Tue04202021

Last update06:30:44 AM GMT

Hỏi - Đáp

Các phương pháp đánh giá, dự báo mức độ ô nhiễm và tổn thương của tầng chứa nước được áp dụng trong Đề án ‘‘Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Bạc Liêu là gì?

Trả lời:

Năm 2019, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã triển khai thực hiện Đề án ‘‘Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”, trong đó có đô thị Bạc Liêu. Đề án xác định rõ là muốn bảo vệ được nước dưới đất thì phải hiểu rõ khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước; các tác động gây tổn thương cho nước dưới đất, từ đó mới đưa ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ. Vì vậy, để đánh giá được mức độ ô nhiễm và dễ bị tổn thương của các tầng chứa nước tại thành phố Bạc Liêu, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng, đề án đã áp dụng những phương pháp sau:

Phương pháp đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước 

Mức độ tự bảo vệ của nước dưới đất là khả năng chống lại các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất. Mức độ tự bảo vệ của nước phụ thuộc vào đặc điểm địa chất thủy văn của vùng, đặc điểm tính thấm của tầng chứa nước, đặc điểm lớp phủ, đặc điểm bổ cập cho tầng chứa nước...

Có nhiều phương pháp để đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nước có thể áp dụng tùy theo điều kiện và số liệu thu thập được của vùng nghiên cứu để áp dụng như phương pháp DRASTIC, phương pháp UNESSCO hoặc các phương pháp khác phù hợp với điều kiện ĐCTV và hiện trạng tài liệu vùng nghiên cứu.

Để đánh giá trong quá trình điều tra chúng ta phải thu thập được các yếu tố sau:

- Mực nước ngầm, mực áp lực của các tầng chứa nước.

- Thành phần đất đá và khả năng thấm của đới thông khí.

- Thành phần đất đá, khả năng lan truyền các chất ô nhiễm của lớp mái tầng chứa nước (các thành tạo địa chất rất nghèo nước) và của tầng chứa nước.

- Quan hệ thủy lực giữa nước mưa, nước mặt với nước dưới đất và giữa các tầng chứa nước liền kề với nhau.

- Yếu tố địa hình, địa mạo.

Phương pháp đánh giá mức độ tổn thương xâm nhập mặn

Để đánh giá mức độ tổn thương của các tầng chứa nước đối với xâm nhập mặn, đề án tính toán theo phương pháp GALDIT. Chỉ số GALDIT được tính toán theo công thức sau:

8-2b-1

Trong đó:

Wi: Trọng số của các chỉ số i

Ri: Điểm số đánh giá cho giá trị của các chỉ số i

Điểm số của các trọng số được xác định dựa trên thang điểm trong bảng sau:8-2b

 Căn cứ kết quả tính toán mức độ tổn thương xâm nhập mặn, đề án tiến hành lập bản đồ phân vùng ô nhiễm, nhiễm mặn nước dưới đất cho các tầng chứa nước bao gồm các vùng:

- Vùng tổn thương: Vùng có chỉ số GALDIT từ 2,5 đến 5,0;

- Vùng tổn thương trung bình: Vùng có chỉ số GALDIT từ 5,0 đến 7,5;

- Vùng tổn thương mạnh: Vùng có chỉ số GALDIT từ 7,5 đến 8,0;

- Vùng không đánh giá: Vùng mặn hoàn toàn.

Phương pháp đánh giá và dự báo mức độ nhiễm mặn nước dưới đất

Đánh giá bằng phương pháp mô hình số (mô hình lan truyền chất - MT3D).

Những vấn đề nổi cộm liên quan đến khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là gì?

Trả lời:

Qua quá trình thực hiện Dự án “Rà soát, điều chỉnh bổ sung các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” và phân tích số liệu, tài liệu, cho thấy một số vấn đề nổi cộm liên quan đến khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn như sau:

- Địa hình toàn tỉnh thuộc vùng cao có địa hình tương đối phức tạp, mức độ phân cắt tương đối lớn, cao độ địa hình biến đổi từ +20m đến trên 1.500m dẫn đến điều kiện đi lại khó khăn, cùng với đó là khí hậu của tỉnh khá khắc nghiệt ảnh hưởng lớn đến việc khai thác sử dụng và quản lý nguồn nước, đời sống sinh hoạt của người dân gặp nhiều khó khăn.

