH & ĐTTNN miền NamĐồng bào các dân tộc và chiến sĩ ở các vùng sâu, vùng xa thuộc 8 tỉnh Nam Bộ đang hồ hởi với niềm vui được dùng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày-mong nuớc từ bao đời nay của họ đã thành hiện thực. Chính quyền các cấp, các ngành những nơi này có cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển Kinh tế- Xã hội- An Ninh- Quốc phòng, làm khởi sắc nhiều vùng nông thôn xa xôi và biên ải của Tổ quốc. Trong niềm vui đó có đóng góp đáng kể của CBCNV Liên đoàn Quy hoạch Điều tra tài nguyên nước (QH & ĐTTNN) miền Nam (thuộc Trung tâm QH & ĐTTNN) với sự thành công của đề án “ Điều tra nguồn nước dưới đất (NDĐ) vùng sâu Nam Bộ- Pha 3”.

Trong câu chuyện với phóng viên báo Tài nguyên & Môi trường, ông Phạm Văn Giắng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Nam cho biết: Để phát huy những kết quả đạt được ở pha 1 và pha 2 đề án “Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ”,dưới sự chỉ đạo của Bộ TN &MT, Cục ĐC&KS VN, Trung tâm QH & ĐTTNN, Liên đoàn QH & ĐT TNN Miền Nam đã triển khai thi công đề án “Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ - Pha 3” nhằm tiếp tục điều tra nguồn NDĐ, xác định khu vực và tầng chứa nước có triển vọng, đưa vào khai thác, cấp nước phục vụ dân sinh. Tham gia lập đề án có các kĩ sư, thạc sĩ: Nguyễn Trung Dĩnh (chủ nhiệm), Nguyễn Quốc Dũng, Bùi Tiến Bình, Nguyễn Mạnh Hà, Bùi Lai Hà, Nguyễn Uy Vũ…Đề án được triển khai tại 30 vùng với tổng diện tích 510 km2 thuộc 8 tỉnh đồng bằng Nam Bộ: Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kiên Giang.

Sau gần 6 năm thực hiện, đến nay, đề án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ - pha 3” đã hoàn thành toàn bộ mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Về cơ bản, phương pháp, khối lượng các dạng công tác điều tra được tiến hành phù hợp với nội dung được Bộ TN&MT phê duyệt, chất lượng thi công đáp ứng được yêu cầu các quy phạm hiện hành. Quá trình thi công đã có sự phối hợp, hợp tác hiệu quả giữa chính quyền địa phương các vùng điều tra với Liên đoàn QH&ĐT tài nguyên nước miền Nam và các đơn vị tham gia đề án.

Kết quả nổi bật của Đề án Điều tra nguồn nước dưới đất (NDĐ) vùng sâu Nam Bộ- Pha 3” được đánh giá như thế nào, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Phạm Văn Giắng: Đề án mang tính khoa học và thực tiễn sâu sắc.

Về mặt khoa học, đề án đã làm sáng tỏ đặc điểm địa chất thủy văn (ĐCTV) của 30 vùng điều tra, phân chia chi tiết ranh giới địa chất, địa tầng ĐCTV theo kết quả nghiên cứu mới nhất; xác định bề dày và vị trí của các tầng chứa nước lỗ hổng, bề dày của các trầm tích bở rời và các đới phong hóa, nứt nẻ trong đá cứng có triển vọng chứa nước,ranh giới nước nhạt, nước mặn theo diện và theo chiều sâu tại các vùng điều tra, cũng như sự biến đổi đặc điểm thủy hoá của các tầng chứa nước. Đã tạo lập một hệ thống thông tin về tài nguyên nước bao gồm: 30 sơ đồ ĐCTV tỷ lệ 1:25.000 và các mặt cắt ĐCTV của các vùng điều tra, làm cơ sở phục vụ quy họach, quản lý tài nguyên NDĐ. Đây là nguồn tài liệu vô cùng quí giá đối với công tác điều tra cơ bản về tài nguyên NDĐ ở Nam Bộ. Ngòai ra Đề án đã có những phát hiện mới quan trọng: Phát hiện được nước dưới đất nhạt trong tầng chứa nước qp2-3 tại vùng Hưng Điền (Tân Hưng, Đồng Tháp); trong tầng chứa nước n22 tại vùng Mỹ Thạnh Tây, Đức Huệ, Thuỷ Tây (Thạnh Hoá, Long An); tầng chứa nước n21 tại vùng thị trấn Lấp Vò (huyện Lấp Vò), vùng Thanh Mỹ (Tháp Mười, Đồng Tháp), vùng Mỹ Phước (Tân Phước, Tiền Giang), nơi mà các nghiên cứu trước đây cho là không có nước nhạt, những phát hiện mới là cơ sở quan trọng phục vụ việc mở rộng quy mô khai thác sử dụng NDĐ. Đề án cũng phát hiện cả 6 tầng chứa nước đều bị mặn hoàn toàn tại Tân Hồng, Đồng Tháp và kiến nghị chính quyền nhanh chóng chuyển hướng tìm nguồn nước khác phục vụ cung cầp cho nhân dân địa phương.

