Sat10232021

Last update12:17:51 AM GMT

Hỏi - Đáp

Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung thực hiện của dự án “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam” bao gồm những gì?

Trả lời:

Việt Nam là nước có bờ biển dài, trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước thì vai trò kinh tế biển đảo có vị trí đặc biệt quan trọng. Theo suốt tiến trình lịch sử phát triển của đất nước, Nhà nước ta luôn quan quan tâm đến phát triển kinh tế biển đảo nói riêng và đất nước nói chung. Đặc biệt hơn là gắn kết mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển đảo, đảm bảo cuộc sống của nhân dân, Chính phủ ưu tiên đầu tư tìm kiếm, xử lý đảm bảo nguồn nước ngọt cho các đảo. Vì vậy, việc thực hiện giai đoạn II của Đề án 47 với Dự án: “Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam” trên 15 đảo được lựa chọn bởi các Bộ ngành được tiếp tục triển khai thực hiện với nhiệm vụ là đảm bảo cấp nước phục vụ dân sinh - kinh tế, an ninh quốc phòng trên các đảo.

Mục tiêu của dự án:

- Đánh giá được chi tiết về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nước mặt, làm cơ sở cho việc xây dựng công trình cấp nước cho các đảo trên lãnh thổ Việt Nam.

- Tạo lập các thông tin, dữ liệu và đề xuất phương án khai thác, sử dụng nước trên các đảo nghiên cứu.

Nhiệm vụ của dự án:

- Thu thập, tổng hợp xử lý thông tin, dữ liệu có liên quan đến tài nguyên nước gồm: tài liệu về địa hình, địa chất, địa mạo, kinh tế -xã hội, khí tượng thủy văn, địa chất thủy văn, tài nguyên nước, viễn thám

- Điều tra, khảo sát chi tiết ở tỷ lệ 1:25.000 về số lượng, chất lượng nước dưới đất, nước mặt, nước mưa và hiện trạng khai thác, sử dụng nước trên đảo.

- Đo đạc bổ sung về tài nguyên nước gồm các nội dung chủ yếu sau: đo mưa, đo đạc nguồn nước, đo đạc địa vật lý, khoan thăm dò nước dưới đất, lấy mẫu phân tích chất lượng nước.

- Phân tích, đánh giá tài nguyên nước, đề xuất danh mục các giếng khoan thăm dò có lưu lượng, chất lượng nước đáp ứng yêu cầu khai thác để tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.

Nội dung thực hiện của dự án:

- Tổng hợp, phân tích các tài liệu thu thập, xác định các đối tượng điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất;

- Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước trên các đảo, tìm kiếm, phát hiện các khu vực có triển vọng cung cấp nguồn nước dưới đất;

- Đánh giá trữ lượng, chất lượng, tính toán trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác trên các đảo;

- Xác định khu vực có triển vọng, vị trí xây dựng công trình khai thác nước phục vụ cấp nước cho các đảo nghiên cứu, tổng hợp kết quả điều tra.

Tại sao có 7 tầng chứa nước nhưng chỉ lựa chọn tầng n22 là đối tượng bảo vệ tại đô thị Long Xuyên?

Trả lời:

Theo Đề cương Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”, để lựa chọn được đối tượng cẩn bảo vệ thì tầng chứa nước đó phải đáp ứng đủ 5 nguyên tắc đề ra. Cụ thể các nguyên tắc đó là:

- Các tầng chứa nước có các vấn đề về tài nguyên nước dưới đất (cạn kiệt, nhiễm mặn, ô nhiễm, sụt lún).

- Các tầng chứa nước đang khai thác chủ yếu trong vùng;

- Các tầng chứa nước có mức độ chứa nước phong phú, có tiềm năng khai thác lớn.

- Có tốc độ hạ thấp mực nước >0,3m/năm;

- Hiện trạng khai thác vượt quá trữ lượng có thể khai thác.