- Tổng trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất trên toàn tỉnh là 528.220,90 m3/ngày, tuy nhiên lại phân bố không đồng đều, hầu hết nước chứa trong các thành tạo chứa nước khe nứt, khe nứt – karst, do vậy, mức độ chứa nước rất không đồng đều dẫn đến việc tìm kiếm, khai thác nguồn nước trở nên khó khăn, cần nguồn kinh phí khá lớn.

- Mạng lưới sông ngòi phân bố không đồng đều, lượng mưa không cân bằng trên cả tỉnh và mùa khô kéo dài đã làm ảnh hưởng đến việc cấp nước ở một số vùng, đặc biệt là các vùng ở núi cao các huyện Lộc Bình, Đình Lập, Bình Gia.

- Trong tương lai, dân số tăng cùng với đó là tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh dẫn tới nhu cầu về nước sạch tăng nhanh và mức độ ô nhiễm nước cao hơn lại càng gây áp lực lớn đến nguồn nước dưới đất tại Lạng Sơn. Theo kết quả tính toán của dự án: “Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, tính đến năm 2030 lượng nước dưới đất cần cung cấp cho các đối tượng sử dụng nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là gần 24,7 triệu m3/năm;

- Cơ sở vật chất, hạ tầng tại các cấp quản lý nguồn nước vẫn đang thiếu hụt, chưa được quan tâm nhiều, số lượng cán bộ còn ít, gây khó khăn trong việc theo dõi, kiểm soát, xử phạt các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước;

- Thông tin về tài nguyên nước và liên quan; vấn đề dự báo tài nguyên nước chưa thực sự được quan tâm một cách đúng mức ở các huyện trên toàn tỉnh. Hầu hết các địa phương chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu tài nguyên nước; chưa có quy chế chia sẻ, trao đổi thông tin. Trong bối cảnh các nguy cơ ô nhiễm tài nguyên nước ngày càng cao; trong các trường hợp khẩn cấp sẽ khó có thể có được cơ chế phối hợp trong các hoạt động xử lý, ứng cứ thích hợp và hiệu quả;

- Năng lực hệ thống quan trắc tài nguyên nước cũng như môi trường nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thưa thớt và còn nhiều hạn chế. Các hệ thống quan trắc hiện tại chưa đồng bộ, gián đoạn đặc biệt là trên các hệ thống sông suối nhỏ trên địa bàn.

Để giải quyết đồng bộ các vấn đề tài nguyên nước của tỉnh Lạng Sơn nêu trên, các cơ quan quản lý tài nguyên nước tại tỉnh và địa phương cần tập trung trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài nguyên nước trong thời gian tới: 

Một là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên nước ở các cấp, đặc biệt là ở địa phương trong công tác giám sát, phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật về Tài nguyên nước;

Hai là, thực hiện đẩy mạnh công tác quản lý, cấp phép trong lĩnh vực Tài nguyên nước theo đúng các quy định hiện hành;

Ba là, tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước phục vụ cung cấp thông tin số liệu chính xác, kịp thời phục vụ công tác quản lý;

Bốn là, nghiên cứu tổ chức triển khai thực hiện một số dự án, đề tài khoa học ưu tiên như thiết lập mạng lưới quan trắc nước dưới đất tỉnh Lạng Sơn, các dự án về tăng cường năng lực, thiết bị, công cụ phục vụ công tác quản lý Tài nguyên nước ở các cấp. Dự án Điều tra đánh giá, khoanh định khu vực, tầng chứa nước có khả năng dự trữ và bổ sung nhân tạo nước dưới đất; khoanh định khu vực phòng hộ vệ sinh và phát triển nguồn nước dưới đất đảm bảo sự phát triển bền vững. 