Về mặt thực tiễn, Đề án đã kết hợp chuyển đổi thành công 29 lỗ khoan điều tra nguồn NDĐ thành 29 lỗ khoan khoan khai thác, bàn giao cho chính quyền địa phương và các đồn biên phòng đưa vào khai thác sử dụng với tổng lưu lượng 15.370m3/ngày, tương ứng với khả năng phục vụ cho 256.162 người, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về nước sạch cho nhân dân và bộ đội tại 29 vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thuộc 23 huyện của 8 tỉnh Nam Bộ. Các kết quả này của đề án, đã được các cấp chính quyền địa phương và đơn vị bộ đội nồng nhiệt đón nhận và đã gửi thư cảm ơn Bộ TN&MT, Cục ĐC&KS Việt Nam, Trung tâm QH&ĐT tài nguyên nước, Liên đoàn QH& ĐTTNN miền Nam về sự giúp đỡ quý giá trên và mong muốn được hỗ trợ nhiều hơn nữa.

Đề án đã chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả trong việc điều tra nguồn NDĐ kết hợp với việc nhanh chóng đưa các kết quả điều tra vào phục vụ thiết thực nhân dân và bộ đội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới góp phần phát triển KT, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng.

 vv136

Quá trình thi công đề án, anh em đã vượt lên nhiều khó khăn, thách thức về kỹ thuật cũng như cuộc sống đời thường để hoàn thành nhiệm vụ, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Phạm Văn Giắng: Đúng vậy! Đặc thù của đề án là điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam bộ nên việc thi công các dạng công tác như khảo sát thực địa, khoan ĐCTV, đo địa vật lý, bơm nước thí nghiệm... đều diễn ra tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, căn cứ địa cách mạng, đặc biệt là vùng biên giới Tây Nam, giáp Campuchia… gặp rất nhiều khó khăn và nguy hiểm. Công tác khảo sát ngoài thực địa kéo dài hàng tháng, anh em kỹ thuật phải làm việc xa nhà, xa cơ quan thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần. Những khi khảo sát vùng biên giới, núi cao hiểm trở, gặp mưa lũ không về được, anh em phải nhịn đói, ngủ rừng; có người ban ngày đi thực địa, đêm về bị sốt rét cao vẫn phải đi bộ hàng chục km mới tới bệnh xá, khi khỏi bệnh lại lao vào công việc. Nhiều vùng khảo sát không có đường giao thông, việc đi lại, vận chuyển máy móc vào vị trí thi công các lỗ khoan thường phải dùng sức người hoặc bằng phà qua sông. Quá trình thi công phải làm liên tục 3 ca, không ít công trình làm vào ban đêm gặp mưa to, gió lớn, anh em vẫn phải “ bám” tháp khoan cao hàng chục mét rất nhọc nhằn, nguy hiểm. Họ phải nhắc nhau, đặt công tác an toàn lao động lên hàng đầu; vì thế trong suốt quá trình thi công đề án vẫn đảm bảo an toàn lao động. Nhận thức của bà con các dân tộc vùng điều tra khảo sát còn hạn chế, những khi cùng ăn uống, sinh hoạ với bà con, anh em thường tranh thủ trò chuyện, nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh, phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất cho đồng bào.

Nhân đây, ông có thể cho biết kết quả tổng quan của đề án “ Điều tra nguồn NDĐ vùng sâu Nam Bộ của các pha 1, pha 2 và pha 3?

Liên đoàn trưởng Phạm Văn Giắng: Nước dưới đất ở Nam Bộ có tiềm năng rất lớn, tuy nhiên việc điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất chưa đáp ứng kịp thời, mức độ chi tiết chưa đủ làm cơ sở phục vụ quy họach, quản lý khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước dưới đất. Qua 3 pha thực hiện, đề án đã bổ sung đáng kể các thông tin tại các vùng còn trống, chưa từng được điều tra, tạo lập một hệ thống thông tin dữ liệu tài nguyên nước dưới đất tại 98 vùng điều tra, làm cơ sở tin cậy phục vụ cho việc lập quy họach, quản lý quản lý khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước dưới đất ở Nam Bộ. Bên cạnh đó đề án đã nhanh chóng chuyển giao 92 lỗ khoan khai thác với tổng lưu lượng 102.466m3/ngày có thể phục vụ cho gần 1.200.000 người, góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống, phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng tại các vùng sâu vùng xa và biên giới.

Xin cám ơn ông!

 

 

 (Theo Monre.gov.vn)

 

 

Côn Đảo: Tiềm năng nguồn nước mới

 Kỹ sư Vũ Văn Nguyễn, Trung tâm Quy hoạch & Điều tra Tài nguyên nuớc (QH&ĐTTNN) - Chủ nhiệm Đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất các giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng và quản lý tổng hợp tài nguyên nước cho huyện đảo Côn Đảo” cho biết, Qua nghiên cứu, đã có những dấu hiệu cho thấy phát hiện nguồn nước ngọt ở Côn Đảo, từ các khe đá, mở ra triển vọng khai thác nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đảo lịch sử nhiều tiềm năng du lịch.