Áp dụng những nguyên tắc trên cho vùng đô thị Long Xuyên, đối tượng được lựa chọn bảo vệ là tầng chứa nước Pliocen giữa (n22), là do :

- Nước dưới đất ở thành phố Long Xuyên đang xảy ra 2 vấn đề cần bảo vệ là cạn kiệt và nhiễm mặn nước dưới đất, trong đó: Cạn kiệt nước dưới đất chỉ xảy ra đối với tầng chứa nước đang khai thác n22 ; Nhiễm mặn nước dưới đất xảy ra ở tất cả các tầng chứa nước;

- Tầng chứa nước n22 là tầng chứa nước khai thác chủ yếu trong vùng (khoảng 96% tổng lượng khai thác toàn vùng);

7-2bHiện trạng nhiễm mặn và khai thác các tầng chứa nước n22 ở TP. Long Xuyên.

- Các tầng chứa nước nước qh, qp3, qp2-3, qp1 và n21 hầu hết bị mặn, tầng n13 nằm quá sâu và khả năng chứa nước nghèo, các tầng chứa nước này gần như không được khai thác do đó các tầng chứa nước này không chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước dưới đất trong vùng, và cũng không phải là các tầng chứa nước có tiềm năng được định hướng khai thác cho tương lai. Chỉ có tầng n22 với diện tích nước nhạt lớn (diện tích nước nhạt chiếm 92% diện tích phân bố tầng chứa nước), được xác định là tầng chứa nước có triển vọng khai thác và đã được đánh giá trong các nghiên cứu trước đây (Năm 1995, Báo cáo tìm kiếm - đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng Long Xuyên tỉ lệ 1:50.000 đã chỉ ra tầng chứa nước có triển vọng khai thác nước là tầng Pliocen giữa (n22); Năm 2008, Báo cáo Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tỉnh An Giang tỉ lệ 1:50.000 đã xác định tầng chứa nước lỗ hổng n22 có khả năng khai thác lớn, có thể xây dựng các nhà máy nước ngầm công suất lớn hơn 3.000m3/ngày tới 10.000m3/ngày tại một số khu vực ở TP. Long Xuyên, phía nam huyện Chợ Mới).

- Ở TP. Long Xuyên chỉ có 1 công trình quan trắc Q408020 thuộc mạng quan trắc quốc gia, quan trắc trong vùng nước mặn của tầng qp3, kết quả quan trắc mực nước tại công trình này chưa cho thấy có dấu hiệu suy giảm cũng như hạ thấp mực nước quá mức. Công trình này quan trắc trong vùng nước mặn của tầng qp3 do đó chưa phản ánh được diễn biến nước dưới đất do tác động của hoạt động khai thác nước dưới đất.

- Hiện trạng khai thác trong tầng n22 ở TP. Long Xuyên vượt quá trữ lượng có thể khai thác theo kết quả tính trữ lượng có thể khai thác tầng thuộc Dự án: “Biên hội – Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc” đã được phê duyệt.

Như vậy, theo tất cả các nguyên do trên, bảo vệ tầng chứa nước Pliocen giữa (n22) là đối tượng hoàn toàn phù hợp cho vùng đô thị Long Xuyên, để có thể hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra của đề án. 

Tài nguyên nước ngầm đô thị Rạch Giá đang gặp phải những vấn đề nào?

Trả lời:

Các vấn đề về tài nguyên nước ngầm tại đô thị Rạch Giá là nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất; ô nhiễm, nhiễm mặn nước dưới đất và sụt, lún nền đất, nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát và ngày càng trở nên trầm trọng hơn...

1. Cạn kiệt và nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất

Theo kết quả quan trắc tại cụm quan trắc Q401 (TT. Minh Lương, huyện Châu Thành) giai đoạn từ 2013 đến 2018 cho thấy mực nước các tầng chứa nước đều có xu hướng giảm theo thời gian và có thể dẫn đến nguy cơ cạn kiệt: mực nước tầng qp3 hạ thấp trung bình cao nhất khoảng 0,27m/năm; mực nước tầng qp2-3 hạ thấp trung bình cao nhất khoảng 0,30m/năm; tầng qp1 mực nước hạ thấp trung bình cao nhất khoảng 0,30m/năm.

