Fri12032021

Last update03:11:03 AM GMT

Hỏi - Đáp

Để đạt được mục tiêu đề ra, Đề tài “Nghiên cứu xác định các thành phần trong cân bằng nước và lượng nước có thể phân bổ cho các nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông” đã lựa chọn cách tiếp cận nào?

Trả lời:

Đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định các thành phần trong cân bằng nước và lượng nước có thể phân bổ cho các nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông" do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia chủ trì thực hiện từ năm 2018, chủ nhiệm đề tài là ThS. Tống Thanh Tùng. Để giải quyết được mục tiêu là đề xuất được cơ sở khoa học và thực tiễn các thành phần trong cân bằng nước lưu vực sông; xây dựng được bộ tiêu chí phân bổ nguồn nước theo không gian và thời gian và áp dụng thử nghiệm trên thượng lưu sông Đáy từ đập Vân Cốc đến sau nhập lưu sông Bùi, đề tài lựa chọn cách tiếp cận sau:

1. Tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp

Đối tượng nghiên cứu của đề tài ở đây là các thành phần trong cân bằng nước trên lưu vực sông như lượng lũ không thể kiểm soát được, lượng nước đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho ăn uống sinh hoạt, lượng bổ cập của nước mưa cho nước dưới đất, tương tác giữa nước mặt với nước dưới đất, lượng nước dưới đất có thể khai thác, sử dụng... là rất phức tạp đòi hỏi phải tiếp cận thực tiễn, xây dựng mô hình thực nghiệm nghiên cứu ngoài hiện trường, lập các phiếu điều tra dân sinh xã hội... một cách toàn diện và tổng hợp hệ thống mới đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra.

2. Tiếp cận kế thừa

Lưu vực nghiên cứu là thượng lưu sông Đáy từ đập Vân Cốc đến sau nhập lưu sông Bùi đã có nhiều nghiên cứu điều tra, đánh giá tài nguyên nước, tính toán cân bằng nước. Đó là những kết quả vô cùng quý giá, là kết quả của bao thế hệ đã dày công nghiên cứu, đầu tư về sức lực, trí tuệ và vật chất rất đáng trân trọng. Do đó trong cách tiếp cận này sẽ:

- Tổng hợp lý thuyết và thực tiễn kế thừa các phương pháp phù hợp để xây dựng phương pháp luận về cơ sở khoa học xác định các thành phần trong cân bằng nước lưu vực sông;

- Xây dựng bộ tiêu chí phân bổ nguồn nước theo không gian và thời gian trên lưu vực sông.

3. Tiếp cận về phương pháp nghiên cứu

Tôn trọng và sử dụng có xem xét các phương pháp nghiên cứu truyền thống, nắm chắc và vận dụng tốt các phương pháp và công cụ nghiên cứu mới nhằm đưa ra các kết quả tính toán đầy đủ và tin cậy nhất.

4. Tiếp cận với các nhà khoa học, các chuyên gia

Để có kết quả nghiên cứu tốt nhất thì sự góp ý của các nhà khoa học, các chuyên gia là những đóng góp quý báu nhằm hoàn thiện đề tài này. Vì vậy cần tranh thủ tiếp cận với các nhà khoa học có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, các chuyên gia và nhà quản lý có kinh nghiệm thực tế liên quan đến lĩnh vực đề tài.

Những phương pháp nào được sử dụng khi thực hiện công tác điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất tại đảo Thanh Lân?

Trả lời:

Các phương pháp được sử dụng khi thực hiện công tác điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước dưới đất tại đảo Thanh Lân:

1. Công tác điều tra, khảo sát thực địa tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1/10.000

Khoanh định ranh giới các tầng chứa nước, các thành tạo địa chất không chứa nước hoặc chứa nước kém, sơ bộ xác định số lượng, chất lượng, hiện trạng sử dụng và nguy cơ ô nhiễm nước dưới đất trên đảo. Phát hiện, khảo sát các nguồn lộ tự nhiên nước dưới đất và các yếu tố liên quan đến việc đánh giá tiềm năng nước dưới đất. Xác định sơ bộ vị trí lỗ khoan, các tuyến địa vật lý, các nguồn lộ, giếng đào để chọn hút nước thí nghiệm.