 

Nhóm các nhà nghiên cứu thộc Trung tâm QH&ĐTTNN đã áp dụng các phương pháp điều tra truyền thống cũng như hiện đại trong điều tra địa chất thủy văn: khảo sát, điều tra thực địa về nước mặt, nước dưới đất, đo địa vật lý điện, khoan thăm dò, làm thí nghiệm thấm xác định các thông số địa chất thủy văn; Nghiên cứu đánh giá tính thấm của đới thông khí, điều tra các lưu vực suối, các hồ chứa nước ngọt, chất lượng nước mặt, nước dưới đất. Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng và quản lý tổng hợp tài nguyên nước cho huyện Côn Đảo.

     Công tác khảo sát điều tra thực địa TNN nhằm xác định ranh giới trên mặt của các tầng chứa nước, thành phần thạch học của đất đá chứa nước, cách nước; chỉ ra các nguồn gây ô nhiễm TNN, làm sáng tỏ hiện trạng khai thác và bước đầu đánh giá được tiềm năng khai thác TNN huyện Côn Đảo.

Đề tài đã tiến hành khoan thăm dò 4 lỗ khoan nghiên cứu ĐCTV trong các thành tạo địa chất Mz (đá gốc) với tổng số 260 m khoan: Tại khu Bến Đầm, lỗ khoan LK1 thăm dò gặp các thành tạo phun trào hệ tầng Nha Trang ở độ sâu 7,5m, đoạn phát triển nứt nẻ mạnh có khả năng chứa nước ở độ sâu từ 8,5m đến 16m và từ 44m đến 52m. Kết quả hút nước thí nghiệm tại lỗ khoan này cho lưu lượng 52m3/ngày.

Tại khu thung lũng Côn Sơn, lỗ khoan LK2 thăm dò gặp các thành tạo đới dập vỡ của các đá xâm nhập phức hệ Định Quán ở độ sâu 23,5m, đoạn phát triển nứt nẻ mạnh có khả năng chứa nước ở độ sâu từ 38m đến 43m; khi hút nước thí nghiệm đạt lưu lượng đạt 123m3/ngày.

 vv134

Tại khu thung lũng Cỏ Ống, lỗ khoan LK3 thăm dò gặp các thành tạo phun trào hệ tầng Nha Trang ở độ sâu 32,5m, đoạn phát triển nứt nẻ mạnh có khả năng chứa nước ở độ sâu từ 32,5m đến 41,0m và từ 49,0m đến 64,0m, hút nước thí nghiệm tại lỗ khoan đạt 104m3/ngày.

Riêng tại hòn Bảy Cạnh lỗ khoan LK4 thăm dò gặp các đá xâm nhập nông phức hệ Đèo Cả ở độ sâu 12m đoạn phát triển nứt nẻ mạnh có khả năng chứa nước ở độ sâu từ 36 m đến 50m, khi bơm thổi rửa tại lỗ khoan cho thấy nước giếng đã bị mặn, độ tổng khoáng hóa M=2,4 g/l.

Đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất các giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng và quản lý tổng hợp tài nguyên nước cho huyện Côn Đảo” đã kết thúc và cho kết quả khả quan: Lần đầu tiên phát hiện ra nước ngọt trong các đới nứt nẻ của đá gốc tại huyện Côn Đảo. Chỉ ra triển vọng điều tra đánh giá, khai thác sử dụng nước trong các đới nứt nẻ của đá gốc. Đã làm sáng tỏ hiện trạng TNN, khả năng chứa nước, trữ lượng nước và cung cấp nước cho phát triển KT-XH trên địa bàn; đề xuất các giải pháp phát triển, khai thác, sử dụng và quản lý tổng hợp TNN phục vụ huyện đảo Côn Đảo.

Đưa nguồn nước phục vụ đảo xa

Đề tài đã đạt kết qủa đáng khích lệ, nhưng theo Trung tâm QH& ĐT TNN, vẫn còn những vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết triệt để. Đó là: mối quan hệ thủy lực giữa nước mặt (trong các hồ Quang Trung và An Hải) với nước dưới đất; xác định chính xác ranh giới mặn nhạt và dự báo khả năng nhiễm mặn trong quá trình khai thác nước dưới đất.

Trung tâm QH & ĐT TNN mong muốn được tiếp tục nghiên cứu sâu, điều tra đánh giá trong các đới nứt nẻ của đá gốc, giải quyết các vấn đề tồn tại nêu trên để có kết luận chính xác trữ lượng khai thác NDĐ. Truớc mắt, để kết quả nghiên cứu của Đề tài thực sự có hiệu quả, phục vụ thiết thực công cuộc phát triển KT- XH cho huyện đảo Côn Đảo, Bộ TN & MT, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Sở TN & MT tỉnh cần quan tâm xem xét thực tế để lắp đặt máy bơm chìm tại các lỗ khoan, khai thác nước thiết thực phục vụ nhân dân nơi đảo xa của Tổ quốc.