6-2b-1Biểu đồ mực nước theo thời gian tại điểm quan trắc Q401 trong tầng qp2-3

6-2b-2Biểu đồ mực nước theo thời gian tại điểm quan trắc Q401 trong tầng qp1

2. Ô nhiễm nước dưới đất

Theo các tài liệu nghiên cứu trước cho thấy nước dưới đất trên địa bàn chủ yếu xảy ra ô nhiễm dạng điểm. Sự suy giảm chất lượng đã xả ra tại các tầng chứa nước với hàm lượng chủ yếu là sắt và nitrit. Tại các công trình quan trắc của tầng chứa nước qp2-3, qp1 hàm lượng sắt và nitrit đều tăng so với thời điểm bắt đầu quan trắc.

3. Nhiễm mặn nước dưới đất

Tại khu vực nghiên cứu, các tầng chứa nư­ớc qh, n22, n21 nước bị nhiễm mặn hoàn toàn, không có giá trị khai thác và sử dụng cho mục đích ăn uống, sinh hoạt. Tầng chứa nước qp3 có diện phân bố lớn, tuy nhiên nước nhạt có diện tích không lớn, phân bố tập trung trong 1 khoảnh. Tầng chứa nước qp2-3 có diện phân bố rộng, nước nhạt trong tầng chiếm 96% diện tích phân bố tầng và chất lượng tốt. Tầng chứa nước qp1 có diện phân bố rộng, nước nhạt trong tầng chiếm 57% diện tích phân bố tầng và chất lượng tốt.

4. Sụt, lún nền đất

Khu vực đô thị Rạch Giá xảy ra hiện tượng sụt lún nền đất tại các khu đô thị lấn biển. Nguyên nhân chủ yếu là do nền đất toàn là bùn nhão được bơm lên từ biển và phải có thời gian dài nền đất mới ổn định.

Để có thể giải quyết các vấn đề tồn tại trên và bảo vệ các tầng chứa nước tránh khỏi nguy cơ bị nhiễm mặn và suy giảm mực nước, chất lượng nước trên địa bàn thì cần phải tiến hành điều tra, đánh giá, tính toán để đưa ra các phương án khai thác, bảo vệ nguồn nước một cách cụ thể cho toàn bộ khu vực đô thị Rạch Giá, từ đó có thể nghiên cứu chính xác hóa được các ranh giới nước mặn nhạt, sự suy giảm mực nước, chất lượng nước và các nguy cơ ô nhiễm, xâm nhập mặn, ... do các tác động của việc khai nước dưới đất gây ra.

Các phương pháp đánh giá, dự báo mức độ ô nhiễm và tổn thương của tầng chứa nước được áp dụng trong Đề án ‘‘Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Bạc Liêu là gì?

Trả lời:

Năm 2019, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã triển khai thực hiện Đề án ‘‘Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”, trong đó có đô thị Bạc Liêu. Đề án xác định rõ là muốn bảo vệ được nước dưới đất thì phải hiểu rõ khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước; các tác động gây tổn thương cho nước dưới đất, từ đó mới đưa ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ. Vì vậy, để đánh giá được mức độ ô nhiễm và dễ bị tổn thương của các tầng chứa nước tại thành phố Bạc Liêu, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng, đề án đã áp dụng những phương pháp sau:

Phương pháp đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước 

Mức độ tự bảo vệ của nước dưới đất là khả năng chống lại các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất. Mức độ tự bảo vệ của nước phụ thuộc vào đặc điểm địa chất thủy văn của vùng, đặc điểm tính thấm của tầng chứa nước, đặc điểm lớp phủ, đặc điểm bổ cập cho tầng chứa nước...