Công tác điều tra, khảo sát thực địa đã xác định được sự có mặt của các tầng chứa nước qh, o3-s1, xác định sơ bộ khả năng chứa nước, hiện trạng khai thác sử dụng nước của các tầng chứa nước thông qua các điểm khảo sát nước dưới đất (nguồn lộ, lỗ khoan, giếng đào).

Công tác khảo sát cũng xác định được các vị trí triển vọng đáp ứng yêu cầu bố trí tuyến đo địa vật lý xác định lỗ khoan nghiên cứu trong địa tầng O3-S1ct.

hthd-12Điểm khảo sát giếng đào ĐTL.75

2. Công tác địa vật lý: Xác định chiều dày các tầng chứa nước Đệ tứ, các đới nứt nẻ, bề dày các đới nứt nẻ có khả năng chứa nước để khoanh định phạm vi có triển vọng chứa nước nhạt, làm cơ sở cho việc lựa chọn vị trí và thiết kế lỗ khoan địa chất thủy văn; Xác định điều tra đánh giá quy mô các khu vực có triển vọng cung cấp nước ngầm phục vụ cho công tác xây dựng công trình cấp nước sạch cho Đảo.

3. Công tác khoan, khai đào: Nhằm nghiên cứu đặc điểm địa chất thủy văn của đất đá theo chiều sâu, xác định thành phần thạch học, đánh giá khả năng chứa nước của tầng nghiên cứu; Kết cấu lỗ khoan phục vụ cho hút nước thí nghiệm, quan trắc mực nước.

4. Công tác bơm hút nước thí nghiệm

4.1. Công tác bơm hút nước thí nghiệm lõ khoan

Giúp làm sạch mùn, dung dịch khoan, các vật chất lấp nhét trong các lỗ hổng, khe nứt của đất đá và khe hở của ống lọc. Khôi phục điều kiện tự nhiên của tầng chứa nước, làm cho nước vận động ổn định vào lỗ khoan, sơ bộ xác định lưu lượng và mực nước hạ thấp làm cơ sở cho thiết kế hút thí nghiệm.

Xác định tính thấm và khả năng chứa nước của tầng chứa nước, lấy các loại mẫu phân tích chất lượng nước.

4.2. Hút nước thí nghiệm điểm lộ, giếng đào

Hút nước thí nghiệm tại các giếng của dân nhằm xác định tính thấm và khả năng chứa nước của tầng chứa nước, lấy các loại mẫu phân tích chất lượng nước phục vụ đánh giá tài nguyên nước dưới đất.

5. Lấy và phân tích mẫu nước dưới đất: Công tác lấy và phân tích mẫu nhằm xác định thành phần hóa học và vi sinh của nước dưới đất phục vụ cho đánh giá hiện trạng và sự biến đổi chất lượng nước

6. Đổ nước thí nghiệm hố đào: Nhằm xác định hệ số thấm của đất đá phục vụ cho tính toán lượng nước mưa thẩm thấu bổ cập cho nước dưới đất trong đới thông khí.

7. Công tác trắc địa: Chỉnh biên nền địa hình cho phù hợp với thực tế. Đo công trình chủ yếu và thứ yếu đưa lên bản đồ địa hình 1:10.000

8. Công tác quan trắc động thái nước dưới đất: Quan trắc sự biến đổi về mực nước, nhiệt độ của nước dưới đất trong các tầng chứa nước.

Quy trình thành lập các bản đồ hạ thấp mực nước được tiến hành theo các bước như thế nào?

Trả lời:

Việc phân tích đánh giá hiện trạng và diễn biến phễu hạ thấp mực nước dưới đất được tiến hành trên cơ sở thành lập các bản đồ hạ thấp mực nước theo tài liệu quan trắc mực nước từng tháng mùa khô và mùa mưa (được lấy theo giá trị trung bình tháng) từ của các trạm quan trắc thuộc mạng quan trắc nước dưới đất quốc gia (do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý vận hành) và địa phương (do Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh, thành phố quản lý và vận hành).

Quy trình thành lập các bản đồ hạ thấp mực nước được tiến hành theo trình tự các bước như sau:

Bước 1: Số liệu quan trắc từ các trạm được làm trung bình theo từng tháng và được tổ chức trong cơ sở dữ liệu MS Excel với các hàng là số hiệu lỗ khoan quan trắc và cột là giá trị mực nước trung bình của từng tháng.

Bước 2: Tổ chức cơ sở dữ liệu trên phần mềm ArcGIS dựa trên cơ sở dữ liệu MS Excel. Trong đó, thông tin về lỗ khoan, mạng quan trắc và tầng chứa nước quan trắc được chứa trong các trường dữ liệu LKQT, CNT_QT và TCN_QT, các trường dữ liệu 1_00, 2_00 ... chứa dữ liệu hạ thấp mực nước quan trắc trung bình tháng của các tháng 1 năm 2000, 2 năm 2000, v.v. Những tháng không có dữ liệu quan trắc được gán giá trị -9999 (hình 3.1).

Bước 3: Sử dụng bộ công cụ Spatial Analyst Tools => Interpolation => Topo to Raster tích hợp sẵn trong phần mềm ArcGIS để tạo bản đồ raster (ô lưới) bề mặt hạ thấp mực nước cho từng tầng chứa nước đối với từng tháng như trong hình minh họa dưới đây. Công cụ này sử dụng thuật toán (chương trình) ANUDEM của Michael Hutchinson (1988, 1989) để tạo bản đồ raster bề mặt hạ thấp mực nước chuẩn xác hơn so với các thuật toán khác (Inversed Distance Weighted – IDW, Kriging, Natural Neighbor, hay Spline) trong điều kiện các lỗ khoan quan trắc ở Hà Nội phân bố với mật độ không đều (dày đặc ở phần trung tâm và thưa ở phần rìa).

Bước 4: Sử dụng bộ công cụ Surface => Contour tích hợp sẵn trong phần mềm ArcGIS để tạo các đường đẳng hạ thấp mực nước dựa trên bản đồ raster bề mặt hạ thấp mực nước đã tạo được ở bước 3.

Bước 5: Chuyển các bản đồ raster bề mặt và các đường đẳng hạ thấp mực nước sang phần mềm MapInfo để biên tập bản đồ sản phẩm.

Dựa trên bản đồ hạ thấp mực nước được tạo nên chúng tôi tiến hành phân tích và đánh giá phát triển phễu hạ thấp mực nước của từng tầng chứa nước theo thời gian và theo diện tích phân bố.

Hiện nay có những phương pháp phân bổ nguồn nước nào được sử dụng?

Trả lời:

Hiện nay có 03 phương pháp phân bổ nguồn nước được sử dụng trong công tác quy hoạch tài nguyên nước:

1. Phân bổ theo không gian

Phân bổ nguồn nước theo không gian là phân bổ nước cho các tiểu vùng, tiểu lưu vực sông( LVS) trong một LVS, phân bổ nước cho các tỉnh trong LVS liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh.

Để thực hiện phân bổ nguồn nước theo không gian thì các con sông cần được phân ra thành các đoạn sông và xác định các điểm khống chế lượng nước đến, các điểm kiểm soát về lưu lượng, mực nước của các đoạn sông đó. Trên cơ sở đó, tính toán lượng nước đến, lượng nước khai thác sử dụng mà các đoạn sông đó cung cấp. Từ đó, tính toán lượng nước có thể phân bổ và lượng nước phân bổ của từng đoạn sông.

2.Phân bổ theo thời gian

Phân bổ nguồn nước theo thời gian là phân bổ nước theo các thời đoạn thời gian (trung bình cả năm, trung bình mùa kiệt, trung bình tháng) và tại từng thời điểm trong năm. Trong thực tế, nhu cầu sử dụng nước của một số ngành thường thay đổi trong năm. Chẳng hạn, nhu cầu tưới lúa vụ đông xuân thường cần rất nhiều nước cho giai đoạn đổ ải, tức là cần nước để làm đất vào thời gian khoảng tháng giêng dương lịch đối với các vùng ở đồng bằng Bắc bộ. Như vậy, ngoài việc phân bổ nước tưới cho cả mùa kiệt, cần thiết phải tính toán phân bổ theo từng tháng, thậm chí cho từng thời đoạn 10 ngày.