Nguồn nước sông, hồ trên tỉnh Hà Nam có đặc điểm như thế nào?

Trả lời:

Hà Nam là 1 tỉnh vùng chiêm trũng, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng với địa hình lòng chảo. Hà Nam có mật độ lưới sông trung bình từ 0,5 – 1,2 km/km2; các sông đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Đặc điểm nguồn nước sông:

- Sông Hồng trên lãnh thổ tỉnh Hà Nam có chiều dài 37,8 km chảy qua huyện Duy Tiên và huyện Lý Nhân (ở hữu ngạn) theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Sông có vai trò tưới tiêu quan trọng và tạo nên những bãi bồi màu mỡ với diện tích gần 10.000 ha. Tổng lượng nước sông Hồng chảy qua địa bàn tỉnh là 47,05 tỷ m3, với tiềm năng có thể khai thác từ sông Hồng là 4,7 tỷ m3. Qua số liệu quan trắc định kỳ hàng năm của Sở Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2015-2018 cho thấy chất lượng nước sông Hồng qua tỉnh Hà Nam đang ở mức ô nhiễm nhẹ. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NO2-, NH4+ đều vượt giới hạn cho phép từ 1,3 – 3 lần. Diễn biến nước sông Hồng mức độ ô nhiễm các thông số chất hữu cơ năm 2018 có xu hướng giảm so với các năm trước, tuy nhiên nồng độ các chất vẫn còn cao so với quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

- Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng, trên địa phận tỉnh Hà Nam sông Đáy có chiều dài 47 km chảy qua các huyện Thanh Liêm, TP Phủ Lý và huyện Kim Bảng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Qua số liệu quan trắc định kỳ hàng năm giai đoạn 2015-2018 cho thấy chất lượng nước sông Đáy qua tỉnh Hà Nam đang ở mức ô nhiễm. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NO2-, NH4+ đều vượt giới hạn cho phép từ 1,6-6,7 lần. Diễn biến nước sông Đáy mức độ ô nhiễm các thông số chất hữu cơ năm 2018 có xu hướng giảm so với các năm trước, tuy nhiên nồng độ các chất vẫn còn cao so với quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Chất lượng nước bị ô nhiễm nặng, cần có các biện pháp xử lý.

- Sông Nhuệ là phân lưu bên bờ hữu sông Hồng dẫn nước sông Hồng từ Hà Nội đi vào Hà Nam sau đó đổ vào sông Đáy ở TP Phủ Lý. Sông Nhuệ trong địa phân tỉnh Hà Nam có chiều dài 13 km đi qua TP Phủ Lý và các huyện Duy Tiên và Kim Bảng. Chất lượng nước sông Nhuệ đang ở mức ô nhiễm. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NO2-, NH4+, Coliform đều vượt giới hạn cho phép nhiều lần. Nước sông bị ô nhiễm do chịu tác động từ nguồn nước thải sinh hoạt xả thải trực tiếp ra sông. Nước thải và rác thải xuất hiện nhiều hơn ở những đoạn sông đông dân cư như chợ, trung tâm xã, huyện.

- Sông Châu Giang nằm trọn trong lãnh thổ tỉnh Hà Nam với chiều dài hơn 62,4km. Tại Tiên Phong (Duy Tiên) sông chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và Bình Lục và một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục. Chất lượng nước sông Châu Giang đang ở mức ô nhiễm. Đặc biệt là nồng nộ NH4+ năm 2018 tăng đột biến do các đợt ô nhiễm nước từ Hà Nội đổ về. Nhìn chung nồng độ các chất vẫn còn cao hơn gấp nhiều lần giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Tình trạng nước sông không đạt quy chuẩn để cấp nước sinh hoạt.