Có nhiều phương pháp để đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước có thể áp dụng tùy theo điều kiện và số liệu thu thập được của vùng nghiên cứu để áp dụng như phương pháp DRASTIC, phương pháp UNESSCO hoặc các phương pháp khác phù hợp với điều kiện ĐCTV và hiện trạng tài liệu vùng nghiên cứu.

Để đánh giá trong quá trình điều tra chúng ta phải thu thập được các yếu tố sau:

- Mực nước ngầm, mực áp lực của các tầng chứa nước.

- Thành phần đất đá và khả năng thấm của đới thông khí.

- Thành phần đất đá, khả năng lan truyền các chất ô nhiễm của lớp mái tầng chứa nước (các thành tạo địa chất rất nghèo nước) và của tầng chứa nước.

- Quan hệ thủy lực giữa nước mưa, nước mặt với nước dưới đất và giữa các tầng chứa nước liền kề với nhau.

- Yếu tố địa hình, địa mạo.

Phương pháp đánh giá mức độ tổn thương xâm nhập mặn

Để đánh giá mức độ tổn thương của các tầng chứa nước đối với xâm nhập mặn, đề án tính toán theo phương pháp GALDIT. Chỉ số GALDIT được tính toán theo công thức sau:

8-2b-1

Trong đó:

Wi: Trọng số của các chỉ số i

Ri: Điểm số đánh giá cho giá trị của các chỉ số i

Điểm số của các trọng số được xác định dựa trên thang điểm trong bảng sau:8-2b

 Căn cứ kết quả tính toán mức độ tổn thương xâm nhập mặn, đề án tiến hành lập bản đồ phân vùng ô nhiễm, nhiễm mặn nước dưới đất cho các tầng chứa nước bao gồm các vùng:

- Vùng tổn thương: Vùng có chỉ số GALDIT từ 2,5 đến 5,0;

- Vùng tổn thương trung bình: Vùng có chỉ số GALDIT từ 5,0 đến 7,5;

- Vùng tổn thương mạnh: Vùng có chỉ số GALDIT từ 7,5 đến 8,0;

- Vùng không đánh giá: Vùng mặn hoàn toàn.

Phương pháp đánh giá và dự báo mức độ nhiễm mặn nước dưới đất

Đánh giá bằng phương pháp mô hình số (mô hình lan truyền chất - MT3D).

Những vấn đề nổi cộm liên quan đến khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là gì?

Trả lời:

Qua quá trình thực hiện Dự án “Rà soát, điều chỉnh bổ sung các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” và phân tích số liệu, tài liệu, cho thấy một số vấn đề nổi cộm liên quan đến khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn như sau:

- Địa hình toàn tỉnh thuộc vùng cao có địa hình tương đối phức tạp, mức độ phân cắt tương đối lớn, cao độ địa hình biến đổi từ +20m đến trên 1.500m dẫn đến điều kiện đi lại khó khăn, cùng với đó là khí hậu của tỉnh khá khắc nghiệt ảnh hưởng lớn đến việc khai thác sử dụng và quản lý nguồn nước, đời sống sinh hoạt của người dân gặp nhiều khó khăn.

- Tổng trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất trên toàn tỉnh là 528.220,90 m3/ngày, tuy nhiên lại phân bố không đồng đều, hầu hết nước chứa trong các thành tạo chứa nước khe nứt, khe nứt – karst, do vậy, mức độ chứa nước rất không đồng đều dẫn đến việc tìm kiếm, khai thác nguồn nước trở nên khó khăn, cần nguồn kinh phí khá lớn.

- Mạng lưới sông ngòi phân bố không đồng đều, lượng mưa không cân bằng trên cả tỉnh và mùa khô kéo dài đã làm ảnh hưởng đến việc cấp nước ở một số vùng, đặc biệt là các vùng ở núi cao các huyện Lộc Bình, Đình Lập, Bình Gia.