Khi tính toán lượng nước có thể phân bổ cho mùa kiệt, cần lưu ý rằng ngoài lượng nước đến theo tần suất của dòng sông còn có lượng nước lũ được tích trữ lại các hồ chứa để dùng trong mùa kiệt. Lượng nước hiệu dụng củacác hồ chứa có thể được sử dụng để điều tiết, phân bổ tại từng thời điểm trong mùa kiệt cho các nhu cầu nước thay đổi khác nhau.

3. Phân bổ nguồn nước sông liên tỉnh

Đối với các nguồn nước liên tỉnh lớn, chảy qua nhiều tỉnh như sông Hồng, sông Đồng Nai, việc phân bổ nguồn nước cần được thực hiện như sau:

Phân bổ nguồn nước dọc sông cho từng tỉnh, từng tiểu vùngtrước khi phân bổ nước cho các ngành sử dụng nước của từng tiểu vùng:

Mỗi tỉnh sẽ có lượng nước được phân bổ là WtA, WtB, WtC;

Tổng lượng nước được phân bổ cho các tỉnh A, B, C là lượng nước có thể phân bổ của cả nguồn nước:W = WtA + WtB+ WtC

Trong phạm vi mỗi tỉnh, chẳng hạn tỉnh A, lượng nước phân bổ WtA sẽ được phân bổ cho các ngành, các đối tượng dùng nước trên địa bàn của tỉnh;

 

hdht-11Phân bổ trong tình huống đủ nước

 

hdht-11-2 Phân bổ trong tình huống thiếu nước

Trong tình huống đủ nước (100%): Lượng nước cấp cho các địa phương bảo đảm 100% nhu cầu nước của họ.

Trong tình huống thiếu nước (75%): Lượng nước cấp cho các địa phương chỉ bảo đảm 75 % nhu cầu nước của họ;.

Nêu các nội dung phải xây dựng cho công tác thông báo, cảnh báo, dự báo tài nguyên nước?

Trả lời:

Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển dân số cùng với việc gia tăng các nhu cầu sử dụng nước phục vụ các hoạt động dân sinh kinh tế, khan hiếm, ô nhiễm tài nguyên nước cùng với biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho vấn đề tài nguyên nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, chi phối toàn bộ đời sống, kinh tế, xã hội của người dân. Vấn đề dự báo, cảnh báo về những diễn biến tài nguyên nước trong tương lai đã trở thành vấn đề vô cùng quan trọng trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước, phát triển ổn định kinh tế-xã hội. Vì vậy, năm 2018, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã triển khai thực hiện đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất bổ sung, hoàn thiện quy định về dự báo, cảnh báo tài nguyên nước" do ThS. Lê Thị Mai Vân chủ nhiệm, với dự kiến đạt được là hoàn thiện hành lang cơ sở pháp lý và các quy định kỹ thuật rõ ràng... đối với từng loại hình dự báo cảnh báo để triển khai công tác cảnh báo dự báo tài nguyên nước.

Các nội dung phải xây dựng, nghiên cứu cho công tác thông báo, cảnh báo, dự báo tài nguyên nước bao gồm:

+ Đối với công tác thông báo tài nguyên nước, cần phải xây dựng được các loại bản tin thông báo tài nguyên nước dưới đất trên các tầng chứa nước và trên các lưu vực sông (LVS) liên tỉnh theo Quyết định Số: 1989/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 01 tháng 11 năm 2010 về việc ban hành danh mục lưu vực sông liên tỉnh, bao gồm: LVS Kỳ Cùng – Bằng Giang, Lưu vực Sông Hồng - Thái Bình, LVS Mã, LVS Cả, LVS Vũ Gia- Thu Bồn, LVS Ba, Lưu vực Đồng Nai, LVS Mê Công (Cửu Long) với các thời đoạn tháng, mùa, năm và bản tin đột xuất (khi xảy ra các hiện tượng bất thường). Đối với các bản tin thông báo tài nguyên nước mặt, cần phải đưa ra thông tin thông báo tại các trạm quan trắc tài nguyên nước, thông báo tài nguyên nước theo nguồn nước, theo lưu vực sông. Cần phải nâng cao công nghệ tin học hiện đại, quy trình, công nghệ hiện đại để đưa ra các bản tin thông báo tài nguyên nước. Để đảm bảo phát triển hiệu quả được công tác này, cần phải đưa ra quy định kỹ thuật xây dựng bản tin thông báo tài nguyên nước dưới đất và nước mặt trong ngay giai đoạn sắp tới (đến năm 2020).