- Sông Duy Tiên đi qua địa phận huyện Duy Tiên: từ Bạch Thượng qua đập Phúc ra sông Châu Giang dài 18,3 km, đồng thời là ranh giới tự nhiên giữa huyện Duy Tiên và huyện Phú Xuyên của thành phố Hà Nội. Theo các số liệu quan trắc cho thấy chất lượng nước sông Duy Tiên trong nhiều năm liền đều có đấu hiệu ô nhiễm. Các giá trị thông số đo đạc, phân tích đều vượt ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 08:2015/BTNMT. Nguồn nước sông Duy Tiên bị ô nhiễm phần lớn là do lượng nước từ Hà Nội đổ về. Các nguồn nước thải không qua xử lý hoặc xử lý không đạt chuẩn theo dòng chảy của sông đổ về sông Duy Tiên làm ô nhiễm nguồn nước. Để sông Duy Tiên được cải thiện về chất lượng nước thì cần phải có cơ chế phối hợp giữa ngành tài nguyên môi trường Hà Nội và ngành tài nguyên môi trường Hà Nam chặt chẽ hơn nữa trong vấn đề quản lý xả thải vào nguồn nước.

- Sông Sắt là chi lưu của sông Châu Giang trên địa phận huyện Bình Lục. Sông chảy theo hướng Bắc - Nam, nối từ sông Châu Giang đổ ra Sông Đáy. Sông có chiều dài 10 km trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Chất lượng nước sông Sắt đang ở mức ô nhiễm. Kết quả phân tích chất lượng nước năm 2018: nồng độ BOD5, COD, NH4+ đều vượt giới hạn cho phép từ 1,8-8,6 lần. Diễn biến nước sông Sắt mức độ ô nhiễm các thông số chất hữu cơ COD, BOD5, PO43- năm 2018 có xu hướng giảm so với các năm trước.

Đặc điểm nguồn nước hồ.

7-1b

- Hồ chùa Bầu nằm trong khuôn viên của công viên Nguyễn Khuyến (phường Hai Bà Trưng, Hà Nam), một trong những vị trí đắc địa của TP Phủ Lý. Hồ có diện tích khoảng 5ha. Cuối năm 2009, hồ chùa Bầu được cải tạo, xung quanh hồ được có tường kè kiên cố.

Kết quả thu thập thông tin, số liệu quan trắc chất lượng nước và phân tích cho thấy chất lượng nước trên hồ chùa Bầu năm 2018 có 1 vài chỉ tiêu vượt quá giới hạn cho phép. 4/12 mẫu phân tích có nồng độ NH­4+ vượt giới hạn, mẫu vượt cao nhất là 1,41 lần. Nồng độ NO2- dao động từ 0,010 ÷ 0,360 mg/L-N trong đó có 4/12 mẫu vượt giới hạn cho phép, mẫu vượt cao nhất là 7,2 lần. Nguyên nhân của sự ô nhiễm này là do nước thải sinh hoạt của thành phố Phủ Lý chưa được xử lý triệt để thải xuống hồ.

- Hồ Tam Chúc nằm trong khu du lịch quốc gia Tam Chúc thuộc thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng. Hồ Tam Chúc trước đây là một vùng ngập nước đá vôi với diện tích khoảng 500 ha. Số liệu quan trắc chất lượng nước và phân tích cho thấy chất lượng nước trên Hồ Tam Chúc bị ô nhiễm nhẹ. Các chỉ tiêu phân tích đa số đều nằm trong giới hạn cho phép, 1/12 mẫu có nồng độ DO, NO2-, NH4+ vượt giới hạn không đáng kể, từ 1,04-1,48 lần.

Ngoài 2 hồ chính nêu trên, trên địa bàn tỉnh Hà Nam còn có 13 hồ khác là: Hồ Vân sơn, Hồ Nam Trần Hưng Đạo, Hồ Bắc Trần Hưng Đạo, Hồ Vực Kiếu, Hồ Viện Lao, Hồ điều hòa Lam Hạ 1, Hồ điều hòa Lam Hạ 2, Hồ điều hòa Quang Trung và Hồ Minh Khôi, Hồ Ngũ Cố, Hồ Trứng, Ao Dong, Hồ Nam Công. Các hồ đều có chức năng điều hòa, tạo cảnh quan đô thị, phân bố tại thành phố Phủ Lý (9 hồ), huyện Kim Bảng (3 hồ), huyện Thanh Liêm (1 hồ). Tất cả các hồ chứa nước đều có chức năng nguồn nước là điều hòa, tạo cảnh quan môi trường.

Tóm lại, trên hầu hết các sông, hồ tỉnh Hà Nam nhiều thông số chất lượng nước đã vượt giới hạn cho phép, chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ. Mặt khác, tình trạng lấn chiếm bờ sông, bờ suối, san lấp ao, hồ trái phép để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở,... chưa được quản lý chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấn chiếm sống suối, ao hồ diễn ra phổ biến từ nhiều năm qua. Vì lẽ đó, lập hành lang bảo vệ nguồn nước sông, hồ là việc cần phải làm. Điều đó góp phần quan trọng bảo vệ nguồn nước; phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam.

Xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long: Đâu là yếu tố quyết định?

Trả lời:

Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn diễn ra ngày càng nghiêm trọng, làm thiệt hại nặng nề đến sản xuất và dân sinh. Tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không chỉ nguồn nước mặt bị nhiễm mặn mà nguồn nước dưới đất cũng đã có dấu hiệu bị xâm nhập mặn. Vậy đâu là yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng ĐBSCL?

Để trả lời được câu hỏi trên, kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long” được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia hoàn thành thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020, do TS. Hoàng Văn Hoan chủ nhiệm đã xác định được các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long như sau:

- Yếu tố biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá đã chỉ ra, có 4 tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến tài nguyên nước dưới đất gồm: 1) Làm giảm cao độ tuyệt đối mực nước dưới đất (hình thành các phễu hạ thấp mực nước); 2) Làm tăng diện tích vùng có trị số hạ thấp mực nước dưới đất; 3) Làm tăng diện tích vùng chứa nước dưới đất mặn tăng; và 4) Làm giảm tổng lượng tích trữ nước dưới đất.

- Yếu tố thấm xuyên: Nước dưới đất trong các tầng chứa nước trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có xảy ra quá trình dịch chuyển vật chất do thấm xuyên gây ra. Các quá trình này do đặc điểm địa chất thủy văn của vùng với các tầng chứa nước nằm xen kẹp và theo thứ tự từ trên xuống. Mực nước, mực áp lực có đủ điều kiện để quá trình thấm xuyên xảy ra. Đặc điểm địa chất của vùng có các cửa sổ địa chất thủy văn, chiều dày của lớp cách nước giữa cách tầng chứa nước. Bằng kết quả chứng minh từ mẫu phân tích đồng vị đã chứng minh được nước dưới đất trong vùng có thấm xuyên diễn ra từ tầng này sang tầng khác. Tầng chứa nước trong vùng có điều kiện địa chất thủy văn bao gồm cả cửa sổ địa chất thủy văn do địa chất, do quá trình kiến tạo liên quan đến hoạt động của các đứt gãy trẻ trong vùng, qua sự phân bố và độ dày, sự có mặt của các lớp cách nước yếu là những con đường của nước dưới đất có thể thấm xuyên từ tầng chứa nước này qua tầng chứa nước khác cả 2 chiều từ tầng trên xuống tầng dưới và từ tầng dưới lên tầng trên. Kết quả xử lý tài liệu bơm hút nước thí nghiệm chùm tại khu vực bán đảo Cà Mau đã cho thấy yếu tố thấm xuyên xảy ra ở đay rất rõ nét, kết quả xử lý số liệu qua phần mềm Aquifer test với hệ số thấm xuyên trung bình đạt tới 221 m. Bên cạnh đó, Bằng kết quả nghiên cứu về tuổi của nước dưới đất, chuyên đề đã chứng minh được quá trình thấm xuyên có xảy ra trong các tầng chứa nước khi khai thác hình thành một nguồn trữ lượng khai thác đáng kể.

- Yếu tố vận động của dòng ngầm: Kết quả mô hình mô phỏng và dự báo quá trình biến đổi mặn nhạt của các tầng chứa nước dưới đất được thực hiện dựa trên cơ sở của mô hình dòng chảy nước dưới đất vùng ĐBSCL cho thấy xu hướng tăng TDS hay mặn hóa các tầng chứa nước chiếm ưu thế gần như tuyệt đối, cho thấy yếu tố vận động của dòng ngầm gây ra bởi các hoạt động khai thác nước dưới đất đóng vai trò quan trọng và chủ đạo trong các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long.

Việt Nam là quốc gia có trên 3000 km bờ biển, tập trung hàng triệu người sinh sống và khai thác các nguồn lợi từ biển. Xâm nhập mặn diễn ra tại hầu hết các địa phương ven biển. Đồng bằng sông Cửu Long là nơi chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng này. Nhiều giải pháp đã được đưa ra, phần nào hạn chế được tình trạng xâm nhập mặn nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp thì trong thời gian tới, hiện tượng xâm nhập mặn vẫn là mối đe dọa lớn đến đời sống khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lương thực của cả nước.

Các giải pháp giảm thiểu sụt lún đất tại núi Móng Rồng, tỉnh Hà Nam?

Trả lời:

Sụt lún nền đất đang làm cho nhiều người dân tại khu vực núi Móng Rồng hết sức lo lắng do nhà ở bị nứt, nền nhà, nhà bị lún nghiêng. Để ngăn chặn tình trạng này việc tìm ra các giải pháp giảm thiểu sụt lún đất tại khu vực càng trở nên cần thiết.

Theo kết quả điều tra, khảo sát của đề án “Khảo sát, đánh giá nguyên nhân sụt lún tại núi Móng Rồng tiểu khu La Mát, tiểu khu Châu Giang, thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” nguyên nhân gây sụt lún là do các yếu tố tự nhiên (Đá vôi nứt nẻ, phát triển hang động karst) hoạt động mạnh và ảnh hưởng của việc khai thác nước dưới đất tại các giếng của Công ty Tân Phát Nam Hà.

Trước nguy cơ sụt lún nền đất đang ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người dân, đề án đã đề xuất một số giải pháp, phương án khắc phục, phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại tại khu vực như sau: 

- Đối với các công trình mà địa phương quy hoạch hoặc cấp phép cho xây dựng có tải trọng lớn trên vùng này thì khuyến cáo nên phun trám lấp bê tông xi măng vào các vị trí hang đã được tài liệu điều tra để tránh sụt lún tiếp diễn.

- Đối với các giếng khai thác nước dưới đất của Công ty Tân phát Nam Hà thì địa phương có thể cho phép Công ty khai thác theo công suất thiết kế, và có chế độ khai thác phù hợp, nhưng phải trám lấp các hang các tơ, đới xung yếu nói trên bằng dung dịch xi măng, bê tông để tăng sức chịu tải của nền móng công trình và công ty phải có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ tình hình sụt lún trong quá trình khai thác, nếu có hiện tượng sụt lún thì phải dừng ngay.

- Địa phương thường xuyên theo dõi các quá trình diễn biến sụt lún nên đất, nứt tường nhà và các hiện tượng khác để có các giải pháp xử lý kịp thời;

- Nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác nước dưới đất tại các khu vực có nguy cơ cao về sụt lún theo kết quả địa vật lý đã chỉ ra là: vùng 1 phân bố tại phía Bắc khu vực nghiên cứu, phát triển ở độ sâu từ 25 đến 60m; vùng 2 phân bố từ đầu tiểu khu La Mát đến tiểu khu Châu Giang, đây là trung tâm sụt lún tại khu vực nghiên cứu, vùng này phát triển từ độ sâu từ 10 đến 70m; vùng 3 phân bố ở phía Nam khu vực nghiên cứu thuộc tiểu khu Châu Gang, phát triển tại độ sâu từ 45 đến 60m.

- Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước của địa phương cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc khai thác nước dưới đất, việc tuân thủ các quy định của giấy phép khai thác nước, các quy định của luật Tài nguyên nước. Tổ chức xây dựng mạng quan trắc để giám sát tình hình khai thác, biến đổi mực nước, sụt lún đất trong vùng.