- Trong tương lai, dân số tăng cùng với đó là tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh dẫn tới nhu cầu về nước sạch tăng nhanh và mức độ ô nhiễm nước cao hơn lại càng gây áp lực lớn đến nguồn nước dưới đất tại Lạng Sơn. Theo kết quả tính toán của dự án: “Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, tính đến năm 2030 lượng nước dưới đất cần cung cấp cho các đối tượng sử dụng nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là gần 24,7 triệu m3/năm;

- Cơ sở vật chất, hạ tầng tại các cấp quản lý nguồn nước vẫn đang thiếu hụt, chưa được quan tâm nhiều, số lượng cán bộ còn ít, gây khó khăn trong việc theo dõi, kiểm soát, xử phạt các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước;

- Thông tin về tài nguyên nước và liên quan; vấn đề dự báo tài nguyên nước chưa thực sự được quan tâm một cách đúng mức ở các huyện trên toàn tỉnh. Hầu hết các địa phương chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu tài nguyên nước; chưa có quy chế chia sẻ, trao đổi thông tin. Trong bối cảnh các nguy cơ ô nhiễm tài nguyên nước ngày càng cao; trong các trường hợp khẩn cấp sẽ khó có thể có được cơ chế phối hợp trong các hoạt động xử lý, ứng cứ thích hợp và hiệu quả;

- Năng lực hệ thống quan trắc tài nguyên nước cũng như môi trường nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thưa thớt và còn nhiều hạn chế. Các hệ thống quan trắc hiện tại chưa đồng bộ, gián đoạn đặc biệt là trên các hệ thống sông suối nhỏ trên địa bàn.

Để giải quyết đồng bộ các vấn đề tài nguyên nước của tỉnh Lạng Sơn nêu trên, các cơ quan quản lý tài nguyên nước tại tỉnh và địa phương cần tập trung trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài nguyên nước trong thời gian tới: 

Một là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên nước ở các cấp, đặc biệt là ở địa phương trong công tác giám sát, phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật về Tài nguyên nước;

Hai là, thực hiện đẩy mạnh công tác quản lý, cấp phép trong lĩnh vực Tài nguyên nước theo đúng các quy định hiện hành;

Ba là, tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước phục vụ cung cấp thông tin số liệu chính xác, kịp thời phục vụ công tác quản lý;

Bốn là, nghiên cứu tổ chức triển khai thực hiện một số dự án, đề tài khoa học ưu tiên như thiết lập mạng lưới quan trắc nước dưới đất tỉnh Lạng Sơn, các dự án về tăng cường năng lực, thiết bị, công cụ phục vụ công tác quản lý Tài nguyên nước ở các cấp. Dự án Điều tra đánh giá, khoanh định khu vực, tầng chứa nước có khả năng dự trữ và bổ sung nhân tạo nước dưới đất; khoanh định khu vực phòng hộ vệ sinh và phát triển nguồn nước dưới đất đảm bảo sự phát triển bền vững. 

Nguồn nước sông, hồ trên tỉnh Hà Nam có đặc điểm như thế nào?

Trả lời:

Hà Nam là 1 tỉnh vùng chiêm trũng, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng với địa hình lòng chảo. Hà Nam có mật độ lưới sông trung bình từ 0,5 – 1,2 km/km2; các sông đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Đặc điểm nguồn nước sông:

- Sông Hồng trên lãnh thổ tỉnh Hà Nam có chiều dài 37,8 km chảy qua huyện Duy Tiên và huyện Lý Nhân (ở hữu ngạn) theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Sông có vai trò tưới tiêu quan trọng và tạo nên những bãi bồi màu mỡ với diện tích gần 10.000 ha. Tổng lượng nước sông Hồng chảy qua địa bàn tỉnh là 47,05 tỷ m3, với tiềm năng có thể khai thác từ sông Hồng là 4,7 tỷ m3. Qua số liệu quan trắc định kỳ hàng năm của Sở Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2015-2018 cho thấy chất lượng nước sông Hồng qua tỉnh Hà Nam đang ở mức ô nhiễm nhẹ. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NO2-, NH4+ đều vượt giới hạn cho phép từ 1,3 – 3 lần. Diễn biến nước sông Hồng mức độ ô nhiễm các thông số chất hữu cơ năm 2018 có xu hướng giảm so với các năm trước, tuy nhiên nồng độ các chất vẫn còn cao so với quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

- Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng, trên địa phận tỉnh Hà Nam sông Đáy có chiều dài 47 km chảy qua các huyện Thanh Liêm, TP Phủ Lý và huyện Kim Bảng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Qua số liệu quan trắc định kỳ hàng năm giai đoạn 2015-2018 cho thấy chất lượng nước sông Đáy qua tỉnh Hà Nam đang ở mức ô nhiễm. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NO2-, NH4+ đều vượt giới hạn cho phép từ 1,6-6,7 lần. Diễn biến nước sông Đáy mức độ ô nhiễm các thông số chất hữu cơ năm 2018 có xu hướng giảm so với các năm trước, tuy nhiên nồng độ các chất vẫn còn cao so với quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Chất lượng nước bị ô nhiễm nặng, cần có các biện pháp xử lý.

- Sông Nhuệ là phân lưu bên bờ hữu sông Hồng dẫn nước sông Hồng từ Hà Nội đi vào Hà Nam sau đó đổ vào sông Đáy ở TP Phủ Lý. Sông Nhuệ trong địa phân tỉnh Hà Nam có chiều dài 13 km đi qua TP Phủ Lý và các huyện Duy Tiên và Kim Bảng. Chất lượng nước sông Nhuệ đang ở mức ô nhiễm. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NO2-, NH4+, Coliform đều vượt giới hạn cho phép nhiều lần. Nước sông bị ô nhiễm do chịu tác động từ nguồn nước thải sinh hoạt xả thải trực tiếp ra sông. Nước thải và rác thải xuất hiện nhiều hơn ở những đoạn sông đông dân cư như chợ, trung tâm xã, huyện.

- Sông Châu Giang nằm trọn trong lãnh thổ tỉnh Hà Nam với chiều dài hơn 62,4km. Tại Tiên Phong (Duy Tiên) sông chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và Bình Lục và một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục. Chất lượng nước sông Châu Giang đang ở mức ô nhiễm. Đặc biệt là nồng nộ NH4+ năm 2018 tăng đột biến do các đợt ô nhiễm nước từ Hà Nội đổ về. Nhìn chung nồng độ các chất vẫn còn cao hơn gấp nhiều lần giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Tình trạng nước sông không đạt quy chuẩn để cấp nước sinh hoạt.

- Sông Duy Tiên đi qua địa phận huyện Duy Tiên: từ Bạch Thượng qua đập Phúc ra sông Châu Giang dài 18,3 km, đồng thời là ranh giới tự nhiên giữa huyện Duy Tiên và huyện Phú Xuyên của thành phố Hà Nội. Theo các số liệu quan trắc cho thấy chất lượng nước sông Duy Tiên trong nhiều năm liền đều có đấu hiệu ô nhiễm. Các giá trị thông số đo đạc, phân tích đều vượt ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 08:2015/BTNMT. Nguồn nước sông Duy Tiên bị ô nhiễm phần lớn là do lượng nước từ Hà Nội đổ về. Các nguồn nước thải không qua xử lý hoặc xử lý không đạt chuẩn theo dòng chảy của sông đổ về sông Duy Tiên làm ô nhiễm nguồn nước. Để sông Duy Tiên được cải thiện về chất lượng nước thì cần phải có cơ chế phối hợp giữa ngành tài nguyên môi trường Hà Nội và ngành tài nguyên môi trường Hà Nam chặt chẽ hơn nữa trong vấn đề quản lý xả thải vào nguồn nước.