 

 

(Theo Monre.gov.vn)

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung: 10 năm nhìn lại

Với lịch sử gần 40 năm hình thành và phát triển, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung đã đóng góp một phần công sức của mình vào quá trình xây dựng và phát triển của đất nước. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới quý vị và các bạn những thành tựu mà Liên đoàn đạt được trong giai đoạn 10 năm vừa qua (2002 - 2012)

Trong giai đoạn (2002-2012) Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung đã thực hiện 10 đề án hoàn thành, chất lượng báo cáo được đánh giá xếp loại khá, cụ thể như sau:

1. Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

- Các nhiệm vụ điều tra thành lập bản đồ ĐCTV, bản đồ ĐCCT, gồm: Lập bản đồ địa chất thuỷ văn, địa chất công trình tỉ lệ 1/50.000 vùng Duy Xuyên - Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với diện tích 1700 km2, vùng Đức Trọng - Di Linh, tỉnh Lâm Đồng với diện tích 1462 km2, vùng Sông Cầu- Tuy An, tỉnh Phú Yên với diện tích 1180 km2. Kết quả điều tra của các đề án đã làm sáng tỏ đặc điểm ĐCTV, đã xác định được các tầng chứa nước trung bình đến giàu, các tầng chứa nước yếu và không chứa nước, các vùng nước bị nhiễm mặn, nhiễm bẩn. Đánh giá trữ lượng khai thác tiềm năng của vùng Đức Trọng - Di Linh đạt 1.721.594 m3/ng, vùng Duy Xuyên - Tam Kỳ đạt 673.633 m3/ng và vùng Sông Cầu - Tuy An đạt 379.972 m3/ng; Làm sáng tỏ điều kiện ĐCCT, các quá trình địa chất động lực công trình, chỉ ra những vùng thuận lợi và không thuận lợi cho quy hoạch xây dựng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.

- Báo cáo kết quả Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên (pha III) đã thi công 4.237,5m/59 lỗ khoan, đạt lưu lượng khai thác và lắp máy bơm là 37 lỗ khoan với trữ lượng 8.193m3/ng, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho 140.000 dân theo tiêu chuẩn 60 lít/ngày/người. Kết quả điều tra đã phát hiện và khẳng định thêm nhiều đối tượng có khả năng chứa nước tương đối giàu đến giàu như trầm tích Neogen hệ tầng Kon Tum hoặc trầm tích Jura hệ tầng Bản Đôn.

- Dự án điều tra, đánh giá nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên, đã tiến hành thi công 117 lỗ khoan trong đó có 104 lỗ khoan đạt yêu cầu lưu lượng khai thác mà mục tiêu đã đề ra (đạt 88,9%), với tổng trữ lượng khai thác tại các lỗ khoan đạt 17.905 m3/ng, cung cấp cho khoảng 304.500 người dân.

- Các đề án Điều tra nguồn nước dưới đất vùng ven biển Mộ Đức - Quảng Ngãi với diện tích 225 km2, và vùng Buôn Đôn - Đắk Lắk với diện tích 486 km2. Kết quả điều tra đã làm sáng tỏ cấu trúc địa chất của các vùng về đặc điểm của địa tầng, xác định các tầng chứa nước khe nứt, lỗ hổng, đánh giá tiềm năng nước dưới đất, khoanh định các vùng đất đá có mức độ chứa nước khác nhau. Trữ lượng khai thác tiềm năng vùng Buôn Đôn- Đăk Lăk đạt 635.797m3/ng, vùng Mộ Đức- Quảng Ngãi đạt 143.041 m3/ng.

- Kết quả điều tra tai biến địa chất Tây Nguyên: Đã thành lập được bản đồ tai biến địa chất tỉ lệ 1/500.000 cho toàn vùng Tây nguyên và bản đồ tai biến địa chất tỉ lệ 1/50.000 các khu vực ĐăK Glei, Kom Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột và Thị trấn Gia Nghĩa. Trên các bản đồ đã thể hiện các điểm, các vùng đã và đang xảy ra TBĐC và phân vùng dự báo các loại tai biến; xác định các nguyên nhân tác động hình thành các loại tai biến địa chất. Vùng Tây Nguyên có nhiều công trình quan trọng của Quốc gia, do đó với việc đề xuất các biện pháp phòng tránh dựa trên những nhận định về tai biến địa chất đúng đắn, các tài liệu định lượng có cơ sở tin cậy đã giúp các cơ quan hữu quan và chính quyền địa phương lập ra được các quy hoạch hợp lí.

