Sun01232022

Last update06:35:23 AM GMT

Hỏi - Đáp

Nêu những quan điểm chính xây dựng Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Srêpôk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 mà Bộ TN&MT trình Chính phủ phê duyệt?

Trả lời:

Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Srêpôk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được xây dựng dựa trên 6 quan điểm mang tính cốt lõi và định hướng là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nước bền vững:

- Bảo đảm quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở thống nhất quản lý về tài nguyên nước, do cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước chịu trách nhiệm điều phối chung; bảo đảm tính liên kết, thống nhất, hài hòa về lợi ích sử dụng nước giữa thượng lưu và hạ lưu, giữa các địa phương và các đối tượng sử dụng nước;

- Bảo đảm tính toàn diện, gắn kết giữa nước mặt với nước dưới đất, giữa khai thác, sử dụng nước, bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra;

- Bảo đảm tính khả thi, phù hợp với nền tảng kỹ thuật và nguồn lực hiện có, đồng thời phải có tính linh hoạt, đáp ứng phương thức quản lý, đầu tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và phòng, chống các tác hại do nước gây ra;

- Bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trên cơ sở khai thác, sử dụng, bảo vệ có hiệu quả nguồn nước; bảo đảm công bằng, hợp lý trong khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển nguồn nước liên quốc gia trên nguyên tắc bảo đảm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia nhằm đạt được việc sử dụng tối ưu, bền vững lợi ích do nguồn nước mang lại đồng thời tạo cơ sở hợp tác, chia sẻ thông tin, dữ liệu nguồn nước liên quốc gia.

- Bảo đảm khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với khả năng nguồn nước, tôn trọng quy luật tự nhiên, điều kiện thực tế, không gây suy thoái, cạn kiệt nguồn nước;

- Bảo đảm tính kế thừa, khai thác, sử dụng hiệu quả hệ thống hạ tầng kỹ thuật tài nguyên nước, nhất là các hồ chứa, đập trữ nước, điều tiết nước. Các quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành có khai thác, sử dụng nước và việc xây dựng các công trình khai thác, sử dụng nước, điều tiết nguồn nước phải phù hợp với quy hoạch tổng hợp lưu vực sông.

Sau khi được phê duyệt, việc thực hiện Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Srêpôk sẽ góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương thuộc lưu vực; đồng thời, quy hoạch này cũng là cơ sở, định hướng để triển khai các quy hoạch khác trên địa bàn các tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng.

Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng – Thái Bình: Công tác thu thập tài liệu đang gặp phải khó khăn gì?

Trả lời:

Trong giai đoạn Lập Nhiệm vụ Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng-Thái Bình, một số tài liệu đã được thu thập nhằm xác định các vấn đề về tài nguyên nước và các nội dung Quy hoạch. Tuy nhiên, trong giai đoạn Lập Quy hoạch cần thiết phải thu thập bổ sung tài liệu.

Việc thu thập bổ sung tài liệu trong giai đọan Lập Quy hoạch nhằm có được thông tin chi tiết về đặc điểm nguồn nước, hiện trạng sử dụng nước, nhu cầu sử dụng nước để đáp ứng kế hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và ổn định đời sống trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình.

Về các nguồn tài liệu trên địa phận Việt Nam đều có chất lượng tốt, đáng tin cậy. Các số liệu khí tượng thủy văn đã được chỉnh biên, kiểm tra độ chính xác hợp lý, đảm bảo được yêu cầu chất lượng, sử dụng được trong phân tích tính toán thuỷ văn phục vụ cho việc xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn điều hành cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng. 