- Sông Sắt là chi lưu của sông Châu Giang trên địa phận huyện Bình Lục. Sông chảy theo hướng Bắc - Nam, nối từ sông Châu Giang đổ ra Sông Đáy. Sông có chiều dài 10 km trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Chất lượng nước sông Sắt đang ở mức ô nhiễm. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NH4+ đều vượt giới hạn cho phép từ 1,8-8,6 lần. Diễn biến nước sông Sắt mức độ ô nhiễm các thông số chất hữu cơ COD, BOD5, PO43- năm 2018 có xu hướng giảm so với các năm trước.

Đặc điểm nguồn nước hồ.

7-1b

- Hồ chùa Bầu nằm trong khuôn viên của công viên Nguyễn Khuyến (phường Hai Bà Trưng, Hà Nam), một trong những vị trí đắc địa của TP Phủ Lý. Hồ có diện tích khoảng 5ha. Cuối năm 2009, hồ chùa Bầu được cải tạo, xung quanh hồ được có tường kè kiên cố.

Kết quả thu thập thông tin, số liệu quan trắc chất lượng nước và phân tích cho thấy chất lượng nước trên hồ chùa Bầu năm 2018 có 1 vài chỉ tiêu vượt quá giới hạn cho phép. 4/12 mẫu phân tích có nồng độ NH­4+ vượt giới hạn, mẫu vượt cao nhất là 1,41 lần. Nồng độ NO2- dao động từ 0,010 ÷ 0,360 mg/L-N trong đó có 4/12 mẫu vượt giới hạn cho phép, mẫu vượt cao nhất là 7,2 lần. Nguyên nhân của sự ô nhiễm này là do nước thải sinh hoạt của thành phố Phủ Lý chưa được xử lý triệt để thải xuống hồ.

- Hồ Tam Chúc nằm trong khu du lịch quốc gia Tam Chúc thuộc thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng. Hồ Tam Chúc trước đây là một vùng ngập nước đá vôi với diện tích khoảng 500 ha. Số liệu quan trắc chất lượng nước và phân tích cho thấy chất lượng nước trên Hồ Tam Chúc bị ô nhiễm nhẹ. Các chỉ tiêu phân tích đa số đều nằm trong giới hạn cho phép, 1/12 mẫu có nồng độ DO, NO2-, NH4+ vượt giới hạn không đáng kể, từ 1,04-1,48 lần.

Ngoài 2 hồ chính nêu trên, trên địa bàn tỉnh Hà Nam còn có 13 hồ khác là: Hồ Vân sơn, Hồ Nam Trần Hưng Đạo, Hồ Bắc Trần Hưng Đạo, Hồ Vực Kiếu, Hồ Viện Lao, Hồ điều hòa Lam Hạ 1, Hồ điều hòa Lam Hạ 2, Hồ điều hòa Quang Trung và Hồ Minh Khôi, Hồ Ngũ Cố, Hồ Trứng, Ao Dong, Hồ Nam Công. Các hồ đều có chức năng điều hòa, tạo cảnh quan đô thị, phân bố tại thành phố Phủ Lý (9 hồ), huyện Kim Bảng (3 hồ), huyện Thanh Liêm (1 hồ). Tất cả các hồ chứa nước đều có chức năng nguồn nước là điều hòa, tạo cảnh quan môi trường.

Tóm lại, trên hầu hết các sông, hồ tỉnh Hà Nam nhiều thông số chất lượng nước đã vượt giới hạn cho phép, chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ. Mặt khác, tình trạng lấn chiếm bờ sông, bờ suối, san lấp ao, hồ trái phép để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở,... chưa được quản lý chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấn chiếm sống suối, ao hồ diễn ra phổ biến từ nhiều năm qua. Vì lẽ đó, lập hành lang bảo vệ nguồn nước sông, hồ là việc cần phải làm. Điều đó góp phần quan trọng bảo vệ nguồn nước; phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam.