Fri12032021

Last update03:11:03 AM GMT

Hỏi - Đáp

Những khó khăn, thách thức phải đối mặt khi điều tra, tìm kiếm nguồn nước trên đảo Hòn Tre?

Trả lời:

4-1bDự án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam" – đảo Hòn Tre sau gần 2 năm thi công (9/2012 - 7/2014) đã hoàn thành. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, đánh giá cũng như khai thác, vận hành các công trình này, còn gặp không ít những trở ngại.

 

Các khó khăn chính khi thực hiện dự án đó là: 

- Đảo xa đất liền nên điều kiện thi công gặp nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển, cung cấp vật tư thiết bị.

- Cấu tạo các đảo đều là đảo đá, độ dốc lớn, đường giao thông trên đảo chưa phát triển, chất lượng đường nhiều chỗ rất kém nên việc vận chuyển, đi lại trên đảo từ vị trí này đến vị trí khác rất khó khăn.

- Về mùa khô, nước trên đảo cực kỳ khan hiếm, nước sinh hoạt người dân phải mua nước chở ra từ đất liền với giá rất cao, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của các tổ thi công. Vì vậy để có nước cho thi công và sinh hoạt của công nhân, đề nghị cho phép thi công khoan trong mùa mưa để giảm chi phí.

- Thêm vào đó, việc tìm kiếm được các nguồn nước dưới đất, lưu giữ được dưới các tầng đá cũng vô cùng khó. Trong 6 lỗ khoan thăm dò chỉ có 2 lỗ khoan tìm thấy nước ngầm, có nghĩa là tỷ lệ rủi ro rất lớn, trong khi yêu cầu cao (phải có nước mới đảm bảo được).

Ngoài những khó khăn trên, đồng thời dự án cũng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn:

- Trên đảo không có tài nguyên nước mặt do đó yêu cầu phải có được thông tin toàn diện về tiềm năng nước dưới đất, để có thể đáp ứng tốt những yêu cầu này đơn vị thực hiện phải có đủ nguồn lực về con người cũng như trang thiết bị.

- 2 lỗ khoan cấp nước sau khi kết thúc thời gian quan trắc đều bàn giao cho địa phương quản lý nhưng chưa hiệu quả như mong đợi. Vì vậy, đề nghị mỗi vị trí khoan cần gắn với một đơn vị cụ thể nào đó (ví dụ UBND, cơ quan, trường học), để khi lỗ khoan có nước, Nhà nước cấp kinh phí lắp đặt công tác khai dẫn và bàn giao tay 3 (gồm địa phương, cơ quan và đơn vị thi công) để cơ quan đó quản lý, sử dụng và mang lại hiệu quả cao nhất phục vụ mục đích cộng đồng.

Trong điều kiện kinh phí hạn chế nhưng phải đầu tư nghiên cứu giải quyết nhiều vấn đề sẽ là khó khăn cho các đơn vị thực hiện. Để có kết quả tốt phải triển khai một cách bài bản, làm tới đâu chắc tới đó. Việc tìm kiếm ra nguồn nước phục vụ cho người dân trên đảo có ý nghĩa rất lớn trong việc ổn định đời sống nhân dân trên đảo Hòn Tre và củng cố tinh thần đoàn kết giữa nhân dân với lực lượng an ninh, quốc phòng trên đảo nhằm mục đích bảo vệ bình yên vùng biển đảo của Tổ quốc

Các mô hình thường được sử dụng trong dự báo tài nguyên nước mặt ở Việt Nam hiện nay là gì?

Trả lời:

Dự báo tài nguyên nước mặt là dự báo diễn biến cả về số lượng và chất lượng nước mặt theo thời gian và không gian trên lưu vực sông, nhằm cung cấp thông tin cho các hộ khai thác sử dụng nước có kế hoạch khai thác và cho cơ quan quản lý tài nguyên nước phân bổ nguồn nước hợp lý cho các hộ khai thác sử dụng trong tình trạng nguồn nước bị khan hiếm, thiếu hụt.