Tuy nhiên, gần ½ diện tích lưu vực sông Hồng – Thái Bình nằm ngoài biên giới Việt Nam bao gồm Trung Quốc và Lào. Phần diện tích lưu vực này nằm ở phía thượng nguồn, có ý nghĩa rất lớn trong việc phân phối dòng chảy về phía hạ lưu (Việt Nam). Trong đó, Trung Quốc với hệ thống đập lớn trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thống sông của Việt Nam. Trên phía thượng nguồn sông Hồng, Trung Quốc đang được coi là “nắm giữ” một trữ lượng nước tích chứa không nhỏ. Với các số lượng thủy điện, đập và hồ chứa của mình, ước chừng Trung Quốc đang tích chứa khoảng 49% tổng số lượng nước sông Hồng. Ngoài 2 nhà máy thủy điện lớn có tên là Namsa và Mađusan thì họ còn có 20 đập chứa lớn nhỏ khác nhau. Ngay trong năm 2017, việc các đập của Trung Quốc xả lũ đã gây ra những thiệt hại lớn đối với các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. 

Nghiêm trọng hơn là vấn đề các thủy điện của Trung Quốc tích nước, chuyển nước gây thiếu hụt nghiêm trọng đến lượng nước chảy vào Việt Nam, khiến ta luôn ở trong thế bị động về nguồn nước sông Hồng - Thái Bình. 

Hiện nay giữa  Việt Nam và Trung Quốc mới chỉ trao đổi thông tin quan trắc, thủy văn giữa các trạm thủy văn khu vực biên giới trên lưu vực sông Hồng và sông Kỳ Cùng. Còn cái cần hơn nữa là quy chế phối hợp về cung cấp thông tin xả lũ thì chưa có. Muốn đạt được quy chế phối hợp xả lũ trên sông Hồng thì phải làm việc ở cấp quốc gia. Đây cũng là một trong những khó khăn khi lập quy hoạch. Các chuyên gia đầu ngành về tài nguyên nước nhận định, muốn quy hoạch tốt lưu vực sông Hồng – Thái Bình thì phải đánh giá được tổng thể nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình, xác định được lượng nước có thể phân bổ tại các vị trí, mùa, nguồn khác nhau và cần xem xét đến yếu tố biến đổi khí hậu. đây là thách thức rất lớn vì lưu vực sông Hồng - Thái Bình có gần một nửa nằm ở phía lãnh thổ Trung Quốc nhưng nước này - “người hàng xóm khó chịu” - lâu nay vẫn không hợp tác. 

Theo các chuyên gia, chúng ta phải xác định rõ rằng, rất khó lấy được các số liệu, tài liệu về nguồn nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình phần thượng lưu ở lãnh thổ Trung Quốc do nhiều năm nay họ không chịu hợp tác. Ngoài con đường đề nghị chính thức, chúng ta từng thông qua các tổ chức quốc tế nhờ lấy nhưng không được. Thông qua hợp tác giữa các tỉnh giáp biên giới nhưng không mấy hiệu quả. Người hàng xóm khó chịu vẫn tùy ý tích rồi xả nước khiến vùng hạ lưu sông ở Việt Nam luôn bị động, gánh chịu hậu quả. 

Các tầng chứa nước ở các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có đặc điểm như thế nào?

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, bao gồm 5 tỉnh, thành phố là Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định có diện tích tự nhiên 27.960 km2, chiếm 8,47% diện tích cả nước, với dân số tính đến năm 2018 là 6.717.215 người chiếm 7,03% dân số cả nước. Trong những năm qua, đi kèm theo sự phát triển kinh tế - xã hội là sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên. Dự án Điều tra, đánh giá, lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:50:000 cho các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung khi triển khai đã tổng hợp kết quả các dự án điều tra, đánh giá, tìm kiếm nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung như sau:

Đặc điểm các tầng chứa nước:

- Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Đệ tứ không phân chia (q):

Bao gồm các nguồn gốc hỗn hợp: sườn tàn tích, sông lũ tích, …phân bố trên bề mặt đá gốc trước Kainozoi, ven rìa phía tây các huyện Điện Bàn, Thăng Bình, thị xã Tam Kỳ, Bình Sơn, Sơn Tịnh và thành phố Quảng Ngãi, thượng nguồn các sông lớn, với diện tích lộ khoảng 590 km2. Thành phần thạch học chủ yếu là: cát, bột, dăm, sạn, laterit, với chiều dày thay đổi 2-28m. Loại hình hóa học chủ yếu là bicarbonat; nước thuộc loại siêu nhạt, độ tổng khoáng hoá biến động từ 0,05-0,2g/l. Nước trong tầng chứa nước này có chất lượng nước tốt, nhưng diện phân bố nhỏ, khả năng chứa nước nghèo nên chỉ cấp nước đơn lẻ hoặc quy mô nhỏ.

- Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen (qh):

Gồm các trầm tích của các nguồn gốc: biển, sông-biển-vũng vịnh, sông … có các tuổi Q23, Q22-3, Q21-2. Diện lộ khoảng 2.775 km2, phân bố dọc đồng bằng ven biển, bãi bồi sông trong vùng Dự án. Mức độ giàu nước và đặc điểm thuỷ hoá biến đổi khá phức tạp. Nhìn chung, tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen thuộc loại từ trung bình đến giàu, nhưng chiều dày không lớn, một số nơi bị nhiễm mặn, cho nên tầng chứa nước này có ý nghĩa cho cấp nước quy mô nhỏ.

- Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích pleistocen (qp):

Tại nên tầng chứa nước này bao gồm các trầm tích Pleistocen có nguồn gốc: Sông, biển, gió, sông - đầm lầy, biển - đầm lầy, phân bố rộng rãi ở đồng bằng các tỉnh trong vùng Dự án và bị trầm tích Holocen phủ, chúng thường lộ ra ở thềm bậc III lưu vực sông với tổng diện lộ 2.090 km2. Thành phần đất đá chứa nước chủ yếu các trầm tích hạt thô là cuội, sỏi, cát, xen kẹp các lớp trầm tích hạt mịn (sét, sét pha) Bề dày từ 15 - 20m. Loại hình hóa học của nước là Bicarbonat và Bicarbonat clorur, độ khoáng hóa từ 0,0 - 5,0 g/l. Một số nơi tầng chứa nước này bị nhiễm mặn.

Tóm lại, tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen có bề dày đáng kể, khả năng chứa nước tốt, có khả năng cung cấp nước quy mô vừa đến lớn. Đây là một trong những tầng chứa nước quan trọng của vùng nghiên cứu.

- Tầng chứa nước khe nứt trầm tích Neogen (n)

Nước vận động và tàng trữ trong trầm tích của hệ tầng Ái Nghĩa (Nan), phân bố ở trũng địa hào Hội An, chạy từ Đại Lộc ra biển với diện tích khoảng 700km2. Ở Đại Lộc, chúng lộ ra thành khối nhỏ với diện tích khoảng 7km2, phần còn lại bị các trầm tích trẻ hơn phủ lên trên. Phía trên, gồm: cát kết, cuội kết, sét kết, giàu vật chất hữu cơ, nhiều đoạn ngấm nước mền dẻo. Phía dưới: cuội kết, sạn kết, gắn kết yếu dễ vụn nát.Tầng có áp lực yếu, chiều dày thay đổi mạnh 20-400m, khu vực từ trung tâm trũng Hội An kéo ra biển nước bị nhiễm mặn, nên khả năng cấp nước rất hạn chế vì phần lớn diện phân bố bị nhiễm mặn.

- Tầng chứa nước khe nứt trầm tích phun trào Bazan hệ tầng Đại Nga (βđn):

Phân bố rải rác khắp nơi trong vùng, với thành phần thạch học: đá bazan lỗ hổng hay đặc xit, phần trên bị phong hoá mạnh tạo thành lớp vỏ phong hoá dày 2-5m gồm sét, bột laterit và bazan phong hoá dở dang. Nước trong đá bazan là nước nhạt (M = 0,26-0,32g/l); loại hình hoá học chủ yếu là Clorua bicarbonat natri. Nước đủ tiêu chuẩn cho ăn uống và sinh hoạt.

- Tầng chứa nước hệ Jura (j): Tầng chứa nước này gồm hệ tầng Bàn Cờ (J1bc), Khe Rèn (J1kr) và Hữu Chánh (J2hc), phân bố rộng ở trũng An Điền, lộ ra ở Thọ Lâm, bắc Bến Giằng và một vài nơi khác. Diện lộ khoảng 230km2. Thành phần thạch học: cuội sạn kết, cát kết, sét kết, sét vôi và các thấu kính than. Nước có chất lượng nước tốt, thuộc loại siêu nhạt.

- Tầng chứa nước hệ Triast trung thượng (t) : gồm các hệ tầng Nông Sơn (T3n-rns), Sông Bung (T1-2sb), Thành phần đất đá gồm các trầm tích lục nguyên: sạn kết, cát bột kết … xen kẹp các lớp phun trào riolit, riolit đaxit. Phân bố ở vùng trũng An Điềm và vài nơi trong vùng.

- Tầng chứa nước hệ tầng Ngũ Hành Sơn (c-p): Bao gồm các trầm tích lục nguyên carbonat của hệ tầng Ngũ Hành Sơn (C-Pnhs), phân bố ở Quảng Nam-Đà Nẵng thành 3 dải, phần lớn bị phủ bởi trầm tích Kainozoi. Thành phần thạch học: chủ yếu là đá hoa xen kẹp đá phiến dạng quăczit, mức độ nứt nẻ mạnh, tạo các hang hốc karst. Nước thuộc loại siêu nhạt đến rất mặn.. Trong diện tích nước nhạt có thể điều tra cấp nước ở quy mô vừa đến lớn.

- Tầng chứa nước hệ tầng Devon (D1): thuộc hệ tầng Tân Lâm (D1tl), phân bố ở phía bắc tỉnh với thành phần thạch học gồm: cuội kết, cát kết, cát sạn kết … xen kẹp tập đá phiến sét, cát kết dạng quăczit, chiều dày của tầng khoảng 700m.

- Tầng chứa nước hệ tầng A Vương (e-o): thành phần hoá học chủ yếu là Clorua-Bicacbonat Natri và Bicacbonat Calci, với M từ 0,1 - 1,99g/l. Trong đó khu vực nhiễm mặn nằm ở phía Đông từ lỗ khoan 711 (Điện Bàn) kéo dài về phía Ngũ Hành Sơn.

- Tầng chứa nước khe nứt trong đá biến chất (pp)

Thành tạo nên tầng chứa nước này là các đá biến chất Hệ tầng Sơn Kỳ, Ba Điền, Tiên An, Sơn Thành, Nước Lay, phân bố chủ yếu ở phía tây nam tỉnh Quảng Nam và tây bắc tỉnh Quảng Ngãi. Thành phần chủ yếu là đá phiến thạch anh biotit, amphibol, phiến thạch anh - plagioclas, với chiều dày chung của hệ tầng khoảng 1.000m và lớn hơn. Trong tầng chứa nước này, đá có cấu tạo rắn chắc, ít nứt nẻ, khả năng chứa nước kém. Vì vậy tầng chứa nước này có thể khai thác để cung cấp nước nhỏ lẻ.

Các hoạt động chủ yếu của dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt các xã biên giới Việt – Lào từ Hà Tĩnh đến Kon Tum (Tỷ lệ 1/100.000) là gì?

Trả lời:

Biên giới Việt - Lào (đoạn từ Hà Tĩnh đến Kon Tum) có chiều dài là 954 km. Đây là vùng có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng của cả 2 quốc gia Việt nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Những đặc điểm tự nhiên về tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên nước có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội của 2 nước Việt Nam và Lào nói chung và của các huyện biên giới Việt – Lào nói riêng.