- Kết qua Điều tra tai biến địa chất ven biển Nam Trung Bộ (từ Khánh Hòa đến Bình Thuận) đã thành lập các bản đồ tai biến địa chất tỉ lệ 1/200.000 toàn vùng, bản đồ tai biến địa chất tie lệ 1/50.000 các vùng trọng điểm thị xã, thị trấn; khoanh định được 15 dạng tai biến địa chất và các dị thường về môi trường địa chất đã xảy ra, có nguy cơ xảy ra hoặc tồn tại trong vùng ven biển Nam Trung Bộ. Đã nêu được các đặc điểm địa chất thủy văn cũng như hiện trạng, nguyên nhân xâm nhập mặn và ô nhiễm môi trường nước của vùng nghiên cứu. Qua đó đã đề xuất các biện pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai nhằm ngăn chặn kịp thời tác động của các dạng tai biến địa chất đến đời sông dân sinh.

- Kết quả Quan trắc quốc gia động thái nước dưới đất vùng Tây Nguyên: đã xác định mối quan hệ thủy lực về điều kiện hình thành nước dưới đất và những vấn đề ảnh hưởng đến động thái nước dưới đất, làm sáng tỏ quy luật của chúng theo không gian, thời gian. Định kì hàng quý đã tính toán dự báo, cảnh báo mực nước dưới đất thông báo đến 5 tỉnh Tây Nguyên giúp cho các địa phương bảo vệ và khai thác tài nguyên nước hợp lí, bền vững, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.

- Đã triển khai thực hiện 2 đề tài khoa học cấp Bộ: đề tài “Nghiên cứu triển khai ứng dụng các phần mềm mô hình ĐCTV để đánh giá nguy cơ ô nhiễm môi trường”, kết quả đã ứng dụng phần mềm MODFLOW trong xây dựng mô hình dòng ngầm và đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Đề tài “Nghiên cứu áp dụng phương pháp ảnh điện (TOMOGRAPHY) trong tìm kiếm nguồn nước dưới đất và điều tra ĐCCT, ĐCMT, ứng dụng trên vùng bazan” Kết quả ứng dụng phần mền RES2DINV cho phép tạo ra các mặt cắt dạng ảnh, có tính trực quan cao, giúp cho việc luận giải bản chất địa chất của các đới dị thường nhanh chóng, chính xác. Thực tế đề tài được ứng dụng vào sản xuất và được kiểm chứng qua kết quả khoan điều tra nguồn NDĐ đạt hiệu quả cao.

- Kết quả thực hiện đề án Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất thuộc khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ, Liên đoàn được giao và hoàn thành với khối lượng là 32 LK/2.750m. Kết quả của công tác đã hoàn thành toàn diện khối lượng, hầu hết các lỗ khoan đều đạt lưu lượng khai thác, đáp ứng tốt cho việc lắp đặt máy bơm khai thác, phục vụ nhu cầu cấp nước của nhân dân địa phương.

Kết quả điều tra tài nguyên nước trên địa bàn miền Trung đã góp phần quan trọng, là cơ sở khoa học giúp các địa phương quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lí, bền vững.

2. Thu nhập và đời sống

Năm năm qua tổng giá trị sản xuất 2 phần kế hoạch đạt trên 287 tỉ 664 triệu, trong đó giá trị của sản xuất dịch vụ tài nguyên nước và sản xuất khác đạt 155 tỉ 849 triệu đồng chiếm tỉ trọng là 54,17% . Thu nhập bình quân từ 2 triệu/người/tháng năm 2002 đã tăng lên 6.917.155 đ/người/tháng năm 2011. Sản xuất dịch vụ ngoài ý nghĩa kinh tế là ổn định nâng cao thu nhập cho cán bộ CNV còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc giúp giải quyết khó khăn về nước sinh hoạt cho các đồn biên phòng dọc tuyến biên giới Việt Nam - Cam Puchia; cung cấp nước cho các đơn vị doanh trại quân đội, bệnh viện, trường học, … được địa phương đánh giá cao.

3. Khen thưởng

Trong 10 năm qua Liên đoàn luôn là đơn vị được cấp trên công nhận là tập thể lao động xuất sắc, trong đó có nhiều phần thưởng cao quý: Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2008; được tặng Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ năm 2010; Cờ thi đua của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010; Cờ thi đua của Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà năm 2011 và nhiều bằng khen của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho tập thể và các cá nhân.

 vv118Công trình cấp nước Sông Bình, Bắc Bình, Bình Thuận thuộc đề án Điều tra nguồn nước dưới đất cho các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, năm 2009

vv119Phái đoàn Bộ TNMT kiểm tra thực địa máy quan trắc tự động tại lỗ khoan Buôn Đôn- Đăk Lăk của đề án quan trắc TNN Tây Nguyên, năm 2010

 

 

 

(CWRPI)

 

 

Lớp tập huấn về công tác điều tra, quan trắc và quy hoạch tài nguyên nước

Từ ngày 03 đến ngày 05 tháng 4 năm 2012, tại Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (QH&ĐT TNN) đã tổ chức lớp tập huấn nhằm tăng cường chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật công tác điều tra, quan trắc và quy hoạch tài nguyên nước - đặc biệt là lĩnh vực tài nguyên nước mặt. Tham gia lớp tập huấn có 32 Cán bộ kỹ thuật của Liên đoàn QH&ĐT TNN Miền Nam (Phòng Kỹ thuật và cán bộ kỹ thuật của các Đoàn) và 03 cán bộ kỹ thuật của Liên đoàn QH&ĐT TNN Miền Trung. Đồng chí Nguyễn Chí Công và đồng chí Dương Văn Khánh (các Phó giám đốc Trung tâm QH&ĐT TNN) là những người trực tiếp tham gia giảng dạy và chia sẻ kinh nghiệm.