Mô hình dự báo tài nguyên nước mặt ở Việt Nam hiện nay

* Mô hình toán dự báo mưa rào - dòng chảy:

1. Mô hình NAM: là mô hình mưa dòng chảy mặt, là mô đun trong bộ phần mềm MIKE do Viện Thuỷ lực Đan Mạch DHI phát triển.

- Ưu điểm: giao diện rất thuận tiện, kết nối với GIS và có chức năng tự động hiệu chỉnh thông số của mô hình.

- Khả năng áp dụng: NAM là một mô hình tốt, được áp dụng ở nhiều nơi, mô hình tính toán dòng chảy từ các yếu tố khí tượng như lượng mưa, bốc hơi phục vụ cho công tác phục hồi số liệu, bổ sung số liệu, dự báo dòng chảy... dùng cho việc quy hoạch hệ thống thuỷ lợi, tính toán thiết kế công trình và xây dựng các qui trình vận hành hồ chứa nước...

2. Mô hình TANK: Mô hình TANK ra đời năm 1956 tại Trung tâm Quốc gia phòng chống lũ lụt của Nhật bản, tác giả M.Sugawara. Từ đó đến này mô hình đã được hoàn thiện dần và ứng dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới.

- Ưu điểm: là một trong những mô hình được coi là mô phỏng tốt quá trình dòng chảy trong lưu vực sông.  

- Nhược điểm: có nhiều thông số nhưng chưa có chức năng tự động hiệu chỉnh thông số, do đó yêu cầu người làm mô hình phải có nhiều kinh nghiệm lựa chọn thông số mô hình.

- Khả năng áp dụng: Mô hình tính toán dòng chảy từ các yếu tố khí tượng như lượng mưa, bốc hơi phục vụ cho công tác phục hồi số liệu, bổ sung số liệu, dự báo dòng chảy... dùng cho việc quy hoạch hệ thống thuỷ lợi, tính toán xây dựng các qui trình vận hành hồ chứa nước...

3. Mô hình SSARR: Mô hình SSARR được giới thiệu năm 1958 do nhóm kỹ sư thuộc quân lực Mỹ, tác giả là Rockwood. Đây là một mô hình thủy văn tổng hợp dòng chảy và điều hành hồ chứa, mô hình trình bày chu trình chuyển động tuần hoàn của nước trên lưu vực trong đó dòng chảy được tổng từ mưa và được diễn toán qua hệ thống sông ngòi thuộc lưu vực.

- Ưu điểm: mô hình thể hiện quan hệ mưa - dòng chảy một cách chi tiết, hợp lý. Các yếu tố thuỷ văn được phân tích cho mỗi lưu vực tương đối đồng nhất.

- Nhược điểm: giao diện mô hình chưa tiện ích, có nhiều thông số nhưng chưa có chức năng tự động hiệu chỉnh thông số, do đó yêu cầu người làm mô hình phải có nhiều kinh nghiệm lựa chọn thông số mô hình.

- Khả năng áp dụng: được dùng để tính toán khôi phục dòng chảy từ mưa, tính toán dự báo dòng chảy lũ và vận hành hồ chứa cắt lũ …

* Mô hình tính toán cân bằng nước:

4. Mô hình MITSIM: là một mô hình tính toán cân bằng nước trên một lưu vực do Học viện kỹ thuật Massachusetts (Hoa Kỳ) phát triển. Đây là mô hình mô phỏng, một công cụ để đánh giá, định hướng việc quy hoạch và quản lý một lưu vực sông.

- Ưu điểm: Mô phỏng nhiều phương án phát triển nguồn nước trong thời gian ngắn; cân đối và lựa chọn các phương án với các mục tiêu khai thác nguồn nước khác nhau: Chống lũ, phát điện, tưới…

- Khả năng ứng dụng: mô hình có thể đánh giá các tác động của các phương án khai thác nguồn nước của các hệ thống tưới, hồ chứa (gồm cả nhà máy thuỷ điện), cấp nước sinh hoạt và công nghiệp tại nhiều vị trí khác nhau. Ngoài ra mô hình còn xem xét đến việc khai thác nước ngầm.

5. Mô hình MIKE BASIN: Mô hình MIKE BASIN do Viện thuỷ lực Đan Mạch (ĐHI) xây dựng, là một công cụ tính toán cân bằng giữa nhu cầu về nước và nước có sẵn theo cách tối ưu nhất.

- Ưu điểm: giao diện tiện dụng và thân thiện; là một công cụ mạnh để giải quyết các bài toán cân bằng nước trong quy hoạch phát triển và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước trên các lưu vực sông. 

- Khả năng áp dụng: mô hình được áp dụng rộng rãi để tính toán cân bằng nước trong các dự án quy hoạch phát triển tài nguyên nước, quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước

6. Mô hình WEAP: là một mô hình thủy văn số trợ giúp việc đánh giá và quy hoạch nguồn nước do Viện Môi trường Stockholm phát triển và xây dựng.

- Ưu điểm: là một phần mềm gần như miễn phí (đăng ký và nhận giấy phép sử dụng phần mềm cứ 6 tháng 1 lần, có gia hạn thêm), giao diện dựa trên nền tảng GIS nên rất dễ sử dụng.

- Khả năng áp dụng: mô hình có thể ứng dụng tốt trong điều kiện số liệu sẵn có ở Việt nam.

* Mô hình tính diễn biến dòng chảy trong sông:

7. Mô hình VRSAP:

- Ưu điểm: Thuật toán và tính năng đảm bảo độ ổn định và hội tụ của mô hình. 

- Nhược điểm: Việc áp dụng mô hình tương đối phức tạp, cần nhiều kinh nghiệm xử lý cụ thể, giao diện chưa trực quan và chưa có kết nối GIS. 

- Khả năng áp dụng: Mô hình dựa trên bài toán một chiều nên việc ứng dụng cũng có những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, đây là mô hình thuỷ lực hiện đang được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam cho các dự án quy hoạch thuỷ lợi do các cơ quan trong và ngoài nước thực hiện.

8. Mô hình MIKE 11:

MIKE 11 là một gói phần mềm kỹ thuật chuyên môn để mô phỏng lưu lượng, chất lượng nước và vận chuyển bùn cát ở cửa sông, sông, hệ thống thuỷ lợi, kênh dẫn và các vật thể nước khác. Mô-đun mô hình thủy động lực (HD) là một phần trọng tâm của hệ thống lập mô hình MIKE 11 và hình thành cơ sở cho hầu hết các mô-đun bao gồm: Dự báo lũ, tải khuyếch tán, chất lượng nước và các mô-đun vận chuyển bùn lắng không có cố kết. Mô-đun MIKE11-HD giải các phương trình tổng hợp theo phương đứng để đảm bảo tính liên tục và động lượng (momentum), nghĩa là phương trình Saint Venant.

9. Mô hình MIKE 21: Phần mềm ứng dụng MIKE 21 được phát triển bởi Viện thuỷ lực Đan Mạch. Mô hình 2 chiều lưới thẳng MIKE21 (bao gồm các module thuỷ lực, thuỷ văn, chất lượng nước, vận chuyển bùn cát, vỡ đập...). Hiện nay mô hình đã được chuyển giao, đào tạo và ứng dụng có hiệu quả tại một số cơ quan trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tủy vào từng điều kiện lưu vực khác nhau mà lựa chọn sử dụng mô hình dự báo và hiệu chỉnh thông số cho phù hợp. Ở Việt Nam, các mô hình dự báo trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường chưa nhiều. Mỗi lĩnh vực đặc thù đều áp dụng những công cụ/mô hình riêng, đáp ứng những yêu cầu cụ thể, những mô hình này chủ yếu chỉ áp dụng cho chuyên môn sâu. 

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Cà Mau là gì?

Trả lời:

Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Cà Mau do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia chủ trì thực hiện nhằm đánh giá nguồn nước dưới đất ở vùng dô thị, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho đô thị Cà Mau.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài cụ thể là:

+ Tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3): có diện phân bố nước nhạt lớn, chiếm 46% diện tích thành phố Cà Mau; lưu lượng khai thác của tầng hiện nay khoảng 16.758m3/ngày; tốc độ hạ thấp mực nước (giai đoạn 2004-2015) là 0,46m/năm.

+ Tầng chứa nước Pliocen giữa (n22): nước nhạt phân bố trên toàn vùng thành phố Cà Mau; lưu lượng khai thác của tầng hiện nay khoảng 67.962m3/ngày; tốc độ hạ thấp mực nước (giai đoạn 2004-2015) là 0,79m/năm.

+ Tầng chứa nước Pliocen dưới (n21): có diện phân bố nước nhạt lớn, chiếm 97% diện tích thành phố Cà Mau; lưu lượng khai thác của tầng hiện nay khoảng 2.830m3/ngày; tốc độ hạ thấp mực nước (giai đoạn 2004-2011) là 1,0m/năm.

Riêng đối với tầng chứa nước qp1 do có diện phân bố nước nhạt nhỏ (chiếm 25% diện tích thành phố Cà Mau), thành phần cát hạt mịn, chiều dày biến đổi lớn nên hầu như không có công trình khai thác trong tầng này. Do đó, đề án không đưa tầng chứa nước qp1 vào đối tượng cần bảo vệ.

Phạm vi nghiên cứu:

Như đã trình bày ở trên, đối tượng được lựa chọn để bảo vệ là các tầng chứa nước qp2-3, n22, n21. Đây là các tầng chứa nước đang được khai thác chủ yếu và có tốc độ hạ thấp lớn (>0,3m/năm), trong đó tầng khai thác chính n22 có ranh mặn ở phía nam vùng nghiên cứu (vị trí gần nhất cách thành phố Cà Mau khoảng 2km). Ranh mặn tầng chứa nước n21 ở phía bắc và phía nam cách thành phố Cà Mau khoảng 3-5km. Vùng xung quanh thành phố Cà Mau không có nhà máy khai thác nước tập trung, công suất lớn. Do đó, theo tiêu chí trên đề án mở rộng phạm vi nghiên cứu về phía nam đến ranh mặn tầng chứa nước n22 và n21, mở rộng về phía bắc đến ranh mặn tầng chứa nước n21.

 

bai_5-2bBản đồ phạm vi nghiên cứu đô thị Cà Mau.

Như vậy, phạm vi đề án thực hiện trên diện tích 407,0 km2, bao gồm toàn bộ diện tích thành phố Cà Mau (249,23km2) và phần diện tích 157,77 km2 là khu vực tiếp giáp với thành phố Cà Mau, khu tiếp giáp này thuộc các xã Tân Trung, Tạ An Khương của huyện Đầm Dơi; các xã Lương Thế Trân, Thạnh Phú, Phú Hưng, Tân Hưng của huyện Cái Nước và các xã Tân Lộc, Tân Lộc Đông của huyện Thới Bình.

Phương pháp và nội dung thực hiện công tác địa vật lý sử dụng khi thực hiện Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – Đô thị Quảng Ngãi là gì?

Trả lời:

Công tác Địa Vật lý có nhiệm vụ là xác định chiều sâu, bề dày các tầng chứa nước, vị trí thích hợp để bố trí các lỗ khoan nghiên cứu; chính xác hóa ranh giới mặn nhạt các tầng chứa nước; xác định hướng vận động của nước dưới đất trong vùng nghiên cứu.

Căn cứ vào điều kiện địa hình, đặc điểm địa chất – địa chất thủy văn và mức độ nghiên cứu chi tiết cho các vùng điều tra, đánh giá bảo vệ nước dưới đất, để có tài liệu và cơ sở cho việc lựa chọn vị trí, chiều sâu khoan hợp lý và đánh giá trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất, Đề án lựa chọn các phương pháp sau:

- Phương pháp đo sâu điện đối xứng: thực hiện ở các tuyến nghiên cứu cấu trúc địa chất thủy văn chuẩn, các chùm lỗ khoan vùng ven sông, ranh giới mặn nhạt, vị trí đặt các cặp lỗ khoan và các lỗ khoan đơn. Khoảng cách đo 50-1.000m/điểm, cự ly AB/2 Max = 325m-1000m.

- Phương pháp đo sâu phân cực kích thích: thực hiện ở điểm khoan nghiên cứu địa chất thủy văn xác định ranh giới mặn nhạt, các điểm nghiên cứu nhiễm bẩn nước dưới dất. Khoảng cách đo 50-200m/điểm, cự ly AB/2Max = 325m.

- Phương pháp đo karota lỗ khoan: xác định chính xác cột địa tầng lỗ khoan, xác định mức độ mặn nhạt, nhiễm bẩn theo chiều sâu của các tầng chứa nước nghiên cứu.

Nội dung thực hiện:

- Đối với đo xác định cấu trúc: Căn cứ vào điều kiện trong khu vực hệ thống tuyến đo sâu điện thuần tuý, được đo theo mạng lưới song song để thu thập các thông tin theo diện, với chiều dài dự kiến 3 ÷ 8km/tuyến, khoảng cách tuyến từ 2 ÷ 4km, khoảng cách điểm 200 ÷ 250m. Khối lượng 200 điểm, AB/2max = 150m.

- Đối với đo để xác định vị trí lỗ khoan/chùm lỗ khoan nghiên cứu địa chất thủy văn: Với mỗi vị trí dự kiến đo 30 điểm được bố trí trên 02 tuyến, chiều dài mỗi tuyến khoảng 280m, khoảng cách tuyến khoảng 100 ÷ 200m; khoảng cách điểm 20 ÷ 25m. Khối lượng cho 06 vị trí là 180 điểm, AB/2max = 150m.

- Đối với tuyến đo xác định và chính xác hóa ranh giới mặn - nhạt: đề án thực hiện bố trí 3 tuyến đo bổ sung ở khu vực phía nam đô thị. Tuyến đo có chiều dài dự kiến 2 ÷ 3km/tuyến, khoảng cách tuyến từ 2 ÷ 3km, khoảng cách điểm 200 ÷ 250m, đo đan dày 100m. Khối lượng 40 điểm, AB/2max = 150m.

+ Đối với đo nạp điện xác định hướng và vận tốc dòng chảy nước dưới đất bằng phương pháp thăm dò điện nghiên cứu trường điện hoặc trường từ của đối tượng có độ dẫn điện cao hơn môi trường vây quanh khi cắm một điện cực nạp dòng điện vào đối tượng nghiên cứu, còn điện cực kia ở xa "vô cùng".

Công tác bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đô thị Tuy Hòa giải quyết các vấn đề nào?

Trả lời:

Dự án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” - Đô thị Tuy Hòa do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia ( Bộ Tài nguyên và Môi trường) thực hiện theo Quyết định số 3071/QĐ-BTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phạm vi thực hiện được xác định bao gồm: toàn bộ thành phố Tuy Hòa và một phần các huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa với tổng diện tích 680 km2.

Nhiệm vụ chính của dự án gồm: Xác định được điều kiện tồn tại, sự phân bố, số lượng, chất lượng nước dưới đất; Xác định nguy cơ và mức độ nhiễm mặn, ô nhiễm và cạn kiệt nước dưới đất; Thực hiện một số giải pháp kỹ thuật để bảo vệ nước dưới đất tại đô thị Tuy Hòa.

Trên cơ sở quy định của Luật Tài nguyên nước về bảo vệ tài nguyên nước và các vấn đề thực tế của các đô thị, công tác bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đô thị Tuy Hòa tập trung nghiên cứu để giải quyết các vấn đề chính sau đây:

Khắc phục các vấn đề về cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn của các tầng chứa nước.

- Phân tích dự báo xu thế biến động tài nguyên nước, xác định các vấn đề về khai thác sử dụng từ đó xây dựng và đề xuất các phương án khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất cho đô thị;

- Khoanh định và lập bản đồ vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, đề xuất các phương án hạn chế;

- Đánh giá và phân loại mức độ ô nhiễm đối với từng nguồn nước dưới đất, xây dựng bản đồ phân vùng mức độ ô nhiễm, nhiễm mặn các tầng chứa nước cần bảo vệ;

- Xác định mức độ cạn kiệt nước dưới đất trong từng tầng chứa nước, xác định mực nước giới hạn, đánh giá mức độ cạn kiệt tại các công trình khai thác nước dưới đất theo quy định tại Nghị định số 167/2018/NĐ-CP Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất;

- Xây dựng các phương án hồi phục trữ lượng, chất lượng nước dưới đất đồng thời đưa ra thứ tự ưu tiên thực hiện cho từng vùng.

Bảo vệ chất lượng nước sinh hoạt.

- Phân tích, lựa chọn phương pháp xác định vùng bảo hộ vệ sinh cho các công trình lấy nước sinh hoạt, khoanh định vùng bảo vệ miền cấp cho các tầng chứa nước;

- Khoanh định và lập danh mục vùng bảo hộ vệ sinh cho các công trình lấy nước sinh hoạt.

Quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất.

- Rà soát hiện trạng mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất hiện hữu;

- Thiết kế mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất gồm cả về số lượng, chất lượng nước dưới đất, các hoạt động khai thác và xả thải vào nguồn nước;

- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật xây dựng và vận hành mạng quan trắc nước dưới đất.

Thực hiện các giải pháp công trình.

- Hoàn thiện mạng quan trắc nước dưới đất: kế thừa mạng quan trắc trung ương, địa phương và các công trình thi công của đề án; luận chứng thiết kế mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất cho đô thị;

- Kết quả xác định và khoanh vùng các đới phòng hộ, bảo vệ sau khi hoàn thành sẽ bàn giao cho địa phương để tiến hành cắm mốc, xây dựng biển báo các hoạt động được phép, không được phép trong vùng bảo hộ;

- Đánh giá khả năng bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất: sau khi có kết quả điều tra, khoanh định miền cấp, miền vận động và thoát của nước dưới đất, đánh giá khả năng và xác định ví trí dự kiến xây dựng công trình bổ sung nhân tạo và bàn giao cho địa phương thực hiện.

Có bao nhiêu giải pháp khai thác nước dưới đất bền vững được đề xuất trong nghiên cứu “Xác định giới hạn khai thác hợp lý nước dưới đất qua nghiên cứu sự phục hồi tầng chứa nước trong quá trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác tại tỉnh Thái Bình“

Trả lời:

Theo kết quả tính toán của đề tài Xác định giới hạn khai thác hợp lý nước dưới đất qua nghiên cứu sự phục hồi tầng chứa nước trong quá trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác tại tỉnh Thái Bình“ cho thấy, trữ lượng có thể khai thác bền vững trên địa bàn tỉnh là 172.577 m3/ngày, huyện có trữ lượng có thể khai thác lớn nhất là Quỳnh Phụ với 51.357 m3/ngày, thành phố Thái Bình có trữ lượng thấp nhất là 1.162 m3/ngày. Trong khi đó, tổng lượng nước dưới đất khai thác năm 2011 là 168.494.095 m3/năm thì đến năm 2018 đã giảm xuống, lượng khai thác từ nước ngầm cho các công trình cấp nước tập trung chỉ chiếm 2% tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt. Các huyện, thị như thành phố Thái Bình, Vũ Thư, Tiền Hải, Kiến Xương đã khai thác 100% từ nguồn nước mặt. Vì vậy, có thể nhận thấy nếu so sánh giữa tổng trữ lượng nước có thể khai thác và khối lượng nguồn nước dưới đất khai thác thì hiện trạng khai thác nguồn nước dưới đất ở Thái Bình vẫn nằm trong khung an toàn. Tuy nhiên, không vì lý do đó mà không quan tâm đến vấn đề bảo vệ nước dưới đất nữa. Nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt để ứng phó với nguy cơ thiên tai và sự cố môi trường trước mắt cũng như lâu dài, việc tìm ra các giải pháp khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất bền vững là rất cần thiết. Mặt khác, trên địa bàn tỉnh Thái Bình, hiện có hàng trăm nghìn giếng khoan không còn sử dụng, bị bỏ hoang, chưa được trám lấp, tiềm ẩn nguy cơ lan truyền ô nhiễm, nhiễm mặn giữa các tầng nước. Những chất thải từ các nguồn gây ô nhiễm trên bề mặt theo thời gian sẽ ngấm vào nguồn nước, tích tụ dần làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và sức khỏe người dân. Từ những nguyên nhân đó, đề tài nghiên cứu đã đề xuất 02 nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên nước dưới đất bền vững tại tỉnh Thái Bình là: Giải pháp kỹ thuật và giải pháp chính sách.

Giải pháp về mặt kỹ thuật gồm: Khoanh vùng hạn chế khai thác và đề xuất công nghệ khai thác bền vững. Căn cứ vào đặc điểm các tầng chứa nước và hiện trạng xâm nhập mặn thực tế ở tỉnh, nhóm tác giả đã khoanh định được các khu vực hạn chế khai thác, khu vực bị nhiễm mặn và khu vực được phép khai thác của tầng chứa nước qh2 và qp như sau:

2-1b

- Tầng chứa nước qh2: phân bố ở sát mặt đất và có bề dày nhỏ, do vậy công nghệ khai thác phù hợp với tầng chứa nước này là những giếng khoan nông, hoặc những tuyến thu nước, hành lang thu nước dạng hào, lượng nước có thể khai thác tối đa trong tầng chứa nước này là 101.080 m3/ngày. Khu vực được phép khai thác phân bố rải rác trong toàn bộ tỉnh, tập trung chủ yếu ở huyện Hưng Hà (bao gồm các xã Tân Lễ, Cộng Hòa, Điệp Nông, Dân Chủ, Văn Cẩm, Duyên Hải, thị trấn Hưng Hà...), huyện Vũ Thư và huyện Kiến Xương.

- Tầng chứa nước qp: phần lớn đã bị nhiễm mặn, công nghệ khai thác phù hợp là những lỗ khoan sâu đường kính lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, lượng nước có thể khai thác tối đa trong tầng chứa nước này là 71.497 m3/ngày. Vùng được phép khai thác tập trung chủ yếu ở phía Tây bắc huyện Hưng Hà, phía Đông huyện Quỳnh Phụ và dải dác một vài vùng nhỏ thuộc huyện Đông Hưng và Thái Thụy.

Giải pháp về mặt chính sách: Theo chỉ thị số 25/CT-UBND của UBND tỉnh Thái Bình chủ trương sẽ dừng khai thác nước dưới đất và chuyển sang khai thác nguồn nước mặt. Nguồn nước dưới đất được coi là nguồn nước dự trữ và sẽ được khai thác sử dụng trong trường hợp các nguồn nước mặt gặp sự cố hoặc bị ô nhiễm. Do vậy cần tập trung bảo vệ nguồn nước dưới đất tránh bị ô nhiễm và xâm nhập mặn bằng cách thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Rà soát và trám lấp đúng kỹ thuật các giếng khoan không sử dụng của các hộ gia đình và điểm khai thác nước đơn lẻ để đảm bảo các tầng chứa nước không bị ảnh hưởng bởi các nguồn chất thải trên bề mặt.

- Tăng cường công tác quản lý các nguồn thải do thủy sản và các hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước.

- Xây dựng mạng lưới quan trắc, giám sát chất lượng nước, cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước để quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

- Tuyên truyền giáo dục ý thức của người dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ chất lượng nguồn nước tránh gây ô nhiễm.