Nhận thức được tầm quan trọng trong quản lý nguồn nước xuyên biên giới, Bộ Tài nguyên và môi trường với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện công tác quản lý tài nguyên nước đang nỗ lực tập trung vào các nhiệm vụ cơ bản trong đó có điều tra đánh giá nguồn nước xuyên biên giới. Điều đó thể hiện trong quyết định số 2438/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường về việc phê duyệt danh mục dự án, nhiệm vụ chuyên môn mở mới năm 2017. Theo đó, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã lập dự án Điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt các xã biên giới Việt – Lào từ Hà Tĩnh đến Kon Tum (Tỷ lệ 1/100.000).

Dự án có các hoạt động chủ yếu sau:

1. Điều tra thực địa

- Điều tra, thu thập, cập nhật thông tin, dữ liệu về đặc điểm, tình hình tài nguyên nước mặt tại các cơ quan ở địa phương vùng dự án;

- Điều tra theo lộ trình đã xác định;

- Đo đạc dòng chảy;

- Lấy và bảo quản mẫu nước phân tích trong phòng thí nghiệm;

- Chỉnh lý số liệu điều tra thực địa, bảo dưỡng thiết bị máy móc hàng ngày;

- Điều tra, thu thập thông tin bổ sung.

2. Thu thập tài liệu và xử lý, tổng hợp thông tin

- Thu thập, rà soát thông tin, dữ liệu trước khi thực địa và triển khai công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt;

- Tổng hợp, chỉnh lý, xử lý thông tin, dữ liệu thu thập sau quá trình điều tra thực địa và kết quả điều tra thực địa theo các nội dung đánh giá;

- Ứng dụng công cụ mô hình toán.

3. Phân tích, đánh giá hiện trạng, diễn biến tài nguyên nước mặt

- Phân tích, đánh giá các đặc trưng hình thái sông, lưu vực sông, đặc điểm hồ chứa, ao hồ tự nhiên thuộc đối tượng điều tra;

- Phân tích, đánh giá đặc điểm, diễn biến của tài nguyên nước mưa theo lưu vực sông, đơn vị hành chính và vùng dự án;

- Phân tích, đánh giá đặc điểm, diễn biến số lượng tài nguyên nước mặt theo lưu vực sông, đơn vị hành chính và vùng dự án;

- Phân tích, đánh giá chất lượng nước mặt theo lưu vực sông, đơn vị hành chính và vùng dự án;

- Đánh giá khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt phục vụ cho các mục đích;

- Xác định các vấn đề nổi cộm liên quan đến tài nguyên nước mặt;

4. Chuẩn bị nội dung thông tin và biên tập các bản đồ tỉ lệ 1:100.000

- Bản đồ tài liệu thực tế tài nguyên nước mặt;

- Bản đồ tài nguyên nước mặt;

- Bản đồ hiện trạng chất lượng nước mặt.

Dự án được thực hiện sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho các ngành khai thác, sử dụng nguồn nước mặt đặc biệt là góp phần giải quyết nguồn nước cho các hộ dân nghèo nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế và giữ vững an ninh, quốc phòng vùng biên giới Việt - Lào. 

Những thuận lợi, khó khăn, thách thức gặp phải khi thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000 vùng Bắc Sông Tiền”là gì?

Trả lời:

Dự án được thực hiện trên phần diện tích của các tỉnh, thành: Tiền Giang, Đồng Tháp, Long An và Tp. Hồ Chí Minh. Quá trình thực hiện, dự án sẽ đối mặt với các vấn đề sau:

Những thuận lợi

- Vùng có điều kiện ĐCTV rất phức tạp, nhiều nơi thông tin về tài nguyên nước dưới đất không có hoặc độ tin cậy không cao.

- Điều kiện tự nhiên và mức độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, địa hình phân cắt mạnh nên điều kiện thi công sẽ khó khăn cho một số nơi.

- Đây là vùng có tốc độ công nghiệp và đô thị hoá rất cao nên nhu cầu khai thác sử dụng nước nói chung và NDĐ nói riêng ngày càng cao.

Những khó khăn

- Toàn vùng có một số khu vực đã được đầu tư một số đề án và dự án về địa chất và ĐCTV do Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thực hiện.

- Một số nơi đã sử dụng vốn địa phương để đầu tư một số đề tài dự án nghiên cứu về địa chất, ĐCTV và tài nguyên nước.