Tóm lại, do đây là khu vực có tiềm năng cao về sụt lún, nên dù có tiếp tục hay không tiếp tục khai thác nước ngầm tại các giếng của Công ty Tân Phát Nam Hà hoặc không xây dựng các công trình có tải trọng lớn vì rất có thể khi đó vẫn gây nên mất hiện trạng cân bằng tải trọng tạm thời hiện nay. Vì vậy, nếu có kế hoạch quản lý tốt việc khai thác nước dưới đất thì tình trạng sụt lún nền đất có thể được giảm thiểu. Đồng thời, các cơ quan quản lý cũng như các sở ban ngành tại địa phương cần có kế hoạch khảo sát, đánh giá chi tiết tại khu vực trên để kịp thời giải quyết đảm bảo an toàn cho người dân và tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra.

Những khó khăn, thách thức phải đối mặt khi điều tra, tìm kiếm nguồn nước trên đảo Hòn Tre?

Trả lời:

4-1bDự án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam" – đảo Hòn Tre sau gần 2 năm thi công (9/2012 - 7/2014) đã hoàn thành. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, đánh giá cũng như khai thác, vận hành các công trình này, còn gặp không ít những trở ngại.

 

Các khó khăn chính khi thực hiện dự án đó là: 

- Đảo xa đất liền nên điều kiện thi công gặp nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển, cung cấp vật tư thiết bị.

- Cấu tạo các đảo đều là đảo đá, độ dốc lớn, đường giao thông trên đảo chưa phát triển, chất lượng đường nhiều chỗ rất kém nên việc vận chuyển, đi lại trên đảo từ vị trí này đến vị trí khác rất khó khăn.

- Về mùa khô, nước trên đảo cực kỳ khan hiếm, nước sinh hoạt người dân phải mua nước chở ra từ đất liền với giá rất cao, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của các tổ thi công. Vì vậy để có nước cho thi công và sinh hoạt của công nhân, đề nghị cho phép thi công khoan trong mùa mưa để giảm chi phí.

- Thêm vào đó, việc tìm kiếm được các nguồn nước dưới đất, lưu giữ được dưới các tầng đá cũng vô cùng khó. Trong 6 lỗ khoan thăm dò chỉ có 2 lỗ khoan tìm thấy nước ngầm, có nghĩa là tỷ lệ rủi ro rất lớn, trong khi yêu cầu cao (phải có nước mới đảm bảo được).

Ngoài những khó khăn trên, đồng thời dự án cũng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn:

- Trên đảo không có tài nguyên nước mặt do đó yêu cầu phải có được thông tin toàn diện về tiềm năng nước dưới đất, để có thể đáp ứng tốt những yêu cầu này đơn vị thực hiện phải có đủ nguồn lực về con người cũng như trang thiết bị.

- 2 lỗ khoan cấp nước sau khi kết thúc thời gian quan trắc đều bàn giao cho địa phương quản lý nhưng chưa hiệu quả như mong đợi. Vì vậy, đề nghị mỗi vị trí khoan cần gắn với một đơn vị cụ thể nào đó (ví dụ UBND, cơ quan, trường học), để khi lỗ khoan có nước, Nhà nước cấp kinh phí lắp đặt công tác khai dẫn và bàn giao tay 3 (gồm địa phương, cơ quan và đơn vị thi công) để cơ quan đó quản lý, sử dụng và mang lại hiệu quả cao nhất phục vụ mục đích cộng đồng.

Trong điều kiện kinh phí hạn chế nhưng phải đầu tư nghiên cứu giải quyết nhiều vấn đề sẽ là khó khăn cho các đơn vị thực hiện. Để có kết quả tốt phải triển khai một cách bài bản, làm tới đâu chắc tới đó. Việc tìm kiếm ra nguồn nước phục vụ cho người dân trên đảo có ý nghĩa rất lớn trong việc ổn định đời sống nhân dân trên đảo Hòn Tre và củng cố tinh thần đoàn kết giữa nhân dân với lực lượng an ninh, quốc phòng trên đảo nhằm mục đích bảo vệ bình yên vùng biển đảo của Tổ quốc