+ Đối với công tác cảnh báo tài nguyên nước, từ phân tích hiện trạng, tồn tại khó khăn và định hướng phát triển, thấy rằng cần phải xây dựng được các loại bản tin cảnh báo tài nguyên nước dưới đất lưu vực sông trên các tầng chứa nước và đưa ra thông báo tài nguyên nước trên các lưu vực sông liên tỉnh với các thời đoạn tháng, mùa, năm. Cần phải nâng cao công nghệ, quy trình hiện đại để đưa ra các bản tin cảnh báo tài nguyên nước. Để đảm bảo phát triển hiệu quả được công tác này, cần phải xây dựng quy định kỹ thuật xây dựng bản tin cảnh báo tài nguyên nước dưới đất và nước mặt trong giai đoạn sắp tới (đến năm 2020).

+ Đối với công tác dự báo tài nguyên nước dưới đất và tài nguyên nước mặt, cần phải xây dựng được bản tin dự báo tài nguyên nước dưới đất và nước mặt trên các lưu vực sông chính với các thời đoạn tháng, mùa, năm, 5 năm, 10 năm. Các bản tin dự báo tài nguyên nước mặt cần phải dự báo về số lượng, chất lượng, khả năng khai thác sử dụng tại các vị trí quan trắc, phân bổ, chuyển nước, giám sát, các vị trí khai thác sử dụng chính, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm... của các lưu vực sông chỉnh ở Việt Nam.Với các bản tin tháng và mùa, cần đưa ra dự báo theo các vị trí dự báo là các điểm quan trắc, phân bô, chuyển nước, giám sát, vị trí khai thác sử dụng chính, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, các hồ chính... Riêng đối với các bản tin năm, 5 năm, 10 năm cần phải dự báo thêm được tổng lượng nước trên toàn lưu vực.

Nêu phương pháp tính toán trữ lượng nước dưới đất của Dự án “ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước”?

Trả lời:

Một số phương pháp tính toán trữ lượng nước dưới đất của dự án tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước:

Trữ lượng có thể khai thác

Trữ lượng có thể khai thác là lượng nước có thể nhận được từ tầng chứa nước ổn định trong thời gian dài mà không gây tác động xấu đến môi trường, nghĩa là không gây sụt lún đất, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước. Trên các vùng điều tra của Dự án, căn cứ vào đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện của từng khu vực mà trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 - 50% tiềm năng nước dưới đất, theo đó:

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 đến 50% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở các kết quả điều tra, đánh giá của vùng cũng như tham khảo các đánh giá từ Đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ";

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trữ lượng có thể khai thác hầu hết được lấy bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá cụ thể từng vùng (hầu hết các tầng chứa nước là tầng chứa nước khe nứt, tính bất đồng nhất cao), đồng thời tham khảo các kết quả từ các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn trước (Báo cáo Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (2007); Báo cáo Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên pha III (2008); Báo cáo Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (2014); Báo cáo Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (2014).

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Bộ được tính toán trên cơ sở Tính theo ngưỡng giới hạn khai thác trên cơ sở mực nước động cho phép theo quy định Nghị định 167/2018/NĐ-CP đối với từng vùng.

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất được xác định theo công thức sau:

Qtn = Qt + Qđ

Trong đó:

Qtn là tiềm năng tài nguyên nước dưới đất, m3/ngày.

Qt là tài nguyên tích chứa (bao gồm tài nguyên tĩnh trọng lực và tài nguyên tĩnh đàn hồi), m3/ngày.

Qđ là lượng bổ cập tự nhiên, m3/ngày

Việc tính toán tài nguyên nước tích chứa và lượng bổ cập (trữ lượng động) được thực hiện như sau:

+ Tính toán tài nguyên tích chứa:

Qt = Qtl + Qdh

Qtl = α.μ.m.F/t

Qdh = α.μ*.ha.F/t

Trong đó:

Qtn: Tiềm năng nước dưới đất, m3/ngày;

Qtl: Tiềm năng tĩnh trọng lực, m3/ngày;

Qdh: Tiềm năng tĩnh đàn hồi, m3/ngày;

α: Hệ số sử dụng trữ lượng (lấy bằng 0,3);

μ: Hệ số nhả nước trọng lực;

μ*: Hệ số nhả nước đàn hồi;

m: Bề dày tầng chứa nước, m;

ha: Chiều cao cột áp trên mái tầng chứa nước, m;

F: Diện tích phân bố của tầng chứa nước, m2;

t: Thời gian hoạt động của công trình qui ước (lấy bằng 10.000 ngày).

+ Lượng bổ cập tự nhiên: Lượng bổ cập tự nhiên cho nước dưới đất có thể được hình thành từ ngấm của nước mưa, từ dòng ngầm nơi khác chảy đến, từ nước sông, nước mặt... Một số phương pháp xác định lượng bổ cập tự nhiên bao gồm: xác định thông qua cường độ cung cấp cho nước dưới đất (phương pháp N.N.Bindeman); phương pháp Darcy; phương pháp thủy văn; phương pháp lượng mưa ngấm...

Đối với các vùng điều tra, trên cơ sở tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất áp dụng phương pháp N.N.Bindeman để tính toán lượng bổ cập tự nhiên như sau:

Giá trị cung cấp thấm trung bình năm sẽ được tính toán theo công thức:

Trong đó: μ là hệ số phóng tích nước được lấy bằng hệ số nhả nước trọng lực nếu tầng chứa nước không áp hoặc hệ số nhả nước đàn hồi nếu tầng chứa nước có áp.

Trong trường hợp không có số liệu thí nghiệm tin cậy để xác định hệ số nhả nước đàn hồi có thể sử dụng hệ số nhả nước trọng lực của lớp phủ trên mặt của tầng chứa nước tính toán.

Lúc đó, lượng nước bổ cập cho các tầng chứa nước hay còn được gọi là trữ lượng động sẽ được tính toán theo công thức:

Qđ = F × Wm

Trong đó:

F: là diện tích lộ của tầng chứa nước (km2),

Wm: là giá trị cung cấp thấm trên một đơn vị diện tích (m3/ngày/km2)

Trữ lượng có thể khai thác

Trữ lượng có thể khai thác là lượng nước có thể nhận được từ tầng chứa nước ổn định trong thời gian dài mà không gây tác động xấu đến môi trường, nghĩa là không gây sụt lún đất, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước. Trên các vùng điều tra của Dự án, căn cứ vào đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện của từng khu vực mà trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 - 50% tiềm năng nước dưới đất, theo đó:

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 đến 50% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở các kết quả điều tra, đánh giá của vùng cũng như tham khảo các đánh giá từ Đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ";

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trữ lượng có thể khai thác hầu hết được lấy bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá cụ thể từng vùng (hầu hết các tầng chứa nước là tầng chứa nước khe nứt, tính bất đồng nhất cao), đồng thời tham khảo các kết quả từ các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn trước (Báo cáo Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (2007); Báo cáo Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên pha III (2008); Báo cáo Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (2014); Báo cáo Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (2014).

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Bộ được tính toán trên cơ sở Tính theo ngưỡng giới hạn khai thác trên cơ sở mực nước động cho phép theo quy định Nghị định 167/2018/NĐ-CP đối với từng vùng.

Lưu lượng khai thác công trình dự báo là lưu lượng được tính toán, dự báo trên cơ sở như sau:

- Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan thăm dò khai thác;

- Nhu cầu khai thác sử dụng của vùng điều tra có xét đến dự báo nhu cầu đến năm 2030.

Việc tính toán dự báo được áp dụng cho từng vùng cụ thể, theo đó các vùng khai thác nước trong các tầng chứa nước bở rời được tính toán, dự báo theo công thức thủy động lực, các vùng khai thác nước trong các tầng chứa nước khe nứt được xác định thủy lực (Phương pháp N.N.Bindeman, 1970). Kết quả dự báo cho từng lỗ khoan khai thác, đảm bảo hạ thấp trong giới hạn cho phép trê cơ sở Nghị định 167 /2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Chính Phủ về quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất. Trường hợp hạ thấp vượt quá hạ thấp cho phép, tiến hành điều chỉnh lưu lượng để xác định các giá trị khai thác an toàn cho từng lỗ khoan. Trữ lượng công trình được tính toán với thời gian khai thác trong 27 năm.