Tại lớp tập huấn, các học viên đã được giới thiệu tổng quan về điều tra số lượng, chất lượng TNN, điều tra khai thác sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước cũng như được nghe giới thiệu chi tiết về: Xác định vị trí điều tra, khảo sát tài nguyên nước; Máy móc đo đạc quan trắc lưu lượng nước; Đo đạc mực nước và cách ghi sổ tính toán mực nước. Về kĩ thuật đo đạc tính toán lưu lượng dòng chảy, có 2 nội dung chính mà các cán bộ kĩ thuật khi thực hiện cần chú ý đó là: đo đạc, ghi sổ tính toán lưu lượng vùng sông không ảnh hưởng triều và đo đạc, ghi sổ tính toán lưu lượng vùng sông ảnh hưởng triều. Các học viên cũng được chia sẻ kinh nghiệm điều tra về dòng chảy cạn, dòng chảy dòng chảy lũ; tình hình khai thác sử dụng TNN; xả nước thải vào nguồn nước.

vv85Các học viên và giảng viên tại lớp tập huấn chụp ảnh lưu niệm

Về công tác quy hoạch tài nguyên nước, các học viên tham dự lớp tập huấn cũng đã được giới thiệu về Các khái niệm liên quan về QH TNN được quy định trong Luật TNN (1998), Nghị định 120/2008/N Đ-CP của Chính phủ về Quản lý lưu vực sông và Dự thảo (ngày 26-03-2012) Luật TNN sửa đổi; Các nội dung chủ yếu của QH TNN được quy định tại Nghị định 120/2008/N Đ-CP của Chính phủ về Quản lý lưu vực sông; Thông tư số 15/2009/TT-BTNMT của Bô TNMT về Định mức Kinh tế-kỹ thuật lập QH TNN và Dự thảo (ngày 26-03-2012) Luật TNN sửa đổi; Ngoài ra, các cán bộ của Trung tâm cũng chia sẻ một số kinh nghiệm trong công tác lập QH TNN bao gồm: Phân vùng QH; Xác định các vấn đề bức xúc về TNN; Các nguyên tắc ưu tiên và đồng thuận trong phân bổ TNN; Xác định mục đích sử dụng nước; xác định mục tiêu chất lượng nguồn nước.

Ban tổ chức lớp tập huấn cũng đã giới thiệu nhiều tài liệu và các quy trình, quy phạm phục vụ chuyên môn điều tra, khảo sát và quy hoạch tài nguyên nước.

Nội dung lớp tập huấn là những vấn đề chuyên môn, kỹ thuật mới, nên các học viên đã rất sôi nổi thảo luận về những vấn đề chưa nắm vững. Lớp tập huấn này là những bước đầu giúp cho các cán bộ kỹ thuật của Liên đoàn QH& ĐT TNN miền Nam định hình, hiểu một cách tổng quát về nhiệm vụ điều tra và quy hoạch TNN.

Tài liệu Quy hoạch tài nguyên nước:

Quý vị độc giả quan tâm có thể download tại đây

Bài viết Một số kinh nghiệm lập Quy hoạch TNN_Tuyển tập KTTV 2012:

Quý vị độc giả quan tâm có thể download tại đây




(CWRPI)

Từ nay đến cuối năm hoàn thiện định mức hệ thống quan trắc tài nguyên nước quốc gia

vv81Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai tại buổi làm việcTại buổi làm việc với Trung tâm Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước chiều 10/4 với sự có mặt của đại diện Bộ Tài Chính và các Vụ chức năng thuộc Bộ, Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai đã khẳng định như vậy. Thứ trưởng nhấn mạnh: Nước  không thể thiếu với cuộc sống, trong bối cảnh nguồn nước đang có nguy cơ cạn kiệt, suy thoái và ô nhiễm nặng nề, cần có các thông tin chính xác về  số lượng, chất lượng tài nguyên nước (TNN) để kịp thời xử lý, hoàn thiện bức tranh về TNN, làm cơ sở trong xây dựng chiến lược, sách lược bảo vệ TNN…phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch khai thác, sử dụng nước. Vì thế, phải tăng cường quan trắc TNN, không thể không “làm dầy’ các trạm quan trắc. Lãnh đạo các Liên đoàn nước ở ba miền Bắc, Trung, Nam cần khẩn trương rà soát hệ thống quan trắc nơi mình phụ trách, trên cơ sở đó, đề xuất các vuớng mắc cần giải quyết, cùng Trung tâm nhanh chóng hoàn thiện định mức hệ thống quan trắc TNN quốc gia nhằm đánh gía chính xác TNN, không để xảy ra tỉnh trạng khủng hoảng về nước. Mong rằng Bộ Tài Chính tạo điều kiện đề ngành nước thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng của mình.

 Trước đó, bà Nguyễn Thị Hạ, Giám đốc Trung tâm Quan trắc TNN (Trung tâm QH & ĐTTNN) cho biết: Hiện cả nước có 730 công trình thuộc mạng quan trắc quốc gia tài nguyên nước dưới đất (NDĐ), trong đó đồng bằng Bắc Bộ: 206 công trình, Nam Bộ:220, Tây Nguyên:212, Bắc Trung Bộ:46, Nam Trung Bộ:46 và 7 trạm quan trắc nước mặt.  Các yếu tố quan trắc bao gồm mực nước, lưu lượng, nhiệt độ, thành phần hóa học… của TNN theo thời gian và không gian. Mục tiêu chính của công tác quan trắc nước là: kiểm soát ảnh hưởng, tác động, diễn biến của quá trình tự nhiên và nhân tạo đến TNNM và NDĐ về số lượng, chất lượng nước phục vụ công tác quản lý, quy hoạch, khai thác, sử dụng hiệu quả TNN. Nhiệm vụ của công tác quan trắc TNN bao gồm: Thu thập các số liệu về TNN tại các mạng quan trắc TNN ở các vùng; Tổng hợp, xử lý số liệu quan trắc, xác định mức độ ảnh hưởng đến diễn biến TNN;Xây dựng đặc trưng, dự báo xu thế thay đổi trước mắt và lâu dài TNN cho các vùng gửi cơ quan liên quan và địa phương phục vụ công tác quản lý, quy hoạch, khai thác, sử dụng TNN; Bổ sung cơ sở dữ liệu quan trắc quốc gia TNN; duy tu, bảo dưỡng, phục hồi các công trình quan trắc TNN.
 vv82Bà Nguyễn Thị Hạ, Giám đốc TTquan trắc TNN phát biểu

Nội dung, khối lượng và dự toán quan trắc TNN năm 2012 đã được xây dựng bám sát nhiệm vụ được giao theo Quyết định 118 ngày 3/2/2012 của Bộ TN & MT. Dự toán quan trắc tăng so với năm 2011 là 5.013.123.000 đ, do thay đổi khối lượng đo thủ công và tự ghi, tăng số tháng quan trắc của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, tăng khối lượng năm 2012 so với năm 2011 vì bổ sung các công trrình quan trắc nước dưới đất  và nước mặt tại khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ.

 
vv83Quang cảnh buổi làm việc
 
 
 
(Theo Monre.gov.vn)
 
 

 

 

 

Hội nghị Cán Bộ Viên Chức năm 2011 Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước

vv78Đồng chí Nguyễn Thị Hằng – Chánh Văn phòng Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012 của cơ quan Trung tâm QH&ĐT TNNNgày 23 tháng 03 năm 2012, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (QH&ĐT TNN) đã tổ chức Hội nghị Cán Bộ Viên Chức năm 2011. Tham dự Hội nghị có toàn thể Cán bộ - Công nhân viên trực thuộc Trung tâm, đồng chí Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm QH&ĐT TNN chủ trì Hội nghị.

Tại Hội nghị, các đại biểu tham dự đã nghe đồng chí Nguyễn Thị Hằng – Chánh Văn phòng Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012 của cơ quan Trung tâm QH&ĐT TNN. Trong năm 2011, cơ quan Trung tâm đã hoàn thành tốt công tác quản lý đối với các đơn vị trực thuộc và trực tiếp thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ các nhiệm vụ Bộ TNMT giao gồm: 02 nhiệm vụ quy hoạch; 02 nhiệm vụ điều tra; 05 nhiệm vụ XDCB; 04 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và 01 nhiệm vụ đối ứng dự án ODA.

Năm 2011 là năm cơ quan Trung tâm đã ổn định về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ được kiện toàn. Cán bộ của Trung tâm đa số là lực lượng trẻ, có trách nhiệm, có lòng nhiệt tình và tâm huyết với công việc; Lãnh đạo Trung tâm và các phòng chuyên môn nghiệp vụ đã tập trung đầu tư, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao. Công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Trung tâm sâu sát, kịp thời, có trọng tâm và trọng điểm. Hoạt động cơ quan Trung tâm đã đi vào nề nếp, đảm bảo sự chỉ đạo điều hành chung của đơn vị. Đặc biệt công tác quản lý của cơ quan Trung tâm rất chặt chẽ, tiết kiệm được tối đa chi phí quản lý hành chính, qua đó góp phần tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên cơ quan Trung tâm.

Năm 2011 đời sống cán bộ công nhân viên cơ quan Trung tâm được nâng cao, đặc biệt các cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất nhà nước giao và cán bộ tham gia tìm kiếm hợp đồng dịch vụ có thu nhập khá cao.