- Các chương trình và dự án về cấp nước nông thôn bao trùm lên nhiều nơi trong vùng sẽ là những thông tin cần thiết cho dự án.

- Hoạt động khai thác NDĐ trong vùng phát triển nhiều nơi cũng là nguồn tài liệu chuyên môn cần quan tâm.

- Tài nguyên NDĐ trong vùng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội nên được các cấp thẩm quyền quan tâm.

- Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho nông thôn là một trong những chủ trương lớn của Nhà nước không chỉ trong vùng nghiên cứu mà còn bao trùm lên cả nước (Chương trình nước sạch và vệ sinh môi nông thôn của Chính phủ).

- Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam có đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm về vùng nghiên cứu và một số thiết bị nghiên cứu hiện đại hỗ trợ.

- Bên cạnh đó, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước còn có quan hệ với các tổ chức nước ngoài quan tâm về tài nguyên NDĐ đó sẽ là thuận lợi đáng kể trong quá trình thực hiện dự án.

Những thách thức

- Dự án được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và bảo vệ bền vững nguồn nước dưới đất vùng Bắc sông Tiền, do đó đòi hỏi kết quả thực hiện dự án phải có tính thuyết phục cao về chuyên môn và ứng dụng hiệu quả trong thực tế (công tác quản lý tài nguyên NDĐ), đặc biệt là phải dàn trải trong toàn vùng nghiên cứu.

- Trong điều kiện hạn chế về kinh phí nhưng lại phải đầu tư nghiên cứu nhằm giải quyết nhiều vấn đề sẽ là khó khăn thực sự cho đơn vị thực hiện. Do đó, cần thiết phải các nội dung và phương pháp nghiên cứu, phải được chọn lựa dựa theo nguyên tắc hiệu quả và giá thành đầu tư.

- Trong vùng nghiên cứu đã có một số đề tài, dự án đã và đang thực hiện của các đơn vị và tổ chức khác nhau, do đó cần phải thiết lập các mối quan hệ trao đổi thông tin lẫn nhau để cùng đạt hiệu quả cao nhất và giảm thiểu kinh phí thực hiện cho đôi bên.

Những thuận lợi, khó khăn gặp phải khi thực hiện Dự án “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao,vùng khan hiếm nước”tỉnh Lạng Sơn là gì?

Trả lời:

Khó Khăn

Qua thực tế thi công điều tra, đánh giá tài nguyên nước tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước chúng tôi rút ra một số vấn đề cần giải quyết cho các vùng thi công giai đoạn tiếp theo như sau:

- Tỉnh Lạng Sơn là tỉnh thuộc vùng núi cao nên giao thông đi lại khó khăn;

- Một số vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, có rất nhiều hang karst dạng hang treo, hang bùn không chứa nước.

- Nguồn vốn ngân sách cấp không đáp ứng tiến độ thi công theo Quyết định phê duyệt dự án nên tiến độ còn chậm.

Thuận lợi

+ Dự án được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Trung Tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia trong quá tình triển khai thực hiện dự án.

+ Chủ nhiệm hợp phần dự án theo sát và nắm chắc mục tiêu nhiệm vụ dự án. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra các đơn vị thi công ngoài thực địa cũng như công tác văn phòng, đề xuất việc thi công, ngừng thi công một cách hợp lý.

+ Lãnh đạo Trung tâm, các phòng ban chuyên môn của Trung tâm luôn theo dõi, chỉ đạo sát sao trong quá trình thi công, quyết định điều chỉnh khối lượng các dạng công tác phù hợp với điều kiện của vùng nghiên cứu, đảm bảo mục đích nghiên cứu dự án và chất lượng sản phẩm.

+ Lực lượng cán bộ kỹ thuật, công nhân trực tiếp thực hiện dự án có trình độ chuyên môn tốt, có nhiều kinh nghiệm trong thi công; máy móc thiết bị được chuẩn bị tốt.