Tiếp nối thành công của năm 2011, trong năm 2012, Trung tâm sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện đúng tiến độ, hiệu quả và đảm bảo chất lượng các nhiệm vụ, đề án được Bộ TN&MT giao cho trong năm 2012; Chú trọng và tăng cường công tác điều tra đánh giá tài nguyên nước, khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước làm cơ sở phục vụ triển khai thực hiện hiện xây dựng đề án kiểm kê tài nguyên nước; Tăng cường công tác tuyên truyền về nhiệm vụ điều tra, quy hoạch tài nguyên nước, nâng cao vị thế của Trung tâm, Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quy hoạch, điều tra, dự báo tài nguyên nước; Đẩy mạnh công tác đào tạo nhằm tăng cường đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, vững về quản lý; Tăng cường tập huấn, hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, viên chức của Trung tâm; Chú trọng xây dựng nội bộ đoàn kết, nhất trí, bảo đảm bộ máy trong sạch, vững mạnh; Hoàn thành việc xây dựng Chiến lược phát triển của Trung tâm QH&ĐT TNN đến 2020; Tiến hành xây dựng trụ sở mới của Trung tâm khang trang hiện đại đáp ứng được chức năng nhiệm vụ và vị thế của Trung tâm theo chỉ đạo của Bộ TNMT; Ổn định nơi làm việc trong thời gian xây dựng trụ sở, bảo đảm an toàn, an ninh, vệ sinh khi khởi công cũng như trong quá trình xây dựng trụ sở mới; Tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên cơ quan Trung tâm.

Tại Hội nghị lần này, Trung tâm cũng đã tiến hành bầu Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ II (2012 – 2014) và trao bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho đồng chí Vũ Thanh Tâm - Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế do có nhiều thành tích trong công tác từ năm 2006 đến năm 2010, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.

vv69

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm QH&ĐT TNN đánh giá cao những thành tựu mà tập thể Cán bộ - Công nhân viên chức của Trung tâm đã hoàn thành trong năm vừa qua. Đồng chí Hùng nhấn mạnh, năm 2011 là một năm đặc biệt khó khăn đối với Trung tâm cũng như đối với nền kinh tế cả nước nói chung, nhưng với sự cố gắng, đồng sức đồng lòng, tập thể Cán bộ Công nhân viên của Trung tâm đã hoàn thành suất sắc các nhiệm vụ được Bộ và Chính phủ tin tưởng giao cho; Hiện tại, Trung tâm vẫn đang gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như: Do là đơn vị mới thành lập nên hệ thống cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn; Trang thiết bị phục vụ cho công tác quy hoạch, sản xuất cần được đầu tư và hoàn thiện hơn nữa… Tuy nhiên, với lợi thế là nguồn lực cán bộ trẻ, có năng lực và nhiệt huyết, được quan tâm và đào tạo bài bản, được sự dìu dắt của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực tài nguyên nước (đặc biệt là nước dưới đất), đồng chí Hùng tin tưởng, Trung tâm sẽ ngày càng vững mạnh và phát triển xúng đáng với tiềm năng và vị thế vốn có của mình./

vv66Toàn cảnh Hội nghị Cán Bộ Viên Chức Trung tâm QH&ĐT TNN

 

 

 

(Thanh Sơn – Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)

Một số hình ảnh tại Hội nghị Cán Bộ Viên Chức năm 2011 Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước

Hội nghị Cán Bộ Viên Chức năm 2011 Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước đã diễn ra thành công tốt đẹp, sau đây là một số hình ảnh tại Hội nghị

vv68Đồng chí Nguyễn Thị Hằng – Chánh Văn phòng Trung tâm đọc báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012 của cơ quan Trung tâm QH&ĐT TNN

vv69Đồng chí Đỗ Tiến Hùng – Giám đốc Trung tâm QH&ĐT TNN phát biểu chỉ đạo Hội nghị

vv77Đồng chí Phạm Quý Nhân – Phó Giám đốc trung tâm phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv66Đồng chí Dương Văn Khánh – Phó Giám đốc trung tâm phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv76Đồng chí Nguyễn Chí Công – Phó Giám đốc trung tâm phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv67Đồng chí Vũ Văn Sơn – Trưởng phòng Kế hoạch Tài Chính phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv70Đồng chí Đinh Ngọc Chức – Phó Trưởng phòng Kế hoạch Tài Chính phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv72Đồng chí Vũ Thanh Tâm – Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv75Đồng chí Bạch Ngọc Quang – Trưởng phòng Phòng Điều tra và Kiểm kê tài nguyên nước dưới đất phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv74Đồng chí Nguyễn Ngọc Hà – Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Điều tra và Kiểm kê tài nguyên nước mặt phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv73Đồng chí Đỗ Trường Sinh – Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Phòng quy hoạch tài nguyên nước phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv71Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Loan – Phó Chánh Văn phòng Trung tâm phát biểu ý kiến đóng góp tại Hội nghị

vv66Toàn cảnh Hội nghị Cán bộ Viên chức Trung tâm QH&ĐT TNN



(Thanh Sơn – Trung tâm Tư liệu và Thông tin